Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học các môn KHTN ở trường THCS. Thực trạng quản lí hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học các môn KHTN ở trường THCS huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Biện pháp quản lí hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học các môn KHTN ở trường THCS huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Thế giới Trong bất kỳ thời đại hay quốc gia nào, giáo dục luôn là lĩnh vực được xem trọng. Đầu thế kỷ XXI đến nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã tạo ra sự thay đổi vô cùng to lớn đối với ngành giáo dục trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu mới của thời đại.
Việc ứng dụng CNTT và truyền thông vào trong giáo dục có thể đem lại giá trị to lớn cho quá trình dạy học. Trên thế giới, tại các nước có nền giáo dục phát triển như: Anh, Singapo, Mỹ đã có rất nhiều chính sách đổi mới giáo dục được xây dựng trên nền tảng ứng dụng CNTT và QL ứng dụng CNTT một cách hiệu quả vào trong dạy học. - Ở Anh, Chương trình Microelectrics Education Program được thực hiện vào năm 1980. Mục đích của chương trình là làm thế nào để máy tính có thể sử dụng ở các trường học tại Anh.
- Ở Singapo, giáo dục của đất nước này là một trong những nền giáo dục được ứng dụng CNTT tiên tiến bậc nhất thế giới. Singapo đã tập trung thực hiện kế hoạch tích hợp công nghệ vào giáo dục từ năm 1997. - Ở Mỹ, việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã không còn xa lạ và được sự ủng hộ của xã hội. Chính phủ nước này cũng có rất nhiều chính sách trợ giúp và mang lại hiệu quả rất cao về chất lượng giáo dục.
Kế hoạch công nghệ giáo dục quốc gia 2010 (gọi tắt là NETP) kêu gọi chuyển đổi mang tính cách mạng. Nó thúc đẩy hệ thống giáo dục ở tất cả các cấp. Kế hoạch nhận ra rằng công nghệ là cốt lõi của hầu hết mọi khía cạnh trong cuộc sống hàng 8 ngày của chúng ta. Lubin đã nghiên cứu: “ICT-Supported Innovations in Smal Countries and Developing Regions” (Ian A.
Cuốn sách này nói về nhu cầu, hỗ trợ CNTT trong đổi mới giáo dục ở các nước nhỏ và khu vực đang phát triển. CNTT được sử dụng cho dạy và học ngoài nhà trường. Tác giả còn đưa ra các biện pháp giải quyết thách thức trong giáo dục về đổi mới trên nền tảng ứng dụng CNTT ở các nước đang phát triển. Trong nước Ở Việt Nam, việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng rất được quan tâm.
Những năm học gần đây, ngành giáo dục không ngừng đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học. Trong đó, các nhà giáo dục Việt Nam được khuyến khích ứng dụng CNTT một cách hợp lý trong các môn học góp phần giúp HS chủ động tiếp nhận kiến thức và hoàn thiện các kỹ năng. Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong giáo dục ở phạm vi khác nhau. Trong đó, luận án của TS.Nguyễn Thanh Giang đã đề cập đến nghiên cứu của Tô Xuân Giáp về hai xu hướng chính sử dụng CNTT trong Giáo dục và Đào tạo (Nguyễn Thanh Giang, 2014) đó là CNTT vừa là một nội dung học vừa là phương tiện dạy học.
CNTT trong giáo dục và đào tạo Việc ứng dụng CNTT trong dạy học và QL cũng được rất nhiều nhà 9 khoa học quan tâm và nghiên cứu. Nhiều hội thảo khoa học về QL ứng dụng CNTT trong giảng dạy ở các cấp học được tổ chức và khả năng ứng dụng vào giáo dục rất cao như: - Tháng 04/2018, Hà Nội tổ chức ngày hội CNTT ứng dụng trong dạy học. Những năm qua, nhà trường đều đẩy mạnh việc dạy học, QL có ứng dụng CNTT. Kho dữ liệu của Sở Giáo dục và Đào tạo, Các bài giảng E- learning đã được đăng tải hơn 40.
Các bài giảng này nhận được nhiều sự quan tâm bằng hàng chục nghìn lượt xem và tải về. đẩy mạnh ở Hà Nội những năm qua. Ảnh minh họa: Quỳnh Trang. - Hội thảo ứng dụng CNTT trong đổi mới công tác QL và dạy học được Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Trị tổ chức vào tháng 11/2018.
Các tham luận của đại biểu đều khẳng định rằng ứng dụng CNTT trong công tác QL và dạy học trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là một yêu cầu tất yếu. Đồng thời, chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân trong việc ứng dụng CNTT trong QL giáo dục và hoạt động giáo dục của các nhà trường hiện nay; những giải pháp, những kinh nghiệm khai thác sử dụng phần mềm QL và dạy học để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Nhu cầu QL ứng dụng CNTT tuy mới xuất hiện sau khi CNTT ứng dụng rộng rãi. QL ứng dụng CNTT thu hút được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu và có rất nhiều kết luận khoa học được rút ra có giá trị thực tiễn rất cao.
- “Quản lí ứng dụng CNTT ở trường trung học phổ thông vùng Đông Nam Bộ, Việt Nam” (Nguyễn Thanh Giang, 2014). Luận án đã nêu ra được thực trạng và biện pháp QL ứng dụng CNTT ở trường THPT. Luận án cũng cung cấp những kinh nghiệm trong QL ứng dụng CNTT rất có ích cho CBQL. - “Quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay” (Phạm Thị Lệ Hằng, 2018).
Trên cơ sở kế thừa, hệ thống hóa tài liệu, luận án đã làm sáng tỏ một số vấn đề: vai trò CNTT trong đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện 10 nay, tính tất yếu của việc ứng dụng CNTT trong dạy học, cũng như nội dung của việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở THCS. Các khái niệm cơ bản 1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học a. Công nghệ thông tin Công nghệ thông tin (Tiếng Anh: Information Technology hay là IT) là một nhánh kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm để lưu trữ, xử lý, truyền và thu thập thông tin.
Thuật ngữ xuất hiện khoảng những năm 70 của thế kỉ XX gắn liền với sự phát triển của máy vi tính. Luật công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ký vào ngày 29/06/2006: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” (Chủ tịch Quốc hội, 2006). Từ các khái niệm ở trên, CNTT được hiểu như là việc sử dụng máy tính và phần mềm để quản lí thông tin. Sự kết hợp giữa máy tính và viễn thông dựa trên vi điện tử là thu nhận, xử lý, lưu trữ và phổ biến thông tin bằng hình ảnh, văn bản, số và âm thanh.
Ứng dụng CNTT Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này (Chủ tịch Quốc hội, 2006). Dạy học “Dạy học là quá trình cộng tác giữa thầy và trò luôn tác động qua lại, bổ sung cho nhau để truyền đạt - điều khiển và lĩnh hội - tự điều khiển tri thức nhằm tạo cho người học khả năng phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách” (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2003). “Dạy học là tập hợp các quá trình hoặc hệ thống hoạt động trong giáo 11 dục nhằm thực hiện mục đích giáo dục (phát triển) con người. Dạy học là con đường, công cụ cơ bản nhất, tất yếu để đào tạo và giáo dục.
Dạy học có những chức năng cơ bản: Giáo dưỡng (truyền thụ học vấn); tổ chức và thiết lập cấu trúc cho GD&ĐT” (Nguyễn Thanh Bình, 2005). Từ các khái niệm trên, dạy học là hoạt động phối hợp tương tác và thống nhất giữa hoạt động chủ đạo của GV và hoạt động tự giác tích cực, chủ động của HS nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo con người phát triển. Dạy học bao gồm hai hoạt động: hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS: - Hoạt động dạy: Vai trò chủ đạo là GV tổ chức, điều khiển quá trình truyền đạt tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách khoa học nhất cho HS. - Hoạt động học: Vai trò chủ động là HS tự điều khiển quá trình tiếp thu một cách tự giác, tích cực hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà GV truyền đạt nhằm phát triển tư duy và hình thành nhân cách.
Ứng dụng CNTT trong dạy học Ứng dụng CNTT trong dạy học có thể được hiểu là sử dụng CNTT trong quá trình giảng dạy, nhằm trang bị cho người học tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, nhân sinh quan và các phương thức giải quyết vấn đề. Quản lí, quản lí nhà trường a. Quản lí QL là một hoạt động tất yếu trong bất kỳ tổ chức, cơ quan dù quy mô lớn hay nhỏ đã có rất nhiều khái niệm về quản lí khác nhau như: Nhà QL Mary Parker Follett định nghĩa QL là: “nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác”. Theo Henry Fayol, quản lí là: “một quá trình bao gồm tất cả các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nỗ lực của các thành viên trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã định trước” (Nguyễn Hữu Hải, 2014).
12 Từ các khái niệm ở trên, QL là các hoạt động có mục đích và có định hướng của chủ thể QL lên đối tượng QL để đạt được mục tiêu nhất định. Quản lí nhà trường Trường học là một tổ chức giáo dục, là một đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân. Do đó, xét về bản chất, trường học là tổ chức mang tính nhà nước - xã hội - sư phạm. Cho nên, QL nhà trường được một số tác giả định nghĩa như sau: QL nhà trường được hiểu là “thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” (Trần Kiểm, 2012).
Kônđakôp và N.