PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY CHƢƠNG 3. LUẬN ĐIỂM VỀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƢ KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác. Sự phát triển của doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển của các phƣơng thức sản xuất. Doanh nghiệp Việt Nam là khu vực kinh tế đóng góp quan trọng nhất vào quy mô và tốc độ tăng trƣởng kinh tế của đất nƣớc.
Do đó, hiểu về doanh nghiệp một cách sâu sắc là cơ sở để nghiên cứu cấu trúc vốn một cách toàn diện hơn. Hiện nay trên phƣơng diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, các tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu. Chẳng hạn: Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tƣ cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tƣ do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nƣớc bằng các loại luật và chính sách thực thi. Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng ngƣời sản xuất ra của cải.
Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vƣợt qua những thời kỳ nguy kịch và ngƣợc lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vƣợt qua đƣợc. Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2014 định nghĩa: ―Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, đƣợc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh‖. Kinh doanh là ―việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi‖. Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2019 định nghĩa: ―Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có trụ sở giao dịch, có tài sản, đƣợc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh, bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tƣ nhân.
Các loại hình doanh nghiệp bao gồm: a) Doanh nghiệp khu vực nhà nƣớc: Bao gồm Công ty 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TNHH một thành viên 100% vốn Nhà nƣớc; Công ty cổ phần, công ty TNHH có vốn Nhà nƣớc lớn hơn 50%. Doanh nghiệp khu vực nhà nƣớc trong ấn phẩm này quy ƣớc bao gồm toàn bộ các doanh nghiệp thuộc các tập đoàn, tổng công ty nhà nƣớc thành viên cấp 1,2,3,4. b) Doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nƣớc: Các doanh nghiệp có vốn trong nƣớc thuộc sở hữu tƣ nhân một ngƣời hoặc nhóm ngƣời hoặc thuộc sở hữu Nhà nƣớc nhƣng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống. Khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nƣớc gồm: Doanh nghiệp tƣ nhân; Công ty hợp danh; Công ty TNHH tƣ nhân; Công ty TNHH có vốn Nhà nƣớc từ 50% trở xuống; Công ty cổ phần không có vốn Nhà nƣớc; Công ty cổ phần có vốn Nhà nƣớc từ 50% trở xuống.
c) Doanh nghiệp khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài: Các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ của nƣớc ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn góp. Khu vực có vốn đầu tƣ của nƣớc ngoài gồm: Doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài; doanh nghiệp nhà nƣớc liên doanh với nƣớc ngoài; doanh nghiệp khác liên doanh với nƣớc ngoài. Ngoài ra có thể liệt kê hàng loạt những định nghĩa khác nữa khi xem xét doanh nghiệp dƣới những góc nhìn khác nhau. Song giữa các định nghĩa về doanh nghiệp đều có những điểm chung nhất, nếu tổng hợp chúng lại với một tầm nhìn bao quát trên phƣơng diện tổ chức quản lý là xuyên suốt từ khâu hình thành tổ chức, phát triển đến các mối quan hệ với môi trƣờng, các chức năng và nội dung hoạt động của doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp về cơ bản có thể định nghĩa nhƣ sau: Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tƣ cách pháp nhân, quy tụ các phƣơng tiện tài chính, vật chất và con ngƣời nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của ngƣời tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.
Về cơ bản, dựa trên các tiêu chí khác nhau, có nhiều cách để phân loại các loại hình doanh nghiệp, nhƣ: Phân loại theo ngành nghề kinh doanh, hình thức pháp lý… Tuy nhiên, một doanh nghiệp đƣợc cấu thành đƣợc đảm bảo bởi các yếu tố sau: - Yếu tố tổ chức: một tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa nhằm thực hiện các chức năng quản lý nhƣ các bộ phận sản xuất, bộ phận thƣơng mại, bộ phận hành chính. - Yếu tố sản xuất: các nguồn lực lao động, vốn, vật tƣ, thông tin. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Yếu tố trao đổi: những dịch vụ thƣơng mại - mua các yếu tố đầu vào, bán sản phẩm sao cho có lợi ở đầu ra. - Yếu tố phân phối: thanh toán cho các yếu tố sản xuất, làm nghĩa vụ nhà nƣớc, trích lập quỹ và tính cho hoạt động tƣơng lai của doanh nghiệp bằng khoản lợi nhuận thu đƣợc.
Khái niệm đổi mới1 Khái niệm đổi mới đến nay đã không còn là một vấn đề quá mới mẻ với các quốc gia trên thế giới, tuy nhiên đến với thời đại của xã hội thông tin, đổi mới lại trở thành tâm điểm của việc nghiên cứu, vì đổi mới có quan hệ mật thiết đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia. Các nghiên cứu trên thế giới xoay quanh chủ đề này khá nhiều, hầu hết đều tập trung vào làm rõ hệ khái niệm: đổi mới, năng lực đổi mới, doanh nghiệp, năng lực đổi mới của doanh nghiệp. Một trong những khái niệm đầu tiên về đổi mới đƣợc đƣa ra vào năm 1934 bởi nhà kinh tế ngƣời Áo, Joseph Schumpeter, ông định nghĩa ―Đổi mới là quá trình thƣơng mại hóa những yếu tố mới hoặc những yếu tố cũ trong các tổ chức công nghiệp, liên quan tới vật liệu mới, quy trình mới, thị trƣờng mới, hoặc cơ cấu tổ chức mới, phần lớn đƣợc khởi xƣớng bởi ngƣời chủ doanh nghiệp‖. Trong định nghĩa mà Schumpeter đƣa ra, đổi mới có một số đặc trƣng là: (1) Thƣơng mại hóa sản phẩm của sự sáng tạo của con ngƣời về vật liệu mới, quy trình mới,.
(2) Đề cao vai trò trung tâm của ngƣời chủ doanh nghiệp. Theo cuốn Những kiến thức cơ bản về đổi mới, đổi mới (innovation) là một từ bắt nguồn từ gốc ―nova‖, gốc Latin có nghĩa là ―mới‖. Theo cách hiểu thông thƣờng, đổi mới đƣợc hiểu là sự đổi mới cho một giải pháp nào đó, khác với giải pháp đã triển khai, hoặc đổi mới là việc áp dụng những ý tƣởng mới vào tổ chức. Trong Đổi mới sáng tạo – Sáng tạo để khoa học công nghệ phục vụ hiệu quả cho phát triển và hội nhập quốc tế của tác giả Đặng Ngọc Dinh, đổi mới là làm mới lại, thay đổi hoặc tạo ra một sản phẩm, một quá trình hoặc một cách làm hiệu quả hơn, là đƣa vào một ý tƣởng, một phƣơng pháp mới (introduce something new).
Đối với doanh nghiệp, đổi mới có nghĩa là thực hiện những ý tƣởng mới, tạo ra những sản phẩm năng động hoặc hoàn thiện những dịch vụ hiện có. Đổi mới là chất xúc tác 1 Hiện nay, trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, một số văn bản quy phạm pháp luật đang sử dụng các khái niệm đổi mới sáng tạo, năng lực đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, trong giới hạn của luận văn này, tác giả sử dụng các khái niệm ―Innovation‖ và ―Innovative Capacity‖ với cách hiểu là ―đổi mới‖ và ―năng lực đổi mới‖. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho tăng trƣởng và thành công của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thích ứng và thành công trong thị trƣờng.16 của Luật Khoa học và Công nghệ 2013 cũng đề cập đến khái niệm ―đổi mới sáng tạo‖: “Đổi mới sáng tạo (innovation) là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa”.
Trong nghiên cứu Mô hình sáng tạo của tổ chức trong doanh nghiệp Việt Nam đăng trong Tạp chí Tâm lý học số 12 (2012) của tác giả Phạm Thành Nghị cũng đã phân biệt sự khác nhau giữa đổi mới và sáng tạo. Sáng tạo đƣợc coi là thành tố ý tƣởng, là giai đoạn tạo ra ý tƣởng mới, bƣớc đầu tiên của quá trình đổi mới. Trong khi đó, đổi mới bao gồm cả thành phần ý tƣởng và thành phần hoạt động áp dụng ý tƣởng mới vào thực tiễn. Đổi mới cũng khác với phát minh (invention).
Đổi mới là quá trình doanh nghiệp phát triển các sản phẩm, dịch vụ, quy trình hay hệ thống quản lý mới để đáp ứng các yêu cầu do sự thay đổi của môi trƣờng kinh doanh, công nghệ hay mô hình cạnh tranh. Đổi mới gồm nhiều công đoạn, từ nghiên cứu, lập kế hoạch đến tìm kiếm các giải pháp kỹ thuật và thƣơng mại hóa. Nói cách khác, chỉ khi doanh nghiệp biến một phát minh thành sản phẩm, dịch vụ mới bán đƣợc ra thị trƣờng (đáp ứng nhu cầu khách hàng) và mang lại lợi nhuận thì mới đƣợc coi là đổi mới. Trong khi đó, không phải phát minh nào cũng dẫn tới thỏa mãn nhu cầu khách hàng.
Khả năng phát minh thƣờng thể hiện qua số lƣợng sáng chế đƣợc đăng ký bản quyền. Nhìn chung, các nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay đã đƣa ra khá chính xác về khái niệm đổi mới, và đều có kết luận thống nhất rằng đây là một yếu tố then chốt cho sự thành công của doanh nghiệp nói riêng và cả một quốc gia nói chung.