Đánh giá mức độ gây ô nhiễm các hợp chất nitơ có trong nước ngầm bởi hoạt động sản xuất miến dong taị xã tân hòa huyện quốc oai thành phố hà nội

Chuyên khảo phân tích Đánh giá mức độ gây ô nhiễm các hợp chất nitơ có trong nước ngầm bởi hoạt động sản xuất miến dong, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2017

89
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về môi trường làng nghề và các hợp chất Nitơ

1.1.1. Tổng quan về môi trường làng nghề

1.1.2. Tổng quan các hợp chất Nitơ

1.2. Tổng quan về nước ngầm

1.2.1. Khái niệm nước ngầm

1.2.2. Phân loại nước ngầm

1.2.3. Đặc điểm nước ngầm

1.2.4. Cấu trúc nước ngầm

1.2.5. Vai trò nước ngầm

1.2.6. Một số chỉ tiêu để đánh giá chất lượng nước ngầm

1.3. Hiện trạng ô nhiễm nước ngầm khu vực ngoại thành Hà Nội

1.4. Tình hình sử dụng nước sạch trong nước và thủ đô Hà Nội

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu

2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp (điều tra thực địa)

2.4.3. Phương pháp phỏng vấn người dân

2.4.4. Phương pháp lấy mẫu ngoài hiện trường

2.4.5. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm [8]

2.4.6. Phương pháp xử lí số liệu nội nghiệp

2.4.7. Phương pháp xây dựng bản đồ phân bố không gian các chỉ tiêu nghiên cứu và bản đồ phân vùng ô nhiễm

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lí

3.1.2. Địa hình thổ nhưỡng

3.2. Đặc điểm kinh tế- xã hội

3.2.1. Dân số và lao động

3.2.2. Đặc điểm kinh tế

3.3. Thuân lợi khó khăn làng nghề

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng và quy trình sản xuất tinh bột, miến dong và định mức dòng thải tại xã Tân Hòa- huyện Quốc Oai- thành phố Hà Nội

4.1.1. Thực trạng sản xuất

4.1.2. Quy trình sản xuất

4.1.3. Định mức dòng thải

4.2. Thực trạng công tác thu gom và xử lý nước thải tại làng nghề

4.3. Thực trạng sử dụng nước ngầm xã Tân Hòa- huyện Quốc Oai- thành phố Hà Nội

4.3.1. Mục đích sử dụng nước ngầm tại xã Tân Hòa

4.3.2. Trữ lượng nước và mức độ khai thác nước ngầm

4.4. Thực trạng chất lượng nước ngầm tại xã Tân Hòa- huyện Quốc Oai- thành phố Hà Nội

4.4.1. Sơ đồ phân bố không gian các điểm lấy mẫu

4.4.2. Kết quả phân tích các chỉ tiêu

4.4.3. Xây dựng bản đồ phân tích không gian hàm lượng các hợp chất Nitơ có trong nước ngầm tại xã Tân Hòa-huyện Quốc Oai-thành phố Hà Nội

4.4.3.1. Phân bố không gian hàm lượng Amoni
4.4.3.2. Phân bố không gian hàm lượng Nitrit
4.4.3.3. Phân bố không gian hàm lượng Nitrat

4.5. Đánh giá nguồn gốc, nguyên nhân ô nhiễm nước ngầm tại xã Tân Hòa- huyện Quốc Oai- thành phố Hà Nội

4.5.1. Nguồn gốc gây ô nhiễm nước ngầm tại xã Tân Hòa- huyện Quốc Oai- thành phố Hà Nội

4.5.2. Nguyên nhân gây ô nhiễm nước ngầm tại xã Tân Hòa- huyện Quốc Oai- thành phố Hà Nội

4.6. Đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm

4.6.1. Giải pháp quản lí

4.6.2. Giải pháp về quy hoạch

4.6.3. Giải pháp luật và chính sách

4.6.4. Giải pháp kĩ thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Báo động ô nhiễm nitơ trong nước ngầm tại làng nghề Tân Hòa

Xã Tân Hòa, huyện Quốc Oai, từ lâu đã nổi tiếng là một trong những vùng trọng điểm chế biến nông sản, đặc biệt là sản xuất miến dong. Hoạt động này không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn đặt ra thách thức lớn về môi trường. Tình trạng ô nhiễm nước ngầm làng nghề đang ngày càng trở nên nghiêm trọng. Nước thải từ quá trình sản xuất, chứa đầy các hợp chất hữu cơ, không qua xử lý đã và đang thẩm thấu xuống các mạch nước ngầm. Đây là nguồn nước sinh hoạt chính của 100% hộ dân trong khu vực. Sự ô nhiễm này là một mối nguy hiểm tiềm tàng, khó nhận biết bằng mắt thường nhưng lại ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Các hợp chất nitơ, bao gồm amoni, nitrit và nitrat, là những tác nhân gây ô nhiễm chính. Khi nồng độ các chất này vượt ngưỡng cho phép, chúng có thể gây ra nhiều bệnh lý nguy hiểm. Đặc biệt, tác hại của nitơ trong nước liên quan trực tiếp đến các bệnh về đường hô hấp, máu và tiềm ẩn nguy cơ ung thư. Nghiên cứu tại làng nghề Tân Hòa cho thấy một bức tranh đáng lo ngại về chất lượng nước ngầm Quốc Oai, đòi hỏi sự quan tâm và các giải pháp cấp bách để bảo vệ môi trường và sức khỏe người dân, hướng tới phát triển bền vững làng nghề.

1.1. Giới thiệu làng nghề sản xuất miến dong xã Tân Hòa

Xã Tân Hòa thuộc huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội, là một làng nghề truyền thống với hoạt động sản xuất tinh bột và miến dong quy mô lớn. Theo thống kê, toàn xã có 50 hộ sản xuất miến dong và 30 hộ sản xuất tinh bột. Hoạt động sản xuất diễn ra quanh năm nhưng tập trung cao điểm từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch. Mặc dù đóng góp đáng kể vào kinh tế địa phương, quy mô sản xuất chủ yếu là nhỏ lẻ, hộ gia đình, dẫn đến việc đầu tư vào hệ thống xử lý môi trường còn rất hạn chế. Đây là nguyên nhân cốt lõi gây ra các tác động môi trường làng nghề tiêu cực, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm nguồn nước.

1.2. Tổng quan về các hợp chất nitơ và tác hại trong nước

Các hợp chất nitơ trong nước tồn tại chủ yếu dưới ba dạng: amoni (NH4+), nitrit (NO2-) và nitrat (NO3-). Amoni bản thân không quá độc nhưng là dấu hiệu của ô nhiễm hữu cơ mới. Nguy hiểm hơn, trong môi trường nước, amoni dễ dàng chuyển hóa thành nitrit và nitrat. Nitrit là một chất cực kỳ độc hại, có khả năng oxy hóa huyết sắc tố trong máu, gây ra bệnh methemoglobinemia (hội chứng trẻ xanh xao), đặc biệt nguy hiểm cho trẻ sơ sinh. Nitrit còn có thể kết hợp với các amin trong cơ thể tạo thành nitrosamine, một hợp chất tiền ung thư. Ngoài ra, sự gia tăng hàm lượng các hợp chất nitơ còn gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước, làm suy giảm chất lượng nước mặt và ảnh hưởng hệ sinh thái thủy sinh.

II. Phân tích nguồn gốc ô nhiễm nitơ từ sản xuất miến dong

Nguồn gây ô nhiễm chính đối với nước ngầm tại Tân Hòa được xác định là từ hoạt động sản xuất tinh bột và miến dong. Quy trình sản xuất truyền thống sử dụng một lượng nước rất lớn và thải ra môi trường một khối lượng nước thải sản xuất miến dong khổng lồ. Theo kết quả khảo sát, lượng nước thải sản xuất chiếm tới 68,4% tổng lượng nước thải toàn xã. Nước thải này chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ dễ phân hủy như tinh bột, protein, cùng với bã dong riềng và các chất tẩy rửa. Đáng chú ý, toàn xã chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung. Nước thải sinh hoạt và sản xuất đều được xả trực tiếp ra hệ thống kênh mương hở. Tình trạng này không chỉ gây ô nhiễm nước mặt nghiêm trọng mà còn tạo điều kiện cho các chất ô nhiễm, đặc biệt là hợp chất nitơ, ngấm sâu xuống lòng đất, đầu độc mạch nước ngầm. Việc thiếu các biện pháp xử lý nước thải công nghiệp ở quy mô làng nghề đã biến hoạt động kinh tế vốn mang lại thu nhập cho người dân trở thành mối đe dọa trực tiếp đến môi trường sống và sức khỏe của chính họ. Hiện trạng môi trường Hà Nội tại các khu vực làng nghề ngoại thành như Tân Hòa là một vấn đề cấp bách cần được giải quyết.

2.1. Quy trình sản xuất miến dong và dòng thải phát sinh

Quy trình sản xuất tinh bột dong bao gồm các công đoạn chính: rửa củ, xay nghiền, lọc tách bã và rửa bột. Mỗi công đoạn này đều sử dụng lượng lớn nước và tạo ra dòng thải ô nhiễm. Cụ thể, để sản xuất 1 tấn nguyên liệu, quá trình này thải ra khoảng 15,7 m³ nước thải và 500 kg chất thải rắn (chủ yếu là bã dong riềng). Tương tự, quy trình sản xuất miến từ bột khô cũng qua các bước ngâm rửa bột, tráng bánh, tạo sợi, với lượng nước thải trung bình từ 3-5 m³/ngày cho một hộ. Nước thải chứa nồng độ chất hữu cơ, COD, BOD và các hợp chất nitơ rất cao.

2.2. Hiện trạng thu gom và xử lý nước thải tại làng nghề

Thực trạng đáng báo động tại làng nghề Tân Hòa là 100% nước thải sản xuất và sinh hoạt không được xử lý. Toàn xã chưa có nhà máy xử lý nước thải tập trung, và từng hộ gia đình cũng không có hệ thống xử lý riêng. Nước thải được xả thẳng ra hệ thống cống rãnh, kênh mương hở. Theo thời gian, các chất hữu cơ trong nước thải phân hủy yếm khí, sinh ra nồng độ amoni (NH4+) cao và các khí có mùi hôi thối, gây ô nhiễm không khí và thẩm thấu xuống tầng nước ngầm, làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm nitrit (NO2-) và nitrat.

III. Phương pháp đánh giá mức độ ô nhiễm nitơ trong nước ngầm

Để có cái nhìn toàn diện và chính xác về chất lượng nước ngầm Quốc Oai tại xã Tân Hòa, một nghiên cứu khoa học bài bản đã được tiến hành. Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa khảo sát thực địa và phân tích trong phòng thí nghiệm. Quá trình quan trắc môi trường nước được thực hiện nghiêm ngặt, từ việc xác định vị trí, lấy mẫu đến bảo quản và phân tích. Các nhà nghiên cứu đã kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, đồng thời tiến hành phỏng vấn người dân để tìm hiểu về thực trạng sản xuất và sử dụng nước. Phương pháp lấy mẫu được thiết kế để bao phủ toàn bộ khu vực, với các điểm lấy mẫu được đánh dấu tọa độ GPS chính xác. Các chỉ tiêu quan trọng như pH, TDS, và đặc biệt là các hợp chất nitơ như amoni, nitrit, nitrat được phân tích bằng các phương pháp tiêu chuẩn. Việc xây dựng bản đồ phân bố không gian các chỉ tiêu ô nhiễm giúp trực quan hóa mức độ và phạm vi ảnh hưởng, cung cấp cơ sở dữ liệu vững chắc để đánh giá nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục hiệu quả.

3.1. Quy trình lấy mẫu và quan trắc môi trường nước ngầm

Nghiên cứu đã tiến hành lấy tổng cộng 42 mẫu nước. Trong đó, 35 mẫu nước ngầm được lấy từ các giếng khoan, giếng đào của các hộ dân trên địa bàn xã Tân Hòa, 4 mẫu nước mặt tại các kênh mương và 3 mẫu nước ngầm đối chứng tại xã Đồng Quang lân cận (nơi ít hoạt động sản xuất). Các mẫu được lấy theo đúng quy trình, bảo quản lạnh ở 4°C và vận chuyển về phòng thí nghiệm để đảm bảo kết quả phân tích không bị sai lệch. Việc lấy mẫu đối chứng giúp so sánh và khẳng định nguồn gây ô nhiễm chính xuất phát từ hoạt động sản xuất miến dong.

3.2. Phân tích chỉ tiêu Amoni NH4 Nitrit NO2 Nitrat NO3

Tại phòng thí nghiệm, các chỉ tiêu hóa học được phân tích bằng thiết bị hiện đại. Nồng độ amoni (NH4+) được xác định bằng phương pháp trắc quang sử dụng thuốc thử Nessler. Ô nhiễm nitrit (NO2-) được đánh giá qua phương pháp Griess. Hàm lượng nitrat trong nước được phân tích dựa trên phản ứng với axit disunfofenic. Các kết quả sau đó được so sánh trực tiếp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất (QCVN 09-MT:2015/BTNMT) để đánh giá mức độ ô nhiễm một cách khách quan và khoa học.

IV. Kết quả đáng báo động về chất lượng nước ngầm tại Tân Hòa

Kết quả phân tích mẫu nước đã phơi bày một thực trạng đáng lo ngại về chất lượng nước ngầm Quốc Oai tại xã Tân Hòa. Hầu hết các mẫu nước ngầm tại khu vực sản xuất đều cho thấy sự hiện diện của các hợp chất nitơ với nồng độ vượt xa tiêu chuẩn cho phép. Đặc biệt, nồng độ amoni (NH4+) trong nhiều mẫu nước giếng khoan vượt quy chuẩn QCVN 09-MT:2015/BTNMT nhiều lần. Phân tích bản đồ phân bố không gian cho thấy các khu vực có mật độ sản xuất cao như thôn 2, thôn 4, và thôn 6 là những điểm nóng ô nhiễm amoni nghiêm trọng nhất. Trong khi đó, các mẫu nước mặt tại kênh mương cho thấy mức độ ô nhiễm còn trầm trọng hơn, với cả amoni và nitrit đều vượt ngưỡng gấp nhiều lần. Điều này chứng tỏ nước thải sản xuất chính là nguồn gốc trực tiếp gây ô nhiễm. Ngược lại, các mẫu nước ngầm đối chứng tại xã Đồng Quang có tất cả các thông số nằm dưới ngưỡng cho phép, càng củng cố thêm kết luận về tác động môi trường làng nghề sản xuất miến dong đến nguồn nước. Những con số biết nói này là lời cảnh báo khẩn thiết về nguy cơ sức khỏe mà người dân Tân Hòa đang phải đối mặt hàng ngày.

4.1. Nồng độ amoni NH4 vượt ngưỡng QCVN 09 MT 2015 BTNMT

Kết quả phân tích cho thấy, nồng độ amoni trong các mẫu nước ngầm tại Tân Hòa có sự biến động lớn, nhưng đa số đều ở mức cao. Một số mẫu ghi nhận hàm lượng amoni cao gấp 8 đến 10 lần so với giới hạn cho phép của QCVN 09-MT:2015/BTNMT (1 mg/l). Amoni cao không chỉ gây mùi khai, ảnh hưởng đến cảm quan của nước mà còn là tiền chất chuyển hóa thành nitrit, một hợp chất độc hại hơn rất nhiều.

4.2. Nguy cơ ô nhiễm nitrit NO2 và hàm lượng nitrat cao

Sự hiện diện của nitrit (NO2-) trong nước ngầm là một chỉ dấu cực kỳ nguy hiểm, cho thấy nguồn nước đã bị ô nhiễm hữu cơ trong thời gian dài. Mặc dù nồng độ nitrit trong một số mẫu chưa vượt ngưỡng quá cao, sự tồn tại của nó cùng với nồng độ amoni lớn cho thấy quá trình chuyển hóa đang diễn ra. Điều này tiềm ẩn nguy cơ bùng phát ô nhiễm nitrit (NO2-) trong tương lai gần. Tương tự, hàm lượng nitrat trong nước cũng được ghi nhận ở mức đáng quan tâm, góp phần làm gia tăng rủi ro sức khỏe cho người sử dụng.

V. Cảnh báo tác hại của nitơ trong nước đến sức khỏe con người

Sự ô nhiễm các hợp chất nitơ trong nước ngầm không chỉ là vấn đề môi trường mà còn là mối đe dọa trực tiếp tới sức khỏe con người. Tác hại của nitơ trong nước biểu hiện qua nhiều bệnh lý nghiêm trọng. Khi cơ thể hấp thụ phải nước có nồng độ nitrit cao, chất này sẽ oxy hóa hemoglobin (chất vận chuyển oxy trong máu) thành methemoglobin. Methemoglobin không có khả năng vận chuyển oxy, dẫn đến tình trạng thiếu oxy trong máu và các mô. Tình trạng này đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi, gây ra bệnh methemoglobinemia với các triệu chứng da xanh xao, khó thở, nếu không được cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong. Ngoài ra, nitrit còn phản ứng với các amin có trong thực phẩm để tạo thành N-nitrosamine, một nhóm hợp chất được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cảnh báo là có khả năng gây ung thư, đặc biệt là ung thư dạ dày và gan. Về mặt môi trường, nồng độ nitơ và phốt pho cao trong nước thải khi chảy ra sông hồ sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước, kích thích tảo và thực vật thủy sinh phát triển bùng nổ, làm cạn kiệt oxy và hủy hoại hệ sinh thái.

5.1. Mối nguy từ bệnh methemoglobinemia ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ là đối tượng nhạy cảm nhất với ngộ độc nitrit. Hệ tiêu hóa của trẻ chưa hoàn thiện, cùng với lượng enzyme khử methemoglobin còn thấp khiến chúng dễ bị ảnh hưởng nặng nề. Sử dụng nước nhiễm nitrit để pha sữa hoặc nấu ăn cho trẻ có thể gây ra bệnh methemoglobinemia. Đây là một tình trạng cấp cứu y tế, đòi hỏi nhận thức và hành động phòng ngừa từ các bậc phụ huynh và cộng đồng, bắt đầu từ việc đảm bảo nguồn nước sinh hoạt an toàn.

5.2. Rủi ro ung thư tiềm tàng từ hợp chất N nitroso và nitrit

Nguy cơ lâu dài của việc sử dụng nước nhiễm nitrit là rủi ro ung thư. Hợp chất N-nitrosamine được hình thành trong môi trường axit của dạ dày khi có sự hiện diện của nitrit và các amin. Việc tiếp xúc thường xuyên với nguồn nước ô nhiễm làm tăng nguy cơ tích lũy các chất độc hại này trong cơ thể, là một trong những yếu tố góp phần vào sự gia tăng các ca bệnh ung thư đường tiêu hóa trong cộng đồng dân cư sử dụng nguồn nước không đảm bảo.

VI. Giải pháp hướng tới phát triển bền vững làng nghề Tân Hòa

Để giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm nước ngầm và đảm bảo phát triển bền vững làng nghề Tân Hòa, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ và quyết liệt. Các giải pháp phải kết hợp giữa kỹ thuật, quản lý, chính sách và nâng cao nhận thức cộng đồng. Về mặt kỹ thuật, việc đầu tư xây dựng một hệ thống xử lý nước thải công nghiệp tập trung cho toàn bộ làng nghề là yêu cầu cấp thiết. Hệ thống này cần có công nghệ phù hợp để xử lý hiệu quả các chất hữu cơ và hợp chất nitơ trong nước thải sản xuất miến dong. Về quản lý và quy hoạch, chính quyền địa phương cần quy hoạch các khu sản xuất tập trung, tách biệt khỏi khu dân cư, đồng thời ban hành các quy định chặt chẽ về xả thải và tăng cường công tác thanh tra, giám sát. Các giải pháp về chính sách cần khuyến khích các hộ sản xuất áp dụng công nghệ sạch hơn, tiết kiệm nước và hỗ trợ tài chính để họ đầu tư hệ thống xử lý tại nguồn. Cuối cùng, yếu tố con người là quan trọng nhất. Cần đẩy mạnh tuyên truyền để người dân hiểu rõ về tác hại của nitơ trong nước và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, xem đây là trách nhiệm chung của cả cộng đồng để cải thiện hiện trạng môi trường Hà Nội.

6.1. Các giải pháp kỹ thuật xử lý nước thải sản xuất miến dong

Các giải pháp kỹ thuật cần được xem xét bao gồm xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung với các công nghệ xử lý sinh học (như bể Aerotank, SBR) kết hợp hóa lý để loại bỏ triệt để các hợp chất nitơ. Trước mắt, có thể khuyến khích các mô hình xử lý quy mô nhỏ tại hộ gia đình như hầm biogas để xử lý chất thải hữu cơ, tận dụng bã dong riềng, vừa giảm ô nhiễm vừa tạo ra năng lượng sạch. Việc cải tiến quy trình sản xuất để tuần hoàn, tái sử dụng nước cũng là một hướng đi hiệu quả.

6.2. Đề xuất về quy hoạch và chính sách quản lý môi trường

Cần có một quy hoạch dài hạn, di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư. Chính quyền cần xây dựng và thực thi nghiêm các chính sách về môi trường, áp dụng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Cần có cơ chế hỗ trợ, ưu đãi về thuế, vốn vay cho các doanh nghiệp, hộ gia đình đầu tư vào công nghệ xử lý chất thải, góp phần bảo vệ chất lượng nước ngầm Quốc Oai và các khu vực lân cận.

6.3. Nâng cao nhận thức cộng đồng để bảo vệ nguồn nước ngầm

Tổ chức các buổi tập huấn, chiến dịch truyền thông về tác động của ô nhiễm đến sức khỏe và kinh tế. Phổ biến kiến thức về các phương pháp xử lý nước đơn giản tại hộ gia đình (bể lọc cát, máy lọc RO) trong khi chờ đợi các giải pháp căn cơ. Vận động người dân tham gia vào công tác quan trắc môi trường nước cộng đồng, giám sát hoạt động xả thải và chung tay bảo vệ nguồn tài nguyên nước quý giá cho thế hệ tương lai.

04/10/2025
Đánh giá mức độ gây ô nhiễm các hợp chất nitơ có trong nước ngầm bởi hoạt động sản xuất miến dong taị xã tân hòa huyện quốc oai thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho GDP của đất nƣớc nói chung và đối với nền kinh tế tại Hà Nội nói riêng. Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã đƣợc khôi phục và đầu tƣ phát triển với quy mô và kĩ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ cho nhu cầu trong nƣớc mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn. Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra với các làng nghề là vấn đề môi trƣờng và sức khỏe của ngƣời lao động, của cộng đồng dân cƣ đang bị ảnh hƣởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của làng nghề. Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của nhà nƣớc cũng nhƣ các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển bền vững các làng nghề.

Đã có nhiều làng nghề đã thay đổi phƣơng thức sản xuất cũng nhƣ quản lí môi trƣờng và thu đƣợc hiệu quả đáng kể. Song còn không ít làng nghề, sản xuất vẫn tăng về quy mô, còn môi trƣờng thì đang càng ngày ô nhiễm trầm trọng. Xã Tân Hòa là một trong những vùng trọng điểm chế biến nông sản thực phẩm của Hà Nội. Cũng nhƣ những làng nghề khác, khu vực này đang bị ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng.

Tuy nhiên, nguồn nƣớc thải và rác thải từ các hoạt động chế biến nông sản thực phẩm không chỉ tác động trực tiếp tới môi trƣờng nƣớc mặt, gây mùi hôi thối, gây mất mỹ quan môi trƣờng làng nghề mà còn có thể gián tiếp thấm qua đất gây ô nhiễm mạch nƣớc ngầm- nguồn nƣớc sinh hoạt và sản xuất chính của ngƣời dân. Song các đề tài nghiên cứu về chất lƣợng nƣớc ngầm tại xã vẫn còn hạn hẹp. Bằng mắt thƣờng ta khó có thể cảm quan đƣợc sự ô nhiễm của các thành phần độc hại có trong nƣớc. Vì vậy để có thể đánh giá một cách toàn diện về chất lƣợng nƣớc ngầm của xã, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Đánh giá mức độ gây ô nhiễm hợp chất Nitơ có trong nước ngầm bởi các hoạt động sản xuất miến dong taị xã Tân Hòa -huyện Quốc Oai- thành phố Hà Nội” 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Tổng quan về môi trƣờng làng nghề và các hợp chất Nitơ 1. Tổng quan về môi trường làng nghề a) Giới thiệu chung về môi trƣờng làng nghề Làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xƣa mà cũng có nghĩa là một nơi quần cƣ đông ngƣời, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cƣơng tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những ngƣời cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phƣơng [11].

Làng nghề là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều sản phẩm đƣợc sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thƣơng phẩm trao đổi, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dƣ thừa lúc nông nhàn. Đa số các làng nghề đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song song với quá trình phát triển KT- XH, văn hóa và nông nghiệp phát triển đất nƣớc [3]. Tình trạng ô nhiễm môi trƣờng tại các làng nghề ở Việt Nam đã ở mức “báo động đỏ”.

Kéo theo nó là những hệ lụy ảnh hƣởng không chỉ đến hoạt động sản xuất mà còn gây tổn hại đến sức khỏe ngƣời dân. Theo Báo cáo hiện trạng môi trƣờng quốc gia giai đoạn 2011 – 2015 [2], trong thời gian qua, nhiều làng nghề đƣợc khôi phục và phát triển đã thu hút đƣợc nhiều nguồn vốn trong dân cƣ, tạo đƣợc việc làm tại chỗ cho hàng chục vạn lao động. Theo số liệu thống kê, đến hết năm 2014, số làng nghề và làng có nghề nƣớc ta là 5.096, trong đó số làng nghề truyền thống đƣợc công nhận theo tiêu chí làng nghề hiện nay của Chính phủ là 1. Số lƣợng làng nghề miền Bắc chiếm gần 60% số lƣợng các làng nghề trong cả nƣớc, trong đó tập trung nhiều nhất và phát triển mạnh nhất là ở vùng ĐBSH, khu vực miền Trung chiếm khoảng 23,6% và khu vực miền Nam chiếm khoảng 16,6% tổng số làng nghề.

2 Theo Tổng Cục môi trƣờng Việt Nam [15], với 1.350 làng nghề và làng có nghề trên địa bàn Hà Nội, tổng lƣợng nƣớc thải làng nghề phát sinh khoảng 156.000/m3/ngày đêm Trên thực tế, các làng nghề càng phát triển thì tình trạng ô nhiễm môi trƣờng gia tăng, ảnh hƣởng tới môi trƣờng và đời sống nhân dân. Hầu hết các làng nghề trên địa bàn Hà Nội mới chỉ tổ chức thu gom rác thải sinh hoạt, chƣa có hệ thống xử lý nƣớc thải, khí thải, thu gom và xử lý chất thải rắn mà thải thẳng ra môi trƣờng. 100% làng nghề đƣợc quan trắc chất lƣợng nƣớc thải đều có ít nhất ba chỉ tiêu phân tích nƣớc thải vƣợt tiêu chuẩn cho phép. Đặc biệt, các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm có chỉ tiêu quan trắc vƣợt tiêu chuẩn cho phép cao nhất đến 9.200 lần so với quy chuẩn [12] Một số ít làng nghề đƣợc đầu tƣ hệ thống xử lý nƣớc thải nay đã lạc hậu và xuống cấp, do đó việc xử lý không đạt quy chuẩn về nƣớc thải trƣớc khi thải ra môi trƣờng; việc đầu tƣ công nghệ, công suất xử lý nƣớc thải tại một số làng nghề còn chƣa thực tế, tính hiệu quả chƣa cao, công tác bảo trì, bảo dƣỡng chƣa đƣợc quan tâm; chƣa có công tơ đo lƣu lƣợng để đo đếm hoặc theo dõi chính xác lƣợng nƣớc thải; nƣớc thải sinh hoạt và nƣớc thải từ làm nghề chƣa đƣợc tách riêng đối với khu dân cƣ.

Mặc dù TP Hà Nội đã có những biện pháp cụ thể để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trƣờng ở các làng nghề. Tuy nhiên dù đã đƣợc triển khai, song còn rất chậm chạp. Đặc biệt là môi trƣờng của các làng nghề dƣờng nhƣ chƣa đƣợc cải thiện là bao. b) Khái quát chung về môi trƣờng nƣớc tại làng nghề sản xuất tinh bột và miến dong Sản xuất tinh bột và miến dong là ngành nghề có nhu cầu sử dụng nƣớc lớn vì trƣớc khi tráng miến cần phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau, nƣớc thải của sản xuất miến chứa nhiều chất hữu cơ, nhất là các chất hữu cơ dạng tinh bột cùng các chất tẩy màu, mùi.

Nƣớc không đƣợc xử lí mà trực tiếp cùng với nguồn nƣớc thải sinh hoạt trực tiếp thải ra môi trƣờng khiến cho một số điểm xả 3 thải và kênh mƣơng trong làng nhuộm một màu đen ngòm và bốc mùi hôi thối. Các chất ô nhiễm phát sinh từ sản xuất gây ô nhiễm môi trƣờng với các chỉ tiêu cơ bản nhƣ COD, BOD, TSS, đều vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, các chất hữu cơ cao chủ yếu là cacbonhidrat, protein, tinh bột là các chất hữu cơ dễ phân hủy, chuyển hóa sinh học và các hợp chất chứa nitơ ở dạng hữu cơ ( amin, axit amin ) ở dạng vô cơ nhƣ NH4+. NO2-, NO3-…làm giảm chất lƣợng nƣớc và gây ra một số bệnh nguy hiểm cho con ngƣời. Ngoài ra, nƣớc thải tích tụ lâu ngày ngấm vào trong đất cùng với nguồn nƣớc mặt, các hợp chất hữu cơ chuyển từ dạng này sang dạng khác, từ không độc sang dạng độc.

Nhƣ Amoni không gây độc cho cơ thể, nhƣng Nitrit thì cực kì độc với cơ thể con ngƣời. Đặc biệt trong nƣớc thải tinh bột có chứa hàm lƣợng N, P lớn. Chất ô nhiễm tích tụ trong đất gây thoái hóa đất, làm ảnh hƣởng tới năng suất cây trồng và sinh vật đất. Khi đất bị ô nhiễm một thời gian các chất ô nhiễm sẽ theo mạch đất sẽ gây ô nhiễm nguồn nƣớc ngầm, con ngƣời sử dụng các chất ô nhiễm sẽ tích tụ trong cơ thể và gây ngộ độc.

Tổng quan các hợp chất Nitơ a) Amoni (NH4+ ) - Amoni có công thức hóa học NH3, là chất khí không màu và có mùi khai. Trong nƣớc, Amoni tồn tại dƣới 2 dạng là NH3 và NH4+. Tổng NH3 và NH4+ đƣợc gọi là tổng Amoni tự do. Đối với nƣớc uống, tổng Amoni sẽ bao gồm amoni tự do, monochloramine (NH2Cl), dichloramine (NHCl2) và trichloramine.

- Nhận biết Amoni trong nƣớc: Amoni không tồn tại lâu trong nƣớc mà dễ dàng chuyển thành nitrite. Nitrite trong nƣớc sẽ ức chế men enzim trong thịt cản trở quá trình chuyển màu của thịt. Vì thế, thịt khi nấu trong nƣớc có nhiễm amoni chín nhừ vẫn giữ màu nhƣ thịt sống. Ngoài ra, với những mẫu nƣớc nhiễm amoni từ 20mg/l trở lên có thể ngửi thấy mùi khai” Amoni trong nƣớc sinh hoạt và tác hại tới sức khỏe: - Bản thân Amoni không quá độc với cơ thể, nhƣng nếu tồn tại trong nƣớc với hàm lƣợng vƣợt quá tiêu chuẩn cho phép, nó có thể chuyển hóa thành 4 các chất gây ung thƣ và các bệnh nguy hiểm khác.

Các nghiên cứu cho thấy, 1g amoni khi chuyển hóa hết sẽ tạo thành 2,7 g nitrit và 3,65 g nitrat. Trong khi hàm lƣợng cho phép trong quy chuẩn của nitrit là 1 mg/lít và nitrat là 10-50 mg/lít (QCVN09-MT:2015/BTNMT: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất lƣợng nƣớc dƣới đất) [19] - Amoni là một trong những yếu tố gây cản trở trong công nghệ xử lý nƣớc cấp: làm giảm tác dụng của clo, giảm hiệu quả khử trùng nƣớc do phản ứng với clo tạo thành monocloamin là chất sát trùng thứ cấp hiệu quả kém clo hơn 100 lần. Amoni cùng với các chất vi lƣợng trong nƣớc (hợp chất hữu cơ, phốt pho, sắt, mangan…) là “thức ăn” để vi khuẩn phát triển, gây ảnh hƣởng tới chất lƣợng nƣớc sau xử lý. Nƣớc có thể bị đục, đóng cặn trong hệ thống dẫn, chứa nƣớc.

Nƣớc bị xuống cấp, làm giảm các yếu tố cảm quan. - Một hiện tƣợng nữa cần đƣợc quan tâm là khi nồng độ amoni trong nƣớc cao, rất dễ sinh nitrit (NO2-). Trong cơ thể động vật, nitrit và nitrat có thể biến thành N – nitroso – là chất tiền ung thƣ. Nƣớc nhiễm amoni còn nghiêm trọng hơn nhiễm asen rất nhiều vì amoni dễ dàng chuyển hoá thành chất độc hại, lại khó xử lý.

Amoni là chất ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời, khi vào trong cơ thể sẽ chiếm mất oxy khiến cho trẻ bị xanh xao, ốm yếu, thiếu máu, khó thở do thiếu oxi tổng máu. - Đến một giai đoạn nào đó khi nhiễm amoni nặng sẽ gây ngộp thở và tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ