CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khái niệm cạnh tranh. Khái niệm năng lực cạnh tranh theo Aldington Report (1985) thì “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế.
Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”. Theo định nghĩa của từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất”. Cạnh tranh là một trong những quy luật cơ bản của kinh tế thị trường. Nhà kinh tế học PA.
Samuelson cho rằng cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp để giành khách hàng hoặc thị trường [13]. Nhìn chung, cạnh tranh có nhiều cách tiếp cận và đánh giá khác nhau nhưng đều có điểm chung là đề cập tới một quá trình với sự tham gia của nhiều chủ thể với cùng mục tiêu, có sự ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia phải tuân thủ, diễn ra trong các khoảng không gian và thời gian không cố định, về tác dụng, cạnh tranh có thể mang lại những tác động tích cực cũng như tiêu cực. Vấn đề đặt ra không phải là để thủ tiêu cạnh tranh mà tạo điều kiện để cạnh tranh diễn ra trong điều kiện bình đẳng, minh bạch, hạn chế các thủ đoạn không lành mạnh. Để thực hiện công việc này thì trách nhiệm trước hết thuộc về Nhà nước và các chủ thể tham gia trong nền kinh tế thị trường.
Quan điểm của OECD cho rằng “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, ngành, địa phương, quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” [3]. Khi phân tích năng lực cạnh tranh theo mô hình của M.Porter, người ta xem xét 4 yếu tố quan trọng là các điều kiện về cầu, các điều kiện yếu tố sản xuất, chiến 4 lược doanh nghiệp, cơ cấu và đối thủ cạnh tranh, các ngành liên quan và phụ trợ. Các yếu tố này luôn tác động, ảnh hưởng lẫn nhau và thúc đẩy phát triển. Về mặt biểu hiện, cạnh tranh có thể diễn ra giữa các doanh nghiệp trong ngành hoặc ngoài ngành, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.
Mục đích của cạnh tranh là giành vị thế trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để tăng thu lợi nhuận, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Cạnh tranh thể hiện dưới các hình thức: phấn đấu giảm giá bán, tăng chất lượng sản phẩm và đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng, thuận lợi. Khi ở mức độ cao hơn, cạnh tranh dẫn tới các hình thức liên doanh, liên kết, hợp tác, sát nhập và hợp nhất, thậm chí mua lại, thôn tính lẫn nhau [2]. Trong hình thức trao đổi hàng hoá trực tiếp, sự trao đổi đã được thoả thuận, nhu cầu được xác định qua kinh nghiệm tiêu thụ của cả hai bên mua và bán, nên hàng hoá được sản xuất ra gần như phù hợp với nhu cầu của mỗi bên.
Trong điều kiện trao đổi hàng hoá như vậy, không thể phát sinh ra cạnh tranh. Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân.) nhằm dành lấy những vị thế tạo nên vị thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Cạnh tranh có thể xẩy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xẩy ra giữa người sản xuất và người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn được mua với giá thấp. Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành.
Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phi giá cả (khuyến mãi, quảng cáo) hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điểu kiện thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế. Theo nhà kinh tế học M.Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoảng lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình của doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự 5 bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi [12].
Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Hệ thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể tự mình đưa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phương thức sản xuất, và tự đánh giá cho sản phẩm hay dịch vụ. Cạnh tranh là yếu tố luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường, tùy từng cách hiểu và cách tiếp cận mà có nhiều quan điểm về cạnh tranh. Cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mình sao cho tốt hơn doanh nghiệp khác.
Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ cạnh tranh nhằm giành lấy thị trường và khách hàng về doanh nghiệp của mình. Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành được những ưu thế hơn cùng một lợi sản phẩm dịch vụ hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình so với các đối thủ cạnh tranh. Dưới thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển vượt bậc, Các Mác đã quan niệm rằng “ Cạnh tranh TBCN là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Ngày nay, dưới sự hoạt động của cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước, khái niệm cạnh tranh có thay đổi đi nhưng về bản chất nó không hề thay đổi: Cạnh tranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doanh nghiệp nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh để đạt được mục tiêu của tổ chức hay doanh nghiệp đó. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kích thích sản xuất kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xã hội.
Như vậy, cạnh tranh là quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường. Sản xuất hàng hóa càng phát triển, hàng hóa bán ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết quả cạnh tranh sẽ 6 có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường trong khi một số doanh nghiệp khác tồn tại và phát triển hơn nữa. Cạnh tranh sẽ làm cho doanh nghiệp năng động hơn, nhạy bén hơn trong việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng sản phẩm giá cả và các dịch vụ sau bán hàng nhằm tăng vị thế của mình trên thị trường, tạo ra uy tín với khách hàng và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng để “ nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi. Khi nói đến lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia). Ngoài ra còn xuất hiện thuật ngữ lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể cung cấp được.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không chỉ tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,. mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế cuả sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quản sản xuất kinh doanh. Năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới [2]. Đặc điểm của cạnh tranh kinh tế trong doanh nghiệp Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa vì nó xuất phát 7 từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hóa.