Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Đánh giá năng lực đầu ra của sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học ở các trường đại học Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phan Thị Yến dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đinh Thị Kim Thoa và PGS. Phan Minh Tiến, bảo vệ năm 2022 tại Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, thuộc chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục (mã số: 9.15).
Về tính cấp thiết, bối cảnh hội nhập quốc tế cùng tác động của các cuộc cách mạng công nghiệp đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo đại học để cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao. Khung pháp lý của giáo dục đại học Việt Nam đã xác lập các tiêu chuẩn cụ thể: theo Quyết định số 1982/QĐ-TTg, từ năm 2016 sinh viên tốt nghiệp phải hoàn thành tối thiểu 120 tín chỉ và đạt chuẩn đầu ra tương ứng Bậc 6 của Khung trình độ quốc gia Việt Nam; Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 nhấn mạnh mục tiêu phát triển toàn diện năng lực, khả năng tự học, sáng tạo và thích ứng môi trường làm việc. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành các văn bản quản lý và kiểm định như Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT, Thông tư số 57/2012/TT-BGDĐT, Thông tư số 17/2021/TT-BGDĐT, cùng Công văn số 1668/QLCL-KĐCLGD và Công văn số 1669/QLCL-KĐCLGD về hướng dẫn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng thực tế tại các trường đại học Việt Nam, việc đánh giá năng lực đầu ra của sinh viên so với chuẩn đầu ra công bố chưa được thực hiện bằng hệ thống tiêu chí và công cụ chuẩn hóa cụ thể. Việc xét tốt nghiệp chủ yếu căn cứ vào kết quả tích lũy học phần (điểm trung bình tích lũy - GPA) và các chứng chỉ điều kiện như Ngoại ngữ, Tin học, Giáo dục quốc phòng. Đối với ngành Quốc tế học - một ngành học liên ngành được đào tạo tại Việt Nam hơn 10 năm qua, thị trường việc làm mang tính đa dạng cao và không định hình vào một vị trí công việc đơn nhất. Sinh viên tốt nghiệp đảm nhận nhiều vị trí như cán bộ đối ngoại, nhân viên hành chính doanh nghiệp, cán bộ kinh doanh, chuyên viên truyền thông, tư vấn giáo dục, lễ tân, hướng dẫn viên. Các cơ sở đào tạo đã công bố chuẩn đầu ra nhưng chưa xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực thực tế của người học trước khi tốt nghiệp. Trước luận án này, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu việc xây dựng tiêu chí và công cụ đo lường năng lực đầu ra cho sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học tại Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là đánh giá năng lực đầu ra của sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học làm cơ sở đề xuất điều chỉnh chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo ngành Quốc tế học, góp phần bảo đảm chất lượng đào tạo của ngành này.
Khách thể nghiên cứu là hoạt động đánh giá năng lực đầu ra của sinh viên tốt nghiệp cử nhân ngành Quốc tế học tại các trường đại học ở Việt Nam. Đối tượng nghiên cứu là đánh giá năng lực đầu ra của sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học ở các trường đại học Việt Nam.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm:
- Năng lực đầu ra của sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học ở các trường đại học tại Việt Nam được đánh giá bằng công cụ nào?
- Năng lực đầu ra của sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học ở các trường đại học tại Việt Nam đáp ứng ở mức độ nào so với Chuẩn đầu ra?
- Chuẩn đầu ra và Chương trình đào tạo sinh viên ngành Quốc tế học ở các trường đại học tại Việt Nam sẽ được điều chỉnh như thế nào sau khi có kết quả đánh giá năng lực đầu ra?
- Bộ công cụ đánh giá năng lực đầu ra của sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học ở các trường đại học tại Việt Nam được sử dụng như thế nào để góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo?
Các giả thuyết khoa học được luận án đặt ra tương ứng:
- Nếu thiết kế được bộ công cụ đánh giá năng lực đầu ra tốt và thực hiện việc đánh giá theo đúng lý luận về đo lường và đánh giá thì có thể đánh giá được năng lực đầu ra của sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học.
- Nếu đánh giá năng lực đầu ra theo bộ công cụ của luận án xây dựng thì xác định được năng lực đầu ra của sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học ở các mức độ khác nhau theo thang đo mà bộ công cụ đưa ra.
- Nếu sử dụng kết quả đánh giá năng lực đầu ra hợp lý thì ngành Quốc tế học ở các trường đại học tại Việt Nam có căn cứ để điều chỉnh nội dung những học phần liên quan đến năng lực tương ứng của sinh viên và điều chỉnh phương thức tổ chức hoạt động đào tạo cũng như phương pháp giảng dạy.
- Nếu nhà quản lý ngành Quốc tế học của các trường đại học tại Việt Nam triển khai thực hiện bộ công cụ theo đúng hướng dẫn mà luận án đưa ra thì sẽ góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo.
Về giới hạn phạm vi nghiên cứu, luận án tập trung khảo sát sinh viên cử nhân hệ chính quy ngành Quốc tế học tốt nghiệp trong 3 năm 2017, 2018 và 2019 tại 04 cơ sở giáo dục đại học đại diện các vùng miền: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế; Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng; và Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Thời điểm đánh giá diễn ra trong khoảng 6 tháng sau khi sinh viên tốt nghiệp, có sự tham gia đối sánh từ các đơn vị sử dụng lao động tiếp nhận nguồn nhân lực này.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trong và ngoài nước liên quan đến các trụ cột của đề tài:
Thứ nhất là các nghiên cứu về cấu trúc năng lực: Tác giả điểm lại nền tảng phân loại mục tiêu giáo dục của Bloom (1956) với ba lĩnh vực nhận thức (Knowledge), cảm xúc (Attitude) và tâm vận (Skills); nghiên cứu của Harrow (1972) và Dave (1975) đồng thuận với mô hình cấu trúc ASK (Attitude - Skills - Knowledge). Trái với trường phái trên, Weinert (2001) tại Đức xác định năng lực gồm bốn thành phần hữu cơ: năng lực cá thể, năng lực chuyên môn, năng lực xã hội và năng lực phương pháp. Mueller (2005) tại Mỹ đề xuất cấu trúc động gồm bốn thành phần: năng lực theo vai trò, năng lực cốt lõi, năng lực chuyên môn và năng lực hành vi. Ủy ban Cộng đồng chung Châu Âu (2006) định nghĩa năng lực là sự kết hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với tình huống cụ thể. Mô hình tảng băng của Spencer & Spencer (1993) phát triển từ McClelland (1973) và Boyatzis (1982) phân định hành vi quan sát được ở bề nổi và các tầng ẩn sâu gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ, chuẩn giá trị, niềm tin, động cơ và nét nhân cách. Stringer (1998) nhấn mạnh tri thức tích lũy, trải nghiệm thực tế và ý chí hành động. Tại Việt Nam, Hoàng Hòa Bình (2015) phân tích cấu trúc bề mặt và bề sâu (năng lực hiểu, năng lực làm, năng lực ứng xử); Trần Khánh Đức (2013, 2017) phân tích quá trình hình thành năng lực chuyên môn và cốt lõi qua đào tạo; Lê Đức Ngọc (2013) và Nguyễn Công Khanh (2014) nhấn mạnh năng lực là sự vận hành đồng bộ kiến thức, kỹ năng, thái độ để xử lý tình huống thực tiễn.
Thứ hai là các nghiên cứu về chuẩn đầu ra và đánh giá năng lực: Robert L. Katz (1974), Analoui (1993), Đại học Windsor (2007 trong tài liệu "To Greater Heights"), và Hiệp hội các trường Đại học quốc tế (IAU) đưa ra các hệ thống kỹ năng thiết yếu của sinh viên tốt nghiệp. Vũ Anh Dũng và Phùng Xuân Nhạ (2010) mô tả chuẩn đầu ra theo mô hình CDIO (Conceive - Design - Implement - Operate). Về mô hình đánh giá, Ewell (1991) đề xuất tích hợp ba mô hình: dựa trên hành vi cá nhân, dựa trên kiến thức kỹ năng đào tạo, và dựa trên tiêu chuẩn đầu ra tại nơi làm việc. Dooley và cộng sự (2001) phân cấp năng lực thành ba mức: Mức 1 (lặp lại theo mẫu), Mức 2 (ứng dụng tương đối độc lập), Mức 3 (sáng tạo, giải quyết nhiệm vụ phức tạp). Volkwein (2003) xây dựng mô hình vòng lặp khép kín: Giảng dạy - Học tập - Đánh giá - Cải tiến. Ohia (2009, 2011) đề xuất mô hình FAMOUS gồm sáu bước: Formulate (xây dựng phát biểu kết quả), Ascertain (xác định tiêu chí), Measure (đo lường hiệu suất), Observe (quan sát, phân tích), Use (sử dụng kết quả cải tiến), và Strengthen (tăng cường dịch vụ, ngân sách). Duque (2010) kiểm định mô hình đánh giá sự hài lòng và năng lực nhận thức thông qua bảy giả thuyết tương quan (H1 đến H7). Lê Chi Lan (2014, 2015) mô hình hóa các yêu cầu năng lực của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp. Về đo lường, Bandalos (2018) dẫn lý thuyết bốn cấp độ đo lường của Stevens (định danh, thứ tự, định khoảng, tỷ lệ); Lâm Quang Thiệp (2010) và Đinh Thị Kim Thoa (2008) hệ thống hóa lý luận đo lường và đánh giá trong giáo dục.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình trước đã làm rõ lý thuyết năng lực, chuẩn đầu ra và các mô hình đánh giá chung, chưa có nghiên cứu nào đi sâu xây dựng khung năng lực, tiêu chí và bộ công cụ đo lường chuẩn hóa dành riêng cho sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học tại Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc thiết lập mô hình đánh giá tích hợp, thu thập dữ liệu đa chiều từ sinh viên và nhà tuyển dụng tại 04 trường đại học, đối sánh với Bậc 6 Khung trình độ quốc gia và kết quả học tập thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng các khái niệm và khung phân tích chuyên ngành:
- Năng lực: Khả năng vận dụng các kiến thức, kỹ năng, thái độ hay các đặc tính cá nhân khác cần thiết để thực hiện hiệu quả công việc.
- Chuẩn đầu ra: Các yêu cầu kiến thức, kỹ năng, năng lực tự chủ và trách nhiệm mà người học phải đạt được sau khi hoàn thành chương trình đào tạo.
- Năng lực đầu ra: Mức độ đạt được các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, năng lực tự chủ và trách nhiệm mà người học phải đạt được sau khi hoàn thành chương trình đào tạo.
- Đo lường trong giáo dục: Quá trình thu thập thông tin một cách định lượng về các đại lượng đặc trưng như nhận thức, tư duy, kỹ năng và các phẩm chất nhân cách trong giáo dục (kết hợp quan điểm của Đinh Thị Kim Thoa và Trần Khánh Đức).
- Đánh giá trong giáo dục: Quá trình thu thập và tổng hợp các thông tin một cách hệ thống của đối tượng cần đánh giá, trên cơ sở đó đưa ra nhận định có tính chính xác làm cơ sở cho việc đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
Khung phân tích của luận án kết hợp mô hình cấu trúc năng lực ASK, các bậc nhận thức của Bloom, mô hình tiếp cận CDIO, định hướng nghề nghiệp POHE, các nguyên tắc đo lường SMART, và chu trình cải tiến liên tục FAMOUS của Ohia. Đồng thời, tác giả khảo cứu khung năng lực sinh viên tốt nghiệp tại một số trường đại học quốc tế làm cơ sở tham chiếu:
| Cơ sở giáo dục |
Lĩnh vực/Trụ cột năng lực |
Nội dung năng lực cốt lõi theo công bố |
| Đại học Kỹ thuật Sydney (UTS) |
Năng lực tư duy; Năng lực nghề nghiệp; Năng lực cá nhân |
Tư duy phản biện, sáng tạo; kiến thức chuyên môn, kỹ thuật; giao tiếp nói và viết; làm việc nhóm; hiểu biết liên văn hóa, đạo đức; thích nghi công việc, định vị toàn cầu, công nghệ thông tin. |
| Đại học Tây Scotland (UWS) |
Năng lực học thuật; Năng lực cá nhân; Năng lực chuyên môn/nghề nghiệp |
Hợp tác nghiên cứu, công nghệ số, giải quyết vấn đề, tự chủ; tư duy phản biện, giao tiếp hiệu quả, tạo ảnh hưởng; thông minh cảm xúc, đạo đức, lãnh đạo, linh hoạt thích ứng. |
| Đại học New Mexico |
Năng lực đầu ra ngành Quốc tế học (6 nội dung) |
Tổng hợp kiến thức quốc tế (lịch sử, chính trị, kinh tế...); tích hợp phương pháp tiếp cận đa ngành; thảo luận mạch lạc; sử dụng ngoại ngữ thứ hai; giao tiếp liên văn hóa; đánh giá cơ hội nghề nghiệp. |
| Đại học Quốc gia Singapore (NUS) |
Triết lý năng lực và phẩm chất sinh viên |
Tư duy đặt câu hỏi; phẩm chất cá nhân toàn diện; công dân toàn cầu có trách nhiệm; giao tiếp hiệu quả; quyết đoán, dám nghĩ dám làm. |
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án phối hợp phương pháp định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Phân tích, tổng hợp tài liệu lý luận, văn bản quy phạm pháp luật, chương trình đào tạo và chuẩn đầu ra ngành Quốc tế học của các trường trong và ngoài nước; phỏng vấn chuyên gia đo lường đánh giá và giảng viên chuyên ngành thông qua gặp trực tiếp, trao đổi điện thoại và tọa đàm khoa học; phỏng vấn sâu bán cấu trúc với giảng viên, sinh viên và người sử dụng lao động để làm rõ đặc trưng vị trí việc làm.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Thiết kế bảng hỏi khảo sát diện rộng dành cho hai nhóm khách thể: sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học (tự đánh giá) và người sử dụng lao động (đánh giá năng lực sinh viên); quy trình thử nghiệm công cụ trên mẫu nhỏ, kiểm định hệ số Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) và kiểm định Bartlett; phân tích nhân tố khẳng định (Confirmatory Factor Analysis - CFA); kiểm định độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha, độ tin cậy tổng hợp (Composite Reliability - CR) và tổng phương sai rút trích (Average Variance Extracted - AVE); phân tích thống kê mô tả, kiểm định T-test, phân tích phương sai ANOVA để so sánh mức năng lực theo trường, giới tính, vị trí việc làm, và phân tích tương quan Pearson giữa năng lực đánh giá với điểm trung bình tích lũy (GPA).
- Phần mềm hỗ trợ xử lý dữ liệu: SPSS phiên bản 22, AMOS phiên bản 22 và 24, ConQuest và Microsoft Excel.
- Nguồn tư liệu và dữ liệu: Báo cáo chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, hồ sơ điểm tốt nghiệp GPA của sinh viên tốt nghiệp các năm 2017, 2018, 2019 từ 04 trường đại học khảo sát; dữ liệu phiếu khảo sát thu thập từ sinh viên và các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tuyển dụng.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẦU RA CỦA SINH TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về năng lực, cấu trúc năng lực và các hình thức đánh giá trong giáo dục đại học. Tác giả phân tích sự chuyển dịch từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực, chứng minh cấu trúc năng lực là sự tích hợp của kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ và trách nhiệm. Chương này phân tích chi tiết các mô hình đánh giá: mô hình vòng lặp khép kín Giảng dạy - Học tập - Đánh giá - Cải tiến của Volkwein (2003); mô hình FAMOUS 6 bước của Ohia (2009); mô hình 7 giả thuyết về mối liên hệ giữa chất lượng giáo dục, chất lượng nguồn lực, sự tham gia của người học, năng lực nhận thức và sự hài lòng của Duque (2010); mô hình yêu cầu năng lực của Lê Chi Lan (2014); và mô hình phân loại mục tiêu của Bloom.
Về chuẩn đầu ra, chương 1 đối sánh khung năng lực cử nhân của Đại học Kỹ thuật Sydney, Đại học Tây Scotland, Đại học Quốc gia Singapore và Đại học New Mexico với Bậc 6 Khung trình độ quốc gia Việt Nam (ban hành theo Quyết định số 1982/QĐ-TTg). Tác giả tổng hợp các nguyên tắc phát triển chương trình đào tạo theo Tyler, Oliva, quy trình CDIO và POHE. Trên cơ sở phân tích lý luận và các quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Quyết định 43/2007, Thông tư 57/2012, Thông tư 17/2021, Công văn 1668 và 1669/QLCL-KĐCLGD), tác giả thiết lập mô hình lý thuyết đánh giá năng lực đầu ra của sinh viên ngành Quốc tế học, xác định đánh giá năng lực đầu ra là khâu then chốt kết nối giữa nhà trường và thị trường lao động.
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẦU RA CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP NGÀNH QUỐC TẾ HỌC TẠI VIỆT NAM
Chương 2 trình bày bối cảnh ra đời của ngành Quốc tế học tại Việt Nam, đặc điểm địa bàn nghiên cứu tại 04 trường đại học (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN, Trường ĐH Ngoại ngữ - ĐH Huế, Trường ĐH Ngoại ngữ - ĐH Đà Nẵng, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM) và thực trạng công tác đánh giá đầu ra tại các đơn vị này. Tác giả chỉ ra rằng các trường chủ yếu đánh giá dựa trên điểm học phần tích lũy và chứng chỉ chuẩn đầu ra ngoại ngữ, tin học, chưa có công cụ đánh giá năng lực nghề nghiệp độc lập.
Tác giả mô tả chi tiết quy trình nghiên cứu gồm:
- Xây dựng dự thảo khung năng lực đầu ra gồm các tiêu chí và chỉ báo dựa trên chuẩn đầu ra chương trình đào tạo và Bậc 6 Khung trình độ quốc gia;
- Lấy ý kiến chuyên gia đo lường và giảng viên chuyên ngành để điều chỉnh khung năng lực và thiết kế phiếu khảo sát;
- Thử nghiệm công cụ trên mẫu đại diện;
- Kiểm định độ tin cậy và độ giá trị của công cụ thử nghiệm bằng phân tích nhân tố khẳng định CFA, kiểm tra hệ số KMO, giá trị Cronbach's Alpha, độ tin cậy tổng hợp CR và tổng phương sai rút trích AVE;
- Hoàn thiện bộ công cụ chính thức và triển khai khảo sát trên diện rộng đối với sinh viên tốt nghiệp 3 khóa 2017, 2018, 2019 và người sử dụng lao động;
- Nhập liệu, làm sạch, mã hóa và phân tích thống kê trên phần mềm SPSS 22, AMOS 22/24 và ConQuest.
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC ĐẦU RA CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP NGÀNH QUỐC TẾ HỌC TẠI VIỆT NAM
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm của đề tài:
- Xây dựng và chuẩn hóa khung năng lực: Khung năng lực đầu ra chuẩn hóa của cử nhân ngành Quốc tế học gồm hệ thống các tiêu chí và chỉ báo thuộc ba nhóm: kiến thức chuyên môn và liên ngành; kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng bổ trợ (đặc biệt là ngoại ngữ và giao tiếp liên văn hóa); mức độ tự chủ và trách nhiệm.
- Kiểm định độ tin cậy của bộ công cụ: Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA và kiểm định độ tin cậy trên cả hai tệp dữ liệu (sinh viên tự đánh giá và người sử dụng lao động đánh giá) cho thấy hệ số KMO đạt yêu cầu, các chỉ số độ phù hợp mô hình (như Chi-square/df, CFI, TLI, RMSEA), hệ số tin cậy tổng hợp (CR) và tổng phương sai rút trích (AVE) chứng minh thang đo đạt độ giá trị hội tụ và độ tin cậy.
- Vị trí việc làm thực tế: Đối sánh vị trí việc làm mô tả trong chương trình đào tạo và thực tế việc làm khảo sát cho thấy sinh viên ngành Quốc tế học công tác tại nhiều loại hình cơ quan: đơn vị hành chính sự nghiệp, cơ quan chuyên trách đối ngoại, tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân, cơ sở giáo dục và du lịch - dịch vụ.
- Phân tích mức năng lực đầu ra: Luận án so sánh điểm trung bình chung năng lực đầu ra giữa kết quả tự đánh giá của sinh viên và kết quả đánh giá của người sử dụng lao động; so sánh phương sai năng lực giữa 04 trường đại học; phân tích mức năng lực theo từng nhóm vị trí việc làm; so sánh năng lực theo giới tính và số tín chỉ tiếng Anh đào tạo của từng trường.
- Tương quan giữa năng lực đầu ra và kết quả đào tạo: Phân tích tỷ lệ xếp loại tốt nghiệp, đối sánh chéo giữa năng lực đầu ra và điểm trung bình tích lũy GPA, xác định tương quan giữa điểm GPA với mức độ thành thạo công việc do người sử dụng lao động đánh giá.
- Mức độ hài lòng của đơn vị tuyển dụng: Phân tích kiểm định phương sai ANOVA về mức độ hài lòng của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học trên ba khía cạnh kiến thức, kỹ năng và thái độ.
- Đề xuất ứng dụng: Đưa ra định hướng điều chỉnh chuẩn đầu ra, cấu trúc chương trình đào tạo ngành Quốc tế học (điều chỉnh khối lượng học phần ngoại ngữ, tăng cường kỹ năng thực hành nghề nghiệp) và ban hành quy trình hướng dẫn sử dụng bộ công cụ đánh giá định kỳ tại các cơ sở đào tạo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác định 6 đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Xây dựng được mô hình đánh giá năng lực đầu ra của sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học tại Việt Nam.
- Xây dựng được khung năng lực đầu ra và đề xuất chuẩn đầu ra cho sinh viên ngành Quốc tế học trong sự kết hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam.
- Xây dựng được bộ công cụ sử dụng để đánh giá năng lực đầu ra của sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học cho các đối tượng: Sinh viên và người sử dụng lao động.
- Hướng dẫn sử dụng bộ công cụ đánh giá năng lực đầu ra cho sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học.
- Đưa ra bức tranh chung về năng lực đầu ra của sinh viên tốt nghiệp ngành Quốc tế học tại 04 trường đại học lớn ở Việt Nam từ năm 2017 đến 2019.
- Đưa ra định hướng điều chỉnh chương trình đào tạo ngành Quốc tế học tại Việt Nam theo chuẩn đầu ra.
Về khuyến nghị và giải pháp đề xuất, tác giả kiến nghị các cơ sở giáo dục đại học rà soát chuẩn đầu ra ngành Quốc tế học sát với yêu cầu thực tế của thị trường lao động; điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng tăng cường năng lực ứng dụng, số tín chỉ tiếng Anh chuyên ngành và kỹ năng giao tiếp liên văn hóa; đồng thời áp dụng quy trình đánh giá định kỳ bằng bộ công cụ đã được chuẩn hóa để đảm bảo chất lượng và phục vụ công tác kiểm định chương trình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở sinh viên cử nhân hệ chính quy tốt nghiệp trong 3 năm liên tiếp (2017, 2018, 2019) tại 04 cơ sở giáo dục đại học (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN, Trường ĐH Ngoại ngữ - ĐH Huế, Trường ĐH Ngoại ngữ - ĐH Đà Nẵng, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM). Thời điểm khảo sát được thu thập trong khoảng 6 tháng sau khi tốt nghiệp. Phương pháp thu thập dữ liệu định lượng chủ yếu dựa trên phiếu hỏi tự đánh giá của sinh viên và phiếu đánh giá của người sử dụng lao động, chưa kết hợp theo dõi dài hạn sự biến đổi năng lực trong môi trường làm việc.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, đề tài định hướng mở rộng mẫu khảo sát tới các trường đại học khác có đào tạo ngành Quốc tế học tại Việt Nam; tiến hành nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal) để đánh giá năng lực sinh viên sau 3 đến 5 năm gia nhập thị trường lao động; đồng thời phát triển các công cụ đánh giá dựa trên sản phẩm và quan sát hành vi trực tiếp tại nơi làm việc.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục, Quản lý giáo dục: Tham khảo quy trình thiết kế, thử nghiệm và chuẩn hóa công cụ đo lường năng lực người học bằng các kỹ thuật EFA, CFA, kiểm định độ tin cậy CR và phương sai trích AVE trên phần mềm SPSS, AMOS, ConQuest.
- Cán bộ quản lý đào tạo, giảng viên và ban phát triển chương trình ngành Quốc tế học: Sử dụng khung năng lực đầu ra và kết quả khảo sát thực chứng để rà soát, điều chỉnh chuẩn đầu ra, tái cấu trúc ma trận học phần và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo Bậc 6 Khung trình độ quốc gia.
- Đơn vị sử dụng lao động và nhà tuyển dụng: Tham khảo cơ cấu năng lực và mức độ đáp ứng công việc của cử nhân ngành Quốc tế học theo từng nhóm vị trí việc làm để xây dựng tiêu chuẩn tuyển dụng và kế hoạch bồi dưỡng nhân sự phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
-
Khung năng lực đầu ra của sinh viên ngành Quốc tế học trong luận án được cấu trúc dựa trên những trụ cột nào?
Khung năng lực được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa mô hình cấu trúc năng lực ASK (Kiến thức - Kỹ năng - Thái độ) và Bậc 6 Khung trình độ quốc gia Việt Nam (Quyết định số 1982/QĐ-TTg), bao gồm các tiêu chí về kiến thức chuyên môn và liên ngành (kinh tế, chính trị, lịch sử, văn hóa quốc tế), kỹ năng nghề nghiệp (giao tiếp, làm việc nhóm, sử dụng lưu loát ngoại ngữ), và mức độ tự chủ, trách nhiệm trong công việc.
-
Mẫu khảo sát của luận án được chọn tại những cơ sở đào tạo nào và trong khoảng thời gian nào?
Khảo sát được thực hiện trên sinh viên cử nhân hệ chính quy tốt nghiệp các năm 2017, 2018 và 2019 tại 04 cơ sở giáo dục đại học: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế, Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà Nẵng, và Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, cùng các đơn vị sử dụng lao động tiếp nhận sinh viên các khóa này sau tốt nghiệp khoảng 6 tháng.
-
Những kỹ thuật phân tích thống kê và phần mềm nào được sử dụng để chuẩn hóa công cụ và xử lý dữ liệu?
Tác giả sử dụng các phần mềm SPSS phiên bản 22, AMOS phiên bản 22 và 24, ConQuest và Excel. Các kỹ thuật thống kê gồm: kiểm định KMO và Bartlett, phân tích nhân tố khẳng định (CFA), xác định hệ số Cronbach's Alpha, độ tin cậy tổng hợp (CR), tổng phương sai rút trích (AVE), phân tích thống kê mô tả, kiểm định T-test, phân tích phương sai ANOVA và phân tích tương quan Pearson.
-
Bức tranh vị trí việc làm thực tế của sinh viên ngành Quốc tế học có điểm gì khác biệt so với mô tả trong chương trình đào tạo?
Trong chương trình đào tạo, vị trí việc làm thường được định hướng vào các cơ quan đối ngoại và nghiên cứu quốc tế. Tuy nhiên khảo sát thực tế cho thấy sinh viên ngành Quốc tế học làm việc ở nhiều loại hình cơ quan đa dạng: từ cán bộ chuyên trách đối ngoại, hành chính doanh nghiệp, cán bộ kinh doanh, chuyên viên truyền thông, tư vấn giáo dục đến nhân viên lễ tân, hướng dẫn viên du lịch tại các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức phi chính phủ.
-
Bộ công cụ đánh giá năng lực đầu ra được sử dụng như thế nào để đảm bảo chất lượng đào tạo?
Bộ công cụ được sử dụng như phương tiện thu thập phản hồi hai chiều định kỳ từ sinh viên tốt nghiệp và nhà tuyển dụng. Kết quả đánh giá giúp nhà quản lý phát hiện điểm mạnh, điểm hạn chế về năng lực của người học theo từng nhóm vị trí việc làm, làm căn cứ thực chứng để điều chỉnh chuẩn đầu ra, cập nhật nội dung học phần (như số tín chỉ ngoại ngữ, kỹ năng thực hành) và cải tiến phương pháp giảng dạy.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Phan Thị Yến đã giải quyết vấn đề đánh giá năng lực đầu ra của sinh viên ngành Quốc tế học tại các trường đại học Việt Nam thông qua cách tiếp cận kết hợp định tính và định lượng trong đo lường giáo dục. Công trình đã chuẩn hóa khung năng lực tương thích Bậc 6 Khung trình độ quốc gia, kiểm định bộ công cụ đo lường qua các kỹ thuật thống kê chuyên sâu trên mẫu khảo sát tại 04 trường đại học đại diện, và phân tích thực trạng năng lực đáp ứng thị trường lao động giai đoạn 2017-2019. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng và quy trình hướng dẫn cụ thể cho các cơ sở đào tạo trong việc điều chỉnh chuẩn đầu ra, hoàn thiện chương trình đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Quốc tế học.