phần mở đầu, kế t luâ ̣n, đề tài có 3 chƣơng: 4 Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luâ ̣n của đề tài. Chƣơng 2: Xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh lớp 12 qua môn ngữ văn. Chƣơng 3: Kết quả thực nghiệm. Tài liệu than khảo.
5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan nghiên cứu Những nội dung sau đƣợc tổng quan từ các tài liệu sau: OECD 2009, OECD 2012, OECD 2013 và OECD 2014 Khái niệm „đọc hiểu‟ và „năng lực đọc hiểu‟ thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào những thay đổi trong xã hội, kinh tế, và văn hóa. Nhận thức về khái niệm „học tập‟, đặc biệt là khái niệm „học tập suốt đời‟ đã mở rộng nhận thức về „đọc hiểu‟ - nó không còn đƣợc coi là một khả năng có đƣợc trong những năm đầu đi học, mà đƣợc xem nhƣ sự mở rộng kiến thức, kỹ năng và chiến lƣợc cá nhân trong suốt cuộc đời, ở những bối cảnh khác nhau, thông qua sự tƣơng tác với các đồng nghiệp và cộng đồng rộng. Các lý thuyết nhận thức nhấn mạnh bản chất tƣơng tác của đọc hiểu và bản chất kiến tạo của sự hiểu biết. Điều này thúc đẩy ngƣời đọc có thể sử dụng các quy trình, kỹ năng và chiến lƣợc đọc khác nhau theo hoàn cảnh và môi trƣờng đọc văn bản giấy hay văn bản điện tử.
i) PISA 2012 định nghĩa: Năng lực đọc hiểu (reading literacy) là sự am hiểu, sử dụng, phản ánh và tham gia cùng các văn bản Texts nhằm đạt mục tiêu cá nhân, phát triển các kiến thức, tiềm năng và sự tham gia vào cuộc sống xã hội. …Năng lực đọc hiểu. Thuật ngữ „đọc hiểu’ thiên về „đọc‟ và đƣợc coi là việc giải mã các kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp, ngôn ngữ, cấu trúc văn bản và các kiến thức về thế giới xung quanh. "Năng lực đọc hiểu" là việc thực hiện các hoạt động hữu ích, có mục đích và vận dụng những gì đọc vào nhiều tình huống và cho các mục đích khác nhau 6 (nhƣ học lên đại học, học các khóa học ngắn hạn để chuẩn bị gia nhập lực lƣợng lao động, trực tiếp lao động sau hoàn thành giáo dục cơ bản,…).
Thành tích đọc hiểu không chỉ là nền tảng thành công cho các môn học khác trong hệ thống giáo dục, mà còn là một điều kiện tiên quyết để có thể thành công trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống ngƣời trƣởng thành. Vấn đề làm chủ các kĩ năng đọc không chỉ cho cá nhân mà còn cho nền kinh tế. Các nhà hoạch định chính sách nhận ra rằng trong xã hội hiện đại, vốn con ngƣời - tổng thể những gì các cá nhân trong một nền kinh tế biết và có thể làm - là vấn đề quan trọng nhất của một quốc gia, là nhân tố ảnh hƣởng quan trọng đến sự tăng trƣởng kinh tế. là sự am hiểu, sử dụng, phản ánh về.
Cụm từ „sự am hiểu‟ là hiểu những gì đã đọc; từ „sử dụng‟ đề cập đến việc vận dụng, tức là làm gì đó với những gì đã đọc; từ "phản ánh về" đƣợc thêm vào từ "sự am hiểu" và "sử dụng" để nhấn mạnh rằng đọc cũng là một hoạt động tƣơng tác: ngƣời đọc suy nghĩ và rút ra kinh nghiệm cho mình khi tham gia với văn bản. Tất nhiên, các yêu cầu của hành động đọc có thể đòi hỏi một số phản ánh, hình vẽ hay thông tin ngoài văn bản. Thậm chí ngay ở giai đoạn đầu, ngƣời đọc đã có thể vẽ, dùng ký hiệu, biểu tƣợng để giải mã trƣớc khi phân tích các kiến thức về từ vựng để xác định ý nghĩa của văn bản. Ngƣời đọc có thể phát triển lƣợng thông tin, kinh nghiệm và niềm tin một cách liên tục, thƣờng xuyên một cách vô thức, cũng có thể thử nghiệm lại những gì đã đọc vào cuộc sống.
Từ đó, họ có ý thức xem xét và điều chỉnh ý nghĩa của văn bản. và tham gia cùng. Một ngƣời có năng lực đọc hiểu không chỉ có những kỹ năng, kiến thức để đọc tốt, mà còn sử dụng chúng cho nhiều mục đích đọc khác nhau. Do đó, cần tạo cơ hội để học sinh rèn luyện sự thành thạo thông qua việc tham gia 7 vào hoạt động đọc.
Cụm từ „tham gia‟ trong bối cảnh này có nghĩa là động cơ đọc - bao gồm sự quan tâm, hứng thú đọc, kiểm soát những gì đã đọc, kích thích, khuyến khích xã hội cùng đọc và thực hành những gì đã đọc đƣợc. văn bản texts viết. Thuật ngữ "văn bản texts" có nghĩa là bao gồm tất cả các văn bản sử dụng ngôn ngữ viết và ngôn ngữ đồ họa, âm thanh, nghe nhìn dạng in, dạng kỹ thuật số. Những văn bản text bao gồm các thiết bị tạo ngôn ngữ thính giác nhƣ ghi âm giọng nói và cũng bao gồm phim, truyền hình, hình ảnh hoạt hình hay hình ảnh không lời.
Chúng bao gồm các hình ảnh trực quan nhƣ sơ đồ, ảnh, bản đồ, bảng biểu, đồ thị và truyện tranh có sử dụng ngôn ngữ viết (ví dụ, chú thích). Những văn bản trực quan này có thể độc lập hoặc đƣợc nhúng vào trong các loại văn bản khác. Các văn bản điện tử đƣợc sử dụng trong tình huống liên kết siêu văn bản, các văn bản kỹ thuật số. nhằm đạt mục tiêu cá nhân, phát triển các kiến thức, tiềm năng và sự tham gia vào cuộc sống xã hội… Cụm từ này có nghĩa là bao quát một phạm vi đầy đủ các tình huống trong đó có vai trò của đọc hiều, từ riêng tƣ đến công đồng, từ trƣờng học đến công việc, từ giáo dục chính quy đến học tập suốt đời và các hoạt động của công dân.
" … nhằm đạt mục tiêu cá nhân, phát triển các kiến thức, tiềm năng " muốm nêu rõ rằng đọc hiểu cho phép thực hiện các nguyện vọng, cuộc sống cá nhân và giáo dục suốt đời. Cụm từ "tham gia vào cuộc sống xã hội " đƣợc sử dụng với ngụ ý rằng đọc hiểu cho phép con ngƣời đóng góp cho xã hội cũng nhƣ để đáp ứng nhu cầu riêng của họ. ii) Từ phân tích khái niệm trên, có thể thấy „đọc hiểu‟ là một lĩnh vực đa chiều. PISA tập trung vào ba thành tố chính sau về đọc hiểu: 8 • Tình huống đề cập đến phạm vi rộng của những bối cảnh hoặc mục đích đọc đƣợc diễn ra; • Text: đề cập đến đối tƣợng đọc, hay phạm vi các loạn tài liệu đọc; và • Khía cạnh nhận thức để xác định ngƣời đọc tham gia với văn bản thế nào.
Hoa Kỳ không dùng chuẩn chung cho toàn quốc mà các Bang tự quyết định về chƣơng trình giáo dục cho ho ̣c sinh. Tuy nhiên, việc đánh giá về năng lực ho ̣c sinh chung trong toàn qu ốc vẫn đƣợc thực hiện. Đánh giá NAEP (National Assessment of Educational Progress - NAEP) là một đánh giá liên tục về những gì ho ̣c sinh M ỹ biết và có thể làm nhằm cung cấp các thông tin khách quan về thành tích của ho ̣c sinh cho các bên liên quan , trong đó chú trọng đến việc đánh giá s ự tiến bộ trong học tập của học sinh ở các lĩnh vực đƣợc đánh giá [20,5]. Mục đích chủ yếu của NAEP là đo lƣờng một cách đáng tin cậy các xu hƣớng về thành tích giáo dục qua thời gian.
Đối tƣợng đánh giá của NAEP là học sinh lớp 4, 8, 12. Các Bang khác nhau của Hoa Kì có quyền xây dựng mục tiêu và chƣơng trình giáo dục riêng có mặt mạnh là giúp họ có đƣợc chƣơng trình phù hợp nhất với đối tƣợng ho ̣c sinh và đi ều kiện địa phƣơng. Dù còn những khác biệt nhất định nhƣng việc đánh giá năng l ực ho ̣c sinh của Hoa Kỳ tại tất cả các Bang đều đƣợc thực hiện theo một trình tự chặt chẽ với các bƣớc rõ ràng gồm: - Xác định mục tiêu đánh giá - Xác định các lĩnh vực đánh giá - Xây dựng các tiêu chí đánh giá d ựa trên chuẩn chƣơng trình với các mức độ cụ thể - Thực hiện đánh giá. Khi nghiên cứu về kinh nghiệm đánh giá c ủa Hoa Kỳ ta có thể học hỏi 9 đƣợc quy trình đánh giá , cách xác định mục tiêu, tiêu chí đánh giá d ựa trên chuẩn và xây dựng công cụ đánh giá.
Và ở nƣớc ta đã có các công trình nghiên cứu về vấn đề đổi mới kiểm tra đánh giá theo hƣớng đánh giá năng lực nhƣ: - Lƣơng Viê ̣t Thái [19]: Phát triển chƣơng trình giáo dục phổ thông theo đinh ̣ hƣớng phát triể n năng lƣ̣c ngƣời ho ̣c. - Phạm Đức Quang [20]: Một số thành tố cơ bản trong Chƣơng trình giáo dục phổ thông đƣợc xây dựng theo định hƣớng tiếp cận năng lực. - Nguyễn Đƣ́c Minh [2]: Hƣớng dẫn đánh giá năng lực ho ̣c sinh cuố i cấ p tiể u ho ̣c. - Nguyễn Đức Minh [3]: Nghiên cứu về chuẩn và quy trình xây dựng chuẩn đánh giá năng lực ngƣời học.
- Nguyễn Thị Lan Phƣơng [8]: Phƣơng pháp kỹ thuật xây dựng chuẩn đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực giải quyết vấn đề - Nguyễn Hồng Vân [18]: Đánh giá kết quả học tập môn ngữ văn của học sinh theo hƣớng hình thành năng lực. Các đề tài nghiên cứu trong nƣớc đã đƣa ra đƣơ ̣c quan niê ̣m chung về đánh giá và đánh giá trên lớp , năng lƣ̣c và đánh giá năng lƣ̣c cũng nhƣ các phƣơng pháp chung về đánh giá , mô ̣t số bô ̣ TEST mẫu. Đó cũng là nhƣ̃ng lơ ̣i thế mà đề tài có đƣơ ̣c, tạo tiề n đề cho tác giả hoàn thành luâ ̣n văn.2Một số khái niệm cơ bản 1. 10 Trong luận văn này, thuật ngữ đánh giá dùng xuyên suốt nội dung là Assessment.
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì đánh giá đƣợc định nghĩa là: i) Ƣớc tính giá tiền, đánh giá tài sản; ii) Nhận định giá trị [15,5] Trần Bá Hoành thì nhận định đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả công việc [24,10]. Nguyễn Đức Minh [3] cho rằng đánh giá là quá trình thu thập thông tin, phân tích, xử lý thông tin để tìm ra các chỉ số về lƣợng, giá trị hoặc sự quan trọng của nó trong so sánh với các mục đích, mục tiêu đã đặt ra từ trƣớc, từ đó đƣa ra ý kiến, phán xét, khuyến nghị nhằm giúp cải thiện, nâng cao chất lƣợng công việc.