ĐẶT VẤN ĐỀ Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho GDP của đất nƣớc nói chung và đối với nền kinh tế tại Hà Nội nói riêng. Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã đƣợc khôi phục và đầu tƣ phát triển với quy mô và kĩ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ cho nhu cầu trong nƣớc mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn. Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra với các làng nghề là vấn đề môi trƣờng và sức khỏe của ngƣời lao động, của cộng đồng dân cƣ đang bị ảnh hƣởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của làng nghề. Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của nhà nƣớc cũng nhƣ các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển bền vững các làng nghề.
Đã có nhiều làng nghề đã thay đổi phƣơng thức sản xuất cũng nhƣ quản lí môi trƣờng và thu đƣợc hiệu quả đáng kể. Song còn không ít làng nghề, sản xuất vẫn tăng về quy mô, còn môi trƣờng thì đang càng ngày ô nhiễm trầm trọng. Xã Tân Hòa là một trong những vùng trọng điểm chế biến nông sản thực phẩm của Hà Nội. Cũng nhƣ những làng nghề khác, khu vực này đang bị ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng.
Tuy nhiên, nguồn nƣớc thải và rác thải từ các hoạt động chế biến nông sản thực phẩm không chỉ tác động trực tiếp tới môi trƣờng nƣớc mặt, gây mùi hôi thối, gây mất mỹ quan môi trƣờng làng nghề mà còn có thể gián tiếp thấm qua đất gây ô nhiễm mạch nƣớc ngầm- nguồn nƣớc sinh hoạt và sản xuất chính của ngƣời dân. Song các đề tài nghiên cứu về chất lƣợng nƣớc ngầm tại xã vẫn còn hạn hẹp. Bằng mắt thƣờng ta khó có thể cảm quan đƣợc sự ô nhiễm của các thành phần độc hại có trong nƣớc. Vì vậy để có thể đánh giá một cách toàn diện về chất lƣợng nƣớc ngầm của xã, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Đánh giá mức độ gây ô nhiễm hợp chất Nitơ có trong nước ngầm bởi các hoạt động sản xuất miến dong taị xã Tân Hòa -huyện Quốc Oai- thành phố Hà Nội” 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về môi trƣờng làng nghề và các hợp chất Nitơ 1. Tổng quan về môi trường làng nghề a) Giới thiệu chung về môi trƣờng làng nghề Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xƣa mà cũng có nghĩa là một nơi quần cƣ đông ngƣời, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cƣơng tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những ngƣời cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phƣơng [11].
Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều sản phẩm đƣợc sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thƣơng phẩm trao đổi, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dƣ thừa lúc nông nhàn. Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song song với quá trình phát triển KT- XH, văn hóa và nông nghiệp phát triển đất nƣớc [3]. Tình trạng ô nhiễm môi trƣờng tại các làng nghề ở Việt Nam đã ở mức “báo động đỏ”.
Kéo theo nó là những hệ lụy ảnh hƣởng không chỉ đến hoạt động sản xuất mà còn gây tổn hại đến sức khỏe ngƣời dân. Theo Báo cáo hiện trạng môi trƣờng quốc gia giai đoạn 2011 – 2015 [2], trong thời gian qua, nhiều làng nghề đƣợc khôi phục và phát triển đã thu hút đƣợc nhiều nguồn vốn trong dân cƣ, tạo đƣợc việc làm tại chỗ cho hàng chục vạn lao động. Theo số liệu thống kê, đến hết năm 2014, số làng nghề và làng có nghề nƣớc ta là 5.096, trong đó số làng nghề truyền thống đƣợc công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1. Số lƣợng làng nghề miền Bắc chiếm gần 60% số lƣợng các làng nghề trong cả nƣớc, trong đó tập trung nhiều nhất và phát triển mạnh nhất là ở vùng ĐBSH, khu vực miền Trung chiếm khoảng 23,6% và khu vực miền Nam chiếm khoảng 16,6% tổng số làng nghề.
2 Theo Tổng Cục môi trƣờng Việt Nam [15], với 1.350 làng nghề và làng có nghề trên địa bàn Hà Nội, tổng lƣợng nƣớc thải làng nghề phát sinh khoảng 156.000/m3/ngày đêm Trên thực tế, các làng nghề càng phát triển thì tình trạng ô nhiễm môi trƣờng gia tăng, ảnh hƣởng tới môi trƣờng và đời sống nhân dân. Hầu hết các làng nghề trên địa bàn Hà Nội mới chỉ tổ chức thu gom rác thải sinh hoạt, chƣa có hệ thống xử lý nƣớc thải, khí thải, thu gom và xử lý chất thải rắn mà thải thẳng ra môi trƣờng. 100% làng nghề đƣợc quan trắc chất lƣợng nƣớc thải đều có ít nhất ba chỉ tiêu phân tích nƣớc thải vƣợt tiêu chuẩn cho phép. Đặc biệt, các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm có chỉ tiêu quan trắc vƣợt tiêu chuẩn cho phép cao nhất đến 9.200 lần so với quy chuẩn [12] Một số ít làng nghề đƣợc đầu tƣ hệ thống xử lý nƣớc thải nay đã lạc hậu và xuống cấp, do đó việc xử lý không đạt quy chuẩn về nƣớc thải trƣớc khi thải ra môi trƣờng; việc đầu tƣ công nghệ, công suất xử lý nƣớc thải tại một số làng nghề còn chƣa thực tế, tính hiệu quả chƣa cao, công tác bảo trì, bảo dƣỡng chƣa đƣợc quan tâm; chƣa có công tơ đo lƣu lƣợng để đo đếm hoặc theo dõi chính xác lƣợng nƣớc thải; nƣớc thải sinh hoạt và nƣớc thải từ làm nghề chƣa đƣợc tách riêng đối với khu dân cƣ.
Mặc dù TP Hà Nội đã có những biện pháp cụ thể để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trƣờng ở các làng nghề. Tuy nhiên dù đã đƣợc triển khai, song còn rất chậm chạp. Đặc biệt là môi trƣờng của các làng nghề dƣờng nhƣ chƣa đƣợc cải thiện là bao. b) Khái quát chung về môi trƣờng nƣớc tại làng nghề sản xuất tinh bột và miến dong Sản xuất tinh bột và miến dong là ngành nghề có nhu cầu sử dụng nƣớc lớn vì trƣớc khi tráng miến cần phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau, nƣớc thải của sản xuất miến chứa nhiều chất hữu cơ, nhất là các chất hữu cơ dạng tinh bột cùng các chất tẩy màu, mùi.
Nƣớc không đƣợc xử lí mà trực tiếp cùng với nguồn nƣớc thải sinh hoạt trực tiếp thải ra môi trƣờng khiến cho một số điểm xả 3 thải và kênh mƣơng trong làng nhuộm một màu đen ngòm và bốc mùi hôi thối. Các chất ô nhiễm phát sinh từ sản xuất gây ô nhiễm môi trƣờng với các chỉ tiêu cơ bản nhƣ COD, BOD, TSS, đều vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, các chất hữu cơ cao chủ yếu là cacbonhidrat, protein, tinh bột là các chất hữu cơ dễ phân hủy, chuyển hóa sinh học và các hợp chất chứa nitơ ở dạng hữu cơ ( amin, axit amin ) ở dạng vô cơ nhƣ NH4+. NO2-, NO3-…làm giảm chất lƣợng nƣớc và gây ra một số bệnh nguy hiểm cho con ngƣời. Ngoài ra, nƣớc thải tích tụ lâu ngày ngấm vào trong đất cùng với nguồn nƣớc mặt, các hợp chất hữu cơ chuyển từ dạng này sang dạng khác, từ không độc sang dạng độc.
Nhƣ Amoni không gây độc cho cơ thể, nhƣng Nitrit thì cực kì độc với cơ thể con ngƣời. Đặc biệt trong nƣớc thải tinh bột có chứa hàm lƣợng N, P lớn. Chất ô nhiễm tích tụ trong đất gây thoái hóa đất, làm ảnh hƣởng tới năng suất cây trồng và sinh vật đất. Khi đất bị ô nhiễm một thời gian các chất ô nhiễm sẽ theo mạch đất sẽ gây ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm, con ngƣời sử dụng các chất ô nhiễm sẽ tích tụ trong cơ thể và gây ngộ độc.
Tổng quan các hợp chất Nitơ a) Amoni (NH4+ ) - Amoni có công thức hóa học NH3, là chất khí không màu và có mùi khai. Trong nƣớc, Amoni tồn tại dƣới 2 dạng là NH3 và NH4+. Tổng NH3 và NH4+ đƣợc gọi là tổng Amoni tự do. Đối với nƣớc uống, tổng Amoni sẽ bao gồm amoni tự do, monochloramine (NH2Cl), dichloramine (NHCl2) và trichloramine.
- Nhận biết Amoni trong nƣớc: Amoni không tồn tại lâu trong nƣớc mà dễ dàng chuyển thành nitrite. Nitrite trong nƣớc sẽ ức chế men enzim trong thịt cản trở quá trình chuyển màu của thịt. Vì thế, thịt khi nấu trong nƣớc có nhiễm amoni chín nhừ vẫn giữ màu nhƣ thịt sống. Ngoài ra, với những mẫu nƣớc nhiễm amoni từ 20mg/l trở lên có thể ngửi thấy mùi khai” Amoni trong nƣớc sinh hoạt và tác hại tới sức khỏe: - Bản thân Amoni không quá độc với cơ thể, nhƣng nếu tồn tại trong nƣớc với hàm lƣợng vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép, nó có thể chuyển hóa thành 4 các chất gây ung thƣ và các bệnh nguy hiểm khác.
Các nghiên cứu cho thấy, 1g amoni khi chuyển hóa hết sẽ tạo thành 2,7 g nitrit và 3,65 g nitrat. Trong khi hàm lƣợng cho phép trong quy chuẩn của nitrit là 1 mg/lít và nitrat là 10-50 mg/lít (QCVN09-MT:2015/BTNMT: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất lƣợng nƣớc dƣới đất) [19] - Amoni là một trong những yếu tố gây cản trở trong công nghệ xử lý nƣớc cấp: làm giảm tác dụng của clo, giảm hiệu quả khử trùng nƣớc do phản ứng với clo tạo thành monocloamin là chất sát trùng thứ cấp hiệu quả kém clo hơn 100 lần. Amoni cùng với các chất vi lƣợng trong nƣớc (hợp chất hữu cơ, phốt pho, sắt, mangan…) là “thức ăn” để vi khuẩn phát triển, gây ảnh hƣởng tới chất lƣợng nƣớc sau xử lý. Nƣớc có thể bị đục, đóng cặn trong hệ thống dẫn, chứa nƣớc.
Nƣớc bị xuống cấp, làm giảm các yếu tố cảm quan. - Một hiện tƣợng nữa cần đƣợc quan tâm là khi nồng độ amoni trong nƣớc cao, rất dễ sinh nitrit (NO2-). Trong cơ thể động vật, nitrit và nitrat có thể biến thành N – nitroso – là chất tiền ung thƣ. Nƣớc nhiễm amoni còn nghiêm trọng hơn nhiễm asen rất nhiều vì amoni dễ dàng chuyển hoá thành chất độc hại, lại khó xử lý.
Amoni là chất ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời, khi vào trong cơ thể sẽ chiếm mất oxy khiến cho trẻ bị xanh xao, ốm yếu, thiếu máu, khó thở do thiếu oxi tổng máu. - Đến một giai đoạn nào đó khi nhiễm amoni nặng sẽ gây ngộp thở và tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.