Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Hương Lan với đề tài "Đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông" thuộc chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn – Tiếng Việt (mã số: 9 14 01 11), được hoàn thành tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Vân và PGS.TS Hoàng Hòa Bình.

Văn bản luận án xuất phát từ bối cảnh đổi mới giáo dục theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013, Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011-2020, Điều 29 Luật Giáo dục 2019 và Chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) 2018. Trong tiến trình chuyển đổi từ mô hình tiếp cận nội dung (CTGDPT 2006) sang mô hình phát triển phẩm chất và năng lực người học, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo được xác định là một trong những năng lực cốt lõi. Môn Ngữ văn là môn học công cụ và mang tính nhân văn, đảm nhận việc phát triển các năng lực đặc thù cùng các năng lực chung, trong đó có năng lực sáng tạo (NLST). Trong CTGDPT 2006, việc dạy học và đánh giá tạo lập văn bản nghị luận (VBNL) chủ yếu yêu cầu học sinh tái hiện kiến thức hoặc phân tích các tác phẩm, nhân vật quen thuộc, gây hạn chế khả năng tư duy độc lập và sáng tạo. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: các công trình về NLST trong tạo lập văn bản ở trường phổ thông còn thưa thớt, chủ yếu ở cấp Tiểu học qua các bài viết nhỏ lẻ; chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá NLST trong môn Ngữ văn và kỹ năng tạo lập VBNL của học sinh cấp trung học phổ thông (THPT).

Mục đích nghiên cứu của luận án là: Dựa trên những nghiên cứu lý luận và thực tiễn về NLST trong tạo lập VBNL, đánh giá NLST của học sinh THPT trong tạo lập VBNL, tiến hành xây dựng chuẩn đánh giá và thiết kế công cụ đánh giá là câu hỏi mở nhằm đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của học sinh THPT, góp phần thực hiện đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của học sinh THPT.
  2. Xác định các định hướng và căn cứ để xây dựng chuẩn đánh giá và công cụ đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của học sinh THPT.
  3. Xây dựng chuẩn đánh giá và công cụ đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của học sinh THPT.
  4. Triển khai thực nghiệm sư phạm nhằm bước đầu khẳng định tính khả thi, độ tin cậy của chuẩn đánh giá và công cụ đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của học sinh THPT mà luận án đề xuất.

Giả thuyết khoa học của đề tài được phát biểu như sau: Tạo lập văn bản nghị luận trong nhà trường phổ thông là quá trình người học thể hiện ý kiến, quan điểm của cá nhân về một vấn đề trong đời sống hoặc trong tác phẩm văn học. Quá trình này thể hiện rõ nét dấu ấn sáng tạo của mỗi cá nhân. Do vậy, nếu xây dựng được chuẩn đánh giá và sử dụng tốt công cụ đánh giá là hệ thống câu hỏi mở thì sẽ khuyến khích và tạo cơ hội giúp học sinh thể hiện được NLST trong quá trình tạo lập VBNL, đồng thời thực hiện được vai trò và chức năng của hoạt động đánh giá năng lực của học sinh, trong đó có NLST.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của học sinh THPT. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở việc xây dựng công cụ câu hỏi mở để đánh giá NLST trong viết bài văn nghị luận của học sinh THPT đáp ứng CTGDPT 2018 môn Ngữ văn. Địa bàn và đối tượng thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại khối lớp 10 và 11 (không tiến hành ở khối 12 do đặc điểm tâm lý học sinh lớp 12 tập trung chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan, tác giả điểm lại hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm vấn đề:

Về sáng tạo, tư duy sáng tạo và năng lực sáng tạo:

  • Các nghiên cứu quốc tế: E. Paul Torrance (1965, 1974) quan niệm sáng tạo là quá trình xác định giả thuyết, nghiên cứu và tìm ra kết quả, đo lường qua 4 chỉ số: nhanh nhạy (fluency), linh hoạt (flexibility), tỉ mỉ (elaboration), độc đáo (originality); L.S. Vygotsky [Vưgotxki] trong tác phẩm về trí tưởng tượng sáng tạo khẳng định sáng tạo là thuộc tính phổ quát, trong đó sáng tạo ngôn từ là tiêu biểu ở lứa tuổi học sinh; J.P. Guilford (1950, 1967) phân định trí tuệ thành tư duy hội tụ (convergent thinking) và tư duy phân kỳ (divergent thinking), xác định sáng tạo gắn liền với tư duy phân kỳ; các nhà tâm lý học Liên Xô như A.N. Luk, V.N. Pushkin, M.G. Yaroshevsky, N.A. Menchinskaya nghiên cứu về cơ chế tâm lý và tư duy sáng tạo; các tác giả Penick J.E, Reid J., M. Wing, Yamamoto Kaoru nghiên cứu phát triển sáng tạo trong môi trường học đường; William Benn, Gorny E (2007), Plucker, Beghetto và Dow (2004) nghiên cứu về khái niệm và cấu trúc của sáng tạo.
  • Các nghiên cứu tại Việt Nam: Hoàng Chúng, Trần Kiều, Lê Hải Yến, Nguyễn Huy Tú, Đức Uy, Trần Tuấn Lộ, Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thụy, Nguyễn Kế Hào, Vũ Quốc Chung, Trần Hiệp, Đỗ Long, Tôn Thân, Trần Luận, Dương Xuân Bảo nghiên cứu về phương pháp sáng tạo và rèn luyện tư duy; Nguyễn Công Khanh (khung 8 năng lực cốt lõi của học sinh THPT, trong đó NLST gồm tư duy phân kỳ, tưởng tượng, liên tưởng tự do, cấu trúc lại khái niệm); Huỳnh Văn Sơn (2009), Trần Việt Dũng, Trần Thị Bích Liễu, Phạm Thị Bích Đào, Nguyễn Thị Thanh Nga nghiên cứu về các biểu hiện của NLST học sinh.

Về đánh giá năng lực và đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản:

  • Các công trình quốc tế: Tổ chức OECD trong khuôn khổ PISA 2021 xây dựng mô hình đánh giá tư duy sáng tạo gồm 3 khía cạnh: tạo ra nhiều ý tưởng khác nhau (generate diverse ideas), tạo ra ý tưởng sáng tạo (generate creative ideas), đánh giá và cải tiến ý tưởng (evaluate and improve ideas) qua 4 lĩnh vực: viết (written expression), trực quan (visual expression), giải quyết vấn đề xã hội (social problem solving) và giải quyết vấn đề khoa học (scientific problem solving); Melanie Williams (Anh) đề xuất khung rubric đánh giá NLST trong tạo lập văn bản gồm 6 tiêu chí (kết nối chủ đề, cấu trúc, đoạn văn, kế hoạch/dự thảo/chỉnh sửa, từ vựng, chính tả/dấu câu/ngữ pháp); các công trình của Susan Wright, Katie Larsen MacClarty và Matthew N. Gaertner, Walvoord, Đại học Queen Mary về nguyên tắc đánh giá năng lực và thiết kế thang đo rubric.
  • Các nghiên cứu về câu hỏi mở: Janets E. Sansoni (2011), Krosnick và Stanley Presser, Toyin Tofade phân tích kỹ thuật biên soạn, ưu điểm và hạn chế của câu hỏi mở so với câu hỏi đóng trong đánh giá tư duy bậc cao.
  • Các nghiên cứu trong môn Ngữ văn tại Việt Nam: Bùi Thị Kim Trúc nghiên cứu tư duy sáng tạo của học sinh lớp 4 qua phân môn Tập làm văn; Hoàng Hòa Bình nghiên cứu sự sáng tạo trong cảm thụ văn chương; Nguyễn Thị Hồng Vân nghiên cứu cấu trúc, biểu hiện và đường phát triển NLST của học sinh trong môn Ngữ văn; Nguyễn Thị Hạnh và Trần Thị Hiền Lương nghiên cứu đánh giá năng lực viết và câu hỏi mở ở cấp Tiểu học; Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Quốc Siêu nghiên cứu về đặc trưng thể loại văn bản nghị luận.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây tiếp cận tư duy sáng tạo dưới góc độ tâm lý học đại cương hoặc phân tích lồng ghép trong các mạch kiến thức riêng lẻ, chưa có công trình nào thiết lập hoàn chỉnh mối quan hệ giữa công cụ câu hỏi mở/đề mở với mục tiêu đánh giá NLST trong tạo lập văn bản nghị luận, từ đó đề xuất hệ thống chuẩn đánh giá và tiêu chí định lượng, định tính phù hợp với chương trình môn Ngữ văn cấp THPT.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án tiếp cận khái niệm năng lực theo CTGDPT tổng thể 2018: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định trong điều kiện cụ thể.

Về cấu trúc năng lực sáng tạo trong tạo lập VBNL của học sinh THPT, tác giả xác lập mô hình gồm 3 thành tố chính, được cụ thể hóa thành 5 tiêu chí và 12 chỉ số:

Thành tố cấu trúc Tiêu chí Chỉ số đánh giá
1. Đề xuất ý tưởng Tiêu chí 1: Phát hiện ý tưởng, hướng đi riêng cho vấn đề nghị luận (1) Đề xuất được ý tưởng (đúng – trúng)
(2) Phát triển ý tưởng được đề xuất
(3) Kết nối bổ sung thêm ý tưởng
2. Thực hiện giải pháp Tiêu chí 2: Sự nhuần nhuyễn, linh hoạt về mạch ý (4) Đề xuất được các giải pháp triển khai ý tưởng (hệ thống ý, lý lẽ)
(5) Đưa được dẫn chứng mới, tạo bất ngờ, thú vị
(6) Kết nối lý lẽ và dẫn chứng nhuần nhuyễn, tạo bước đi mạch lạc, linh hoạt cho bài viết
Tiêu chí 3: Góc nhìn riêng, đa chiều (7) Tiếp cận vấn đề từ nhiều góc nhìn
(8) Có tư duy phản biện, đối sánh, lật đi lật lại vấn đề
3. Trình bày sản phẩm Tiêu chí 4: Diễn đạt linh hoạt, có ấn tượng (9) Sử dụng được các từ, câu, đoạn hay, có tính thẩm mỹ cao
(10) Giọng văn lôi cuốn, hấp dẫn người đọc
Tiêu chí 5: Trình bày hấp dẫn (11) Sử dụng hình thức trình bày độc đáo để làm nổi bật nội dung (viết thư, làm thơ, kịch...)
(12) Kết hợp một số hình thức biểu đạt (văn bản đa phương thức: kênh chữ, kênh hình)

Mức độ biểu hiện của NLST trong tạo lập VBNL được phân chia thành 5 mức độ (từ mức độ 1 đến mức độ 5 - mức cao nhất là "Lan tỏa và truyền cảm hứng sáng tạo").

Phương pháp nghiên cứu

Luận án phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về NLST, văn bản nghị luận, đánh giá năng lực và kỹ thuật thiết kế câu hỏi mở.
  2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra, khảo sát: Sử dụng phiếu hỏi, bảng hỏi và phỏng vấn nhằm thu thập dữ liệu thực trạng nhận thức, hành vi và các công cụ đánh giá NLST từ giáo viên Ngữ văn và học sinh THPT tại các vùng miền.
    • Phương pháp phân tích dữ liệu: Dữ liệu định lượng từ phiếu khảo sát và điểm số thực nghiệm được xử lý bằng phần mềm thống kê toán học SPSS; dữ liệu định tính được xử lý thông qua phân tích văn bản bài làm thực nghiệm của học sinh.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế bài kiểm tra thử nghiệm, tổ chức kiểm tra đánh giá theo 3 giai đoạn (đầu vào, thường xuyên, đầu ra) tại các trường THPT đại diện, đối chiếu kết quả giữa điểm đầu vào và đầu ra.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm:

  • Các văn bản quy phạm và chương trình giáo dục: Nghị quyết 29-NQ/TW, Luật Giáo dục 2019, CTGDPT tổng thể 2018, CTGDPT môn Ngữ văn 2006 và 2018.
  • Khung đánh giá PISA 2021 của OECD và hệ thống tiêu chí đánh giá của các quốc gia (Anh, Úc...).
  • Dữ liệu khảo sát thực trạng từ đội ngũ giáo viên Ngữ văn và học sinh THPT.
  • Dữ liệu định lượng và bài làm định tính của học sinh khối 10 và 11 tham gia quá trình thực nghiệm sư phạm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở khoa học của việc đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông

Chương 1 tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài thông qua các nội dung chính:

  • Hệ thống hóa các quan niệm lý thuyết về sáng tạo, tư duy sáng tạo, năng lực và năng lực sáng tạo từ các nhà tâm lý học và giáo dục học trong nước và quốc tế.
  • Xác định bản chất thể loại của văn bản nghị luận trong nhà trường phổ thông (gồm nghị luận xã hội và nghị luận văn học), phân tích mối liên hệ giữa tạo lập VBNL và các biểu hiện của NLST.
  • Thiết lập khung cấu trúc NLST trong tạo lập VBNL gồm 3 thành tố, 5 tiêu chí và 12 chỉ số biểu hiện, cùng thang mô tả 5 mức độ biểu hiện NLST.
  • Phân tích cơ sở thực tiễn thông qua kết quả điều tra khảo sát giáo viên và học sinh:
    • Khảo sát thực trạng nhận thức của giáo viên Ngữ văn THPT về NLST, các biểu hiện của đánh giá năng lực, việc sử dụng đề mở và công cụ đánh giá NLST, các thuận lợi và khó khăn khi triển khai đánh giá NLST.
    • Khảo sát thực trạng học sinh THPT: mức độ tự đặt câu hỏi trong quy trình tìm hiểu đề, mức độ đưa ra ý tưởng mới trước các đề bài làm văn, và mức độ nhận được sự động viên, khuyến khích từ giáo viên khi đề xuất cách giải quyết mới.
  • Phân tích thực trạng đề kiểm tra/đề thi môn Ngữ văn cấp THPT tại Việt Nam (theo định hướng CT 2006 và yêu cầu đổi mới của CT 2018) và khảo sát đề thi môn Ngữ văn/môn học tương đương tại một số quốc gia và tổ chức quốc tế (PISA 2021, Anh, Úc).

Chương 2. Xây dựng chuẩn đánh giá và công cụ đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh trung học phổ thông

Chương 2 trình bày các giải pháp khoa học mang tính cốt lõi của luận án:

  • Xác định 4 định hướng và căn cứ xây dựng chuẩn đánh giá: (1) Đảm bảo phù hợp với thực tiễn dạy tạo lập văn bản viết ở trường THPT; (2) Đảm bảo tính vừa sức và tạo sức trong dạy học đối với học sinh THPT; (3) Chú trọng tới từng thành tố của NLST trong tạo lập VBNL; (4) Chú trọng tới tiến trình viết văn bản nghị luận để khuyến khích học sinh tạo ra sản phẩm sáng tạo.
  • Xây dựng hệ thống chuẩn đánh giá NLST trong tạo lập VBNL:
    • Chuẩn đánh giá chung NLST trong tạo lập VBNL của học sinh THPT (Bảng 2.1).
    • Chuẩn đánh giá NLST trong tạo lập VBNL xã hội (Bảng 2.2).
    • Chuẩn đánh giá NLST trong tạo lập VBNL văn học (Bảng 2.3).
    • Xây dựng bảng Rubric định tính và định lượng hướng dẫn đánh giá NLST trong tạo lập VBNL.
  • Thiết kế hệ thống câu hỏi mở phục vụ kiểm tra đánh giá:
    • Thiết kế câu hỏi mở trong đánh giá thường xuyên: Xây dựng câu hỏi mở đánh giá năng lực đề xuất ý tưởng; câu hỏi đánh giá năng lực thực hiện giải pháp (tổ chức nội dung bài văn); câu hỏi đánh giá năng lực trình bày sản phẩm.
    • Thiết kế đề mở trong đánh giá định kỳ: Xác lập quy trình thiết kế đề mở định kỳ và biên soạn hệ thống đề kiểm tra định kỳ mẫu nhằm đánh giá NLST của học sinh THPT.

Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 tiến hành thử nghiệm các giải pháp đề xuất để kiểm chứng tính khả thi và độ tin cậy của chuẩn và công cụ đánh giá:

  • Mục đích và địa bàn: Tiến hành thực nghiệm trên học sinh khối 10 và 11 tại các trường THPT được lựa chọn đảm bảo tính đại diện.
  • Quy trình thực nghiệm: Triển khai qua 3 giai đoạn:
    1. Trao đổi với giáo viên trước thực nghiệm và tổ chức kiểm tra đánh giá năng lực đầu vào.
    2. Tổ chức kiểm tra đánh giá thường xuyên trong quá trình học tập thông qua hệ thống câu hỏi mở.
    3. Tổ chức kiểm tra đánh giá năng lực đầu ra (định kỳ) bằng đề mở.
  • Phân tích và xử lý kết quả:
    • Đánh giá định lượng (xử lý bằng SPSS): Phân tích kết quả điểm số đầu vào (Bảng 3.1) và điểm số đầu ra (Bảng 3.2); phân tích biểu đồ chênh lệch điểm số tổng thể và sự tiến bộ rõ rệt ở từng chỉ số, tiêu chí cụ thể như: Chỉ số 5 (đưa dẫn chứng mới, tạo bất ngờ thú vị), Chỉ số 9 (sử dụng từ ngữ, câu văn thẩm mỹ), Chỉ số 11 (hình thức trình bày độc đáo), Tiêu chí 2 (sự nhuần nhuyễn, linh hoạt về mạch ý) và Tiêu chí 5 (trình bày hấp dẫn).
    • Đánh giá định tính: Phân tích các sản phẩm bài viết thực tế của học sinh. Kết quả cho thấy học sinh thể hiện sự sáng tạo qua nhiều phương thức trình bày đa dạng: bài viết về nhân vật Chí Phèo, bài làm dưới hình thức nhật ký, hình thức phỏng vấn, bài viết văn xuôi kết hợp kênh hình (đa phương thức), và bài viết trình bày dưới hình thức thơ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về sáng tạo, tư duy sáng tạo, năng lực sáng tạo và đánh giá năng lực sáng tạo trong môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực của CTGDPT 2018.
  • Xây dựng quan niệm khoa học về NLST trong tạo lập VBNL của học sinh THPT; xác lập cấu trúc NLST gồm 3 thành tố (Đề xuất ý tưởng, Thực hiện giải pháp, Trình bày sản phẩm) được cụ thể hóa bằng khung 5 tiêu chí và 12 chỉ số biểu hiện cùng bảng mô tả 5 mức độ biểu hiện.
  • Bổ sung cơ sở lý luận về việc sử dụng câu hỏi mở và thang đo rubric như một công cụ đánh giá năng lực đặc thù trong dạy học tạo lập văn bản.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đề xuất hệ thống chuẩn đánh giá NLST trong tạo lập VBNL của học sinh THPT bao gồm chuẩn chung, chuẩn cho dạng bài nghị luận xã hội và chuẩn cho dạng bài nghị luận văn học.
  • Xây dựng quy trình và bộ công cụ câu hỏi mở/đề mở phục vụ kiểm tra đánh giá thường xuyên và kiểm tra đánh giá định kỳ môn Ngữ văn cấp THPT.
  • Cung cấp các bộ rubric định tính và định lượng hướng dẫn chấm bài, hỗ trợ giáo viên Ngữ văn THPT đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực người học.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đổi mới phương pháp dạy học tạo lập văn bản theo tiến trình viết (chuẩn bị, tìm ý, lập dàn ý, viết bài, chỉnh sửa hoàn thiện).
  • Tăng cường sử dụng các dạng câu hỏi mở và đề mở trong các bài kiểm tra thường xuyên và định kỳ nhằm tạo không gian cho học sinh thể hiện chính kiến, quan điểm cá nhân và tư duy phản biện.
  • Khuyến khích học sinh vận dụng đa dạng các phương thức biểu đạt (kết hợp kênh chữ, kênh hình, hình thức thể loại linh hoạt) khi tạo lập văn bản nghị luận.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu tập trung vào việc xây dựng công cụ câu hỏi mở để đánh giá NLST trong kỹ năng tạo lập văn bản nghị luận (nghị luận xã hội và nghị luận văn học) của học sinh cấp THPT. Nghiên cứu chưa mở rộng sang các kiểu văn bản khác trong chương trình môn Ngữ văn như văn bản tự sự, văn bản thuyết minh hoặc văn bản nhật dụng. Về mặt khách thể thực nghiệm, nghiên cứu chỉ tiến hành thực nghiệm trên học sinh khối lớp 10 và khối lớp 11, chưa tiến hành thực nghiệm trên học sinh khối lớp 12 do đặc thù học sinh lớp 12 tập trung chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là:

  • Mở rộng việc xây dựng chuẩn và công cụ đánh giá NLST sang các kiểu loại văn bản khác trong môn Ngữ văn.
  • Nghiên cứu ứng dụng chuẩn và công cụ đánh giá NLST cho các cấp học khác (Trung học cơ sở và Tiểu học).
  • Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện ngân hàng câu hỏi mở và đề mở trong kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn theo CTGDPT 2018.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn – Tiếng Việt, Khoa học giáo dục và Đo lường đánh giá trong giáo dục.
  • Giáo viên Ngữ văn cấp THPT: Có thể tham khảo trực tiếp hệ thống chuẩn đánh giá (Bảng 2.1, 2.2, 2.3), các bảng rubric định tính/định lượng và quy trình thiết kế câu hỏi mở, đề mở để áp dụng vào kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ.
  • Cán bộ quản lý giáo dục, chuyên viên chỉ đạo bộ môn và các tác giả biên soạn tài liệu dạy học: Sử dụng khung tiêu chí và các chỉ số biểu hiện làm căn cứ xây dựng đề thi, ma trận kiểm tra và hướng dẫn chấm môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực của CTGDPT 2018.

Câu hỏi thường gặp

1. Cấu trúc năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh THPT được luận án xác định gồm những thành tố nào? Cấu trúc NLST trong tạo lập VBNL của học sinh THPT được cấu thành bởi 3 thành tố: (1) Đề xuất ý tưởng; (2) Thực hiện giải pháp; (3) Trình bày sản phẩm. Cấu trúc này được vận hành thông qua 5 tiêu chí và 12 chỉ số biểu hiện cụ thể.

2. Luận án xây dựng những tiêu chí và chỉ số nào để đánh giá NLST trong tạo lập VBNL? Hệ thống gồm 5 tiêu chí và 12 chỉ số:

  • Tiêu chí 1: Phát hiện ý tưởng, hướng đi riêng (Chỉ số 1: Đề xuất ý tưởng đúng – trúng; Chỉ số 2: Phát triển ý tưởng; Chỉ số 3: Kết nối bổ sung thêm ý tưởng).
  • Tiêu chí 2: Sự nhuần nhuyễn, linh hoạt về mạch ý (Chỉ số 4: Đề xuất giải pháp triển khai mạch ý; Chỉ số 5: Đưa dẫn chứng mới; Chỉ số 6: Kết nối lý lẽ và dẫn chứng).
  • Tiêu chí 3: Góc nhìn riêng, đa chiều (Chỉ số 7: Tiếp cận đa góc nhìn; Chỉ số 8: Có tư duy phản biện, đối sánh).
  • Tiêu chí 4: Diễn đạt linh hoạt, có ấn tượng (Chỉ số 9: Sử dụng từ, câu, đoạn thẩm mỹ; Chỉ số 10: Giọng văn lôi cuốn).
  • Tiêu chí 5: Trình bày hấp dẫn (Chỉ số 11: Hình thức trình bày độc đáo; Chỉ số 12: Kết hợp kênh chữ và kênh hình - đa phương thức).

3. Vì sao luận án không tiến hành thực nghiệm sư phạm đối với học sinh khối lớp 12? Trong chương trình THPT, tạo lập VBNL được dạy ở cả ba khối lớp 10, 11 và 12. Tuy nhiên, học sinh khối lớp 12 ngay từ đầu năm học phải tập trung chuẩn bị cho kỳ thi THPT Quốc gia theo định hướng ôn luyện chung, do đó để đảm bảo tính ổn định và khách quan sư phạm, tác giả giới hạn địa bàn thực nghiệm ở khối 10 và khối 11.

4. Kết quả thực nghiệm định tính đã ghi nhận những hình thức trình bày sản phẩm sáng tạo nào của học sinh? Quá trình phân tích bài làm thực nghiệm ghi nhận học sinh đã thể hiện năng lực sáng tạo qua nhiều hình thức phi truyền thống, bao gồm: bài nghị luận phân tích nhân vật Chí Phèo, bài làm viết dưới dạng nhật ký, bài làm dưới hình thức bài phỏng vấn, bài viết văn xuôi kết hợp hình ảnh minh họa (văn bản đa phương thức), và bài viết nghị luận được trình bày dưới hình thức thơ.

5. Luận án xây dựng những chuẩn đánh giá cụ thể nào cho các dạng bài nghị luận? Luận án xây dựng 3 bảng chuẩn đánh giá cụ thể tại Chương 2: Chuẩn đánh giá chung NLST trong tạo lập VBNL của học sinh THPT (Bảng 2.1); Chuẩn đánh giá NLST trong tạo lập VBNL xã hội (Bảng 2.2); và Chuẩn đánh giá NLST trong tạo lập VBNL văn học (Bảng 2.3), đi kèm hướng dẫn chấm theo rubric định tính và rubric định lượng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hương Lan đã giải quyết vấn đề đánh giá năng lực sáng tạo trong tạo lập văn bản nghị luận của học sinh THPT trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Tác giả đã xác lập khung năng lực gồm 3 thành tố, 5 tiêu chí và 12 chỉ số, đồng thời xây dựng hệ thống chuẩn đánh giá và bộ công cụ câu hỏi mở phục vụ kiểm tra đánh giá thường xuyên và định kỳ. Kết quả thực nghiệm sư phạm định lượng và định tính tại khối 10 và khối 11 đã xác nhận tính khả thi của hệ thống chuẩn và công cụ đề xuất, đóng góp tư liệu chuyên môn phục vụ đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018.