Khóa luận kế toán thuế XNK và thuế GTGT tại Công ty Cổ phần Dệt may Huế

Đánh giá chi tiết ưu nhược điểm trong công tác kế toán thuế XNK và GTGT tại Công ty Cổ phần Dệt may Huế, kèm giải pháp hoàn thiện hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2015

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về công tác kế toán thuế XNK và GTGT

Công tác kế toán thuế xuất nhập khẩu (XNK) và thuế giá trị gia tăng (GTGT) đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp, đặc biệt tại các công ty sản xuất như Công ty Cổ phần Dệt may Huế. Thuế XNK điều tiết hoạt động nhập khẩu nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất, trong khi thuế GTGT ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và chi phí hoạt động. Việc tổ chức kế toán hai loại thuế này đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật, bao gồm Luật Thuế XNK, Luật Thuế GTGT và các thông tư hướng dẫn. Tại CTCP Dệt may Huế, công tác kế toán thuế XNK và GTGT được triển khai thông qua hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán chuyên biệt, nhằm đảm bảo tính minh bạch và chính xác trong kê khai, nộp thuế.

1.1. Đặc điểm của kế toán thuế XNK

Kế toán thuế XNK tại CTCP Dệt may Huế tập trung vào quản lý thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất như vải, chỉ, phụ liệu may mặc. Đặc điểm chính là sự đa dạng về loại thuế suất, phụ thuộc vào xuất xứ và loại hàng hóa nhập khẩu. Công ty sử dụng tài khoản 3333 để theo dõi nghĩa vụ thuế, với chứng từ chủ yếu là tờ khai hải quan điện tử, hóa đơn GTGT nhập khẩu và biên lai nộp thuế. Quy trình kế toán bao gồm hạch toán trị giá hàng hóa nhập khẩu, ghi nhận thuế NK phải nộp và theo dõi thời hạn nộp thuế, đặc biệt đối với hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu (thời hạn tối đa 275 ngày).

1.2. Đặc điểm của kế toán thuế GTGT

Kế toán thuế GTGT tại doanh nghiệp được thực hiện theo phương pháp khấu trừ, với tài khoản 33311 theo dõi nghĩa vụ thuế đầu ra và tài khoản 133 theo dõi thuế đầu vào được khấu trừ. Chứng từ quan trọng bao gồm hóa đơn GTGT, biên lai nộp thuế và sổ sách kế toán chi tiết. Điểm đặc biệt là việc quản lý thuế GTGT đầu vào và đầu ra, đảm bảo bù trừ hợp lý giữa hai khoản. Tại CTCP Dệt may Huế, kế toán thuế GTGT còn liên quan đến việc hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, yêu cầu doanh nghiệp phải lập hồ sơ chứng minh đủ điều kiện hoàn thuế theo quy định.

II. Phân tích ưu nhược điểm trong công tác kế toán thuế XNK

Công tác kế toán thuế XNK tại CTCP Dệt may Huế tồn tại cả ưu điểm và hạn chế rõ rệt. Ưu điểm nổi bật là sự tuân thủ cao các quy định pháp luật, với hệ thống chứng từ kế toán được tổ chức chặt chẽ, bao gồm tờ khai hải quan điện tử, hợp đồng ngoại thương và biên lai nộp thuế. Doanh nghiệp cũng áp dụng phần mềm kế toán tiên tiến, giúp tự động hóa quá trình kê khai và nộp thuế, giảm thiểu sai sót. Tuy nhiên, tồn tại nhiều bất cập như sự phức tạp trong tính toán thuế do đa dạng thuế suất, thời gian xử lý hồ sơ hải quan kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất. Ngoài ra, việc quản lý thuế NK cho hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa phòng kế toán, phòng XNK và hải quan, dễ phát sinh sai sót nếu quy trình không được chuẩn hóa.

2.1. Những hạn chế trong quy trình kế toán thuế XNK

Một trong những hạn chế lớn nhất là sự chậm trễ trong quá trình kê khai và nộp thuế do quy trình thủ công tại hải quan. Mặc dù doanh nghiệp đã áp dụng hệ thống hải quan điện tử, nhưng sự phụ thuộc vào cán bộ hải quan trong việc giải quyết hồ sơ vẫn gây ra tình trạng ùn tắc. Thêm vào đó, việc quản lý thuế NK cho các lô hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu (thời hạn 275 ngày) đòi hỏi doanh nghiệp phải theo dõi sát sao, nhưng nhiều trường hợp do thiếu kinh nghiệm, doanh nghiệp không kịp thời lập hồ sơ thanh khoản, dẫn đến bị phạt chậm nộp thuế. Ngoài ra, sự biến động của chính sách thuế NK (thay đổi thuế suất theo hiệp định thương mại) cũng tạo áp lực lên bộ phận kế toán trong việc cập nhật kịp thời.

2.2. Rủi ro về sai sót trong hạch toán thuế XNK

Rủi ro sai sót trong hạch toán thuế XNK chủ yếu xuất phát từ việc phân loại hàng hóa nhập khẩu không chính xác, dẫn đến khai báo sai thuế suất. Tại CTCP Dệt may Huế, nhiều trường hợp hàng hóa nhập khẩu bị nhầm lẫn giữa thuế suất 0% (hàng sản xuất xuất khẩu) và thuế suất thông thường, gây thiệt hại về chi phí thuế. Ngoài ra, việc ghi nhận thuế NK vào chi phí sản xuất (tài khoản 152, 156) thay vì theo dõi riêng trên tài khoản 3333 cũng dẫn đến khó khăn trong việc đối chiếu số liệu thuế. Sự thiếu nhất quán trong việc áp dụng phương pháp hạch toán giữa các bộ phận kế toán cũng là nguyên nhân gây ra sai lệch trong báo cáo tài chính.

III. Phân tích ưu nhược điểm trong công tác kế toán thuế GTGT

Công tác kế toán thuế GTGT tại CTCP Dệt may Huế có những ưu điểm đáng ghi nhận như hệ thống hóa chứng từ chặt chẽ, bao gồm hóa đơn GTGT đầu vào, đầu ra và biên lai nộp thuế. Doanh nghiệp áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, giúp tối ưu hóa dòng tiền bằng cách bù trừ thuế đầu ra và đầu vào. Bên cạnh đó, việc sử dụng phần mềm kế toán hiện đại giúp tự động hóa quá trình kê khai thuế, giảm thiểu sai sót trong tính toán. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều hạn chế như sự phức tạp trong quản lý thuế GTGT đối với hàng hóa xuất khẩu, đòi hỏi doanh nghiệp phải lập hồ sơ chứng minh đủ điều kiện hoàn thuế. Ngoài ra, việc theo dõi chênh lệch thuế GTGT đầu vào và đầu ra đòi hỏi sự chính xác cao, nhưng nhiều trường hợp do thiếu kinh nghiệm, doanh nghiệp không phân bổ đúng tỷ lệ thuế được khấu trừ, dẫn đến sai lệch trong báo cáo.

3.1. Hạn chế trong quản lý thuế GTGT đầu vào

Một trong những hạn chế chính là việc quản lý thuế GTGT đầu vào không hiệu quả do thiếu sự phân loại rõ ràng giữa hàng hóa chịu thuế 0% (hàng xuất khẩu) và hàng hóa chịu thuế 10%. Tại CTCP Dệt may Huế, nhiều hóa đơn GTGT đầu vào không được tách biệt theo đúng quy định, dẫn đến khó khăn trong việc kê khai và khấu trừ thuế. Ngoài ra, việc theo dõi số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ trên tài khoản 133 đòi hỏi sự chính xác cao, nhưng nhiều trường hợp do thiếu kiểm soát, doanh nghiệp không đối chiếu kịp thời với hóa đơn đầu vào, dẫn đến sai lệch trong báo cáo thuế.

3.2. Khó khăn trong hoàn thuế GTGT

Hoàn thuế GTGT là quy trình phức tạp đòi hỏi doanh nghiệp phải lập hồ sơ đầy đủ chứng minh hàng hóa đủ điều kiện hoàn thuế. Tại CTCP Dệt may Huế, việc hoàn thuế GTGT đối với hàng xuất khẩu gặp nhiều khó khăn do yêu cầu về chứng từ không đầy đủ hoặc không đúng quy định. Nhiều trường hợp doanh nghiệp không nắm rõ thủ tục, dẫn đến hồ sơ bị từ chối hoàn thuế, gây ảnh hưởng đến dòng tiền. Ngoài ra, thời gian xử lý hồ sơ hoàn thuế kéo dài (thường từ 3-6 tháng) cũng tạo áp lực tài chính cho doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh thiếu vốn lưu động.

IV. Giải pháp hoàn thiện công tác kế toán thuế XNK và GTGT

Để nâng cao hiệu quả công tác kế toán thuế XNK và GTGT, CTCP Dệt may Huế cần triển khai nhiều giải pháp thiết thực. Thứ nhất, doanh nghiệp nên đầu tư vào đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ kế toán, đặc biệt về cập nhật chính sách thuế và quy trình hải quan điện tử. Thứ hai, việc áp dụng phần mềm kế toán tích hợp (như SAP, Oracle) sẽ giúp tự động hóa quá trình hạch toán, giảm thiểu sai sót và tăng tốc độ xử lý chứng từ. Thứ ba, doanh nghiệp cần xây dựng quy trình chuẩn hóa cho công tác kế toán thuế, bao gồm phân loại hàng hóa nhập khẩu, theo dõi chặt chẽ thời hạn nộp thuế và lập hồ sơ hoàn thuế đúng hạn. Ngoài ra, việc tăng cường phối hợp giữa phòng kế toán, phòng XNK và hải quan cũng giúp giảm thiểu rủi ro sai sót trong quá trình kê khai thuế.

4.1. Nâng cao năng lực nhân sự kế toán

Đội ngũ kế toán tại CTCP Dệt may Huế cần được đào tạo chuyên sâu về luật thuế, đặc biệt là các thay đổi trong chính sách thuế XNK và GTGT. Doanh nghiệp nên tổ chức các khóa đào tạo định kỳ với sự tham gia của chuyên gia thuế, nhằm cập nhật kịp thời các quy định mới. Ngoài ra, việc phân công rõ ràng trách nhiệm giữa các bộ phận kế toán (kế toán thuế XNK, kế toán thuế GTGT, kế toán tổng hợp) cũng giúp nâng cao hiệu quả công việc. Doanh nghiệp cũng nên khuyến khích nhân viên tham gia các chứng chỉ chuyên môn như CPA, ACCA để nâng cao năng lực chuyên môn.

4.2. Ứng dụng công nghệ trong quản lý thuế

Việc ứng dụng công nghệ thông tin là giải pháp then chốt để cải thiện công tác kế toán thuế. Doanh nghiệp nên triển khai phần mềm kế toán tích hợp, có khả năng tự động hóa quá trình kê khai thuế, đối chiếu chứng từ và theo dõi nghĩa vụ thuế. Phần mềm nên tích hợp với hệ thống hải quan điện tử, giúp doanh nghiệp theo dõi tình trạng hồ sơ nhập khẩu và nộp thuế kịp thời. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng nên sử dụng các công cụ phân tích dữ liệu (như Power BI) để theo dõi chênh lệch thuế GTGT đầu vào và đầu ra, từ đó tối ưu hóa quá trình khấu trừ thuế. Việc số hóa toàn bộ chứng từ kế toán cũng giúp giảm thiểu rủi ro mất mát hoặc hư hỏng hồ sơ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Đánh giá một số ưu nhược điểm trong công tác kế toán thuế xnk và thuế gtgt tại công ty cổ phần dệt may huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ, KẾ TOÁN THUẾ XNK VÀ THUẾ GTTGT  1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Với sự phát triển không ngừng chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế hàng hoá – tiền tệ, thuế ngày càng mang một ý nghĩa qua trọng, cũng phát triển phong phú, đa dạng hơn.1 Khái niệm Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa có thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế. Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau. Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “ Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước.

Trên góc độ phân phối thu nhập: “ Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.” Trên góc độ người nộp thuế: “ Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.” Trên góc độ kinh tế học : “ Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của nhà nước.” Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Diệu Linh 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Ngọc Theo từ điển tiếng việt : “ Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định.” Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra được một số đặc trưng chung của thuế là: Thứ nhất, nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các mối quan hệ tiền tệ phát sinh dưới nhà nước và các pháp nhân, các thể nhân trong xã hội. Thứ hai, những mỗi quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ỹ nghĩa xã hội đặc biệt việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước. Thứ ba, xét theo khía cạnh pháp luật, thuế là một khoản nộp cho nhà nước được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.

Từ các đặc trưng trên của thuế , ta có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế là: “ Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung toàn xã hội.2 Đặc điểm của thuế : Thuế có những thuộc tính tương đối ổn định qua từng giai đoạn phát triển và biểu hiện thành những đặc điểm riêng có của nó, qua đó giúp ta phân biệt thuế với các công cụ khác. Những đặc điểm đó là: Tính bắt buộc: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc mà các pháp nhân, thể nhân phải nộp theo Luật thuế. Thuế được đảm bảo bằng quyền lực chính trị đặc biệt của Nhà nước, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người nộp thuế. Tính không hoàn trả trực tiếp: Thuế không mang tính chất hoàn trả trực tiếp, tức là trước khi nộp thuế thì Nhà nước không hứa hẹn cung ứng trực tiếp dịch vụ công và sau khi nộp thuế cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế.

Khoản thu mà Nhà nước đã thu của người nộp thuế sẽ được sử dụng vào những mục đích chung của xã hội như: quốc phòng, giáo dục, y tế, các công trình xây dựng,…Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được biểu hiện người nộp thuế được hưởng gián tiếp qua những công trình công cộng mà Nhà nước xây dựng. Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Diệu Linh 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Ngọc Tính pháp lý: Thuế mang tính chất pháp lý và cưỡng chế. Điều này được thể hiện qua việc ban hành các sắc thuế, luật thuế cụ thể cho từng loại thuế.

Luật thuế bao gồm những quy định cần thiết về phạm vi, hình thức, các thủ tục và quy trình pháp lý liên quan đến nghĩa vụ nộp thuế.3 Chức năng và vai trò của thuế đối với nền kinh tế quốc dân:  Thuế có chức năng: - Chức năng phân phối và phân phối lại: là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế. - Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế: thông qua các quy định về thuế, Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạo chung của nền kinh tế quốc dân.  Thuế có vai trò: - Là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho Nhà nước. - Là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô phù hợp với sự phát triển kinh tế của từng thời kỳ.

- Là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối. - Là công cụ thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh.2 THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU VÀ THUẾ GIÁ TRỊ GIÁ TĂNG 1.1 Thuế xuất nhập khẩu 1.1 Khái niệm Thuế xuất khẩu, nhập khẩu (thuế XNK) là loại thuế gián thu, đánh vào hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu trong quan hệ thương mại quốc tế.2 Đặc điểm Thuế XK, thuế NK là loại thuế gián thu, tiền thuế phải nộp cấu thành trong giá cả hàng hoá; Người tiêu dùng hàng hoá XNK phải gánh chịu loại thuế này. Người nộp thuế XNK không đồng thời là người tiêu dùng hàng hoá XNK thì không gánh chịu mà chỉ nộp thuế thay cho người tiêu dùng hàng hoá XNK đó. Thuế XK, thuế NK là sắc thuế gắn liền với hoạt động ngoại thương: luôn vận động và gắn chặt với hoạt động đối ngoại và thay đổi theo các mối quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia trong từng thời kỳ.

Thuế XK, thuế NK chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố quốc tế như: sự biến động nền kinh tế thế giới, xu hướng thương mại, quốc tế; Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Diệu Linh 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Ngọc 1.3 Vai trò Thuế XK, thuế NK là công cụ quan trọng để nhà nước kiểm soát hoạt động ngoại thương, thể hiện chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao hiệu quả hoạt động XNK, phát triển và bảo vệ sản xuất, hướng dẫn tiêu dùng, khuyến khích đầu tư sản xuất hàng hoá trong nước, cung cấp hàng hoá cho thị trường nội địa và sản xuất. Thuế XK là hàng rào thuế quan bảo hộ hàng trong nước nhằm hạn chế xuất khẩu những mặt hàng thiết yếu và những loại vật tư, nguyên liệu quý hiếm, mặt khác cũng tạo điều kiện để hàng trong nước xuất khẩu ra nước ngoài. Thuế NK đánh vào giá trị hàng nhập khẩu vào trong nước nhằm bảo hộ sự xâm nhập của hàng ngoại vào thị trường trong nước, từ đó thúc đẩy sự phát triển của sản xuất hàng hoá nội địa.

Thuế XK, thuế NK là một nguồn thu quan trọng cho NSNN.4 Hệ thống pháp luật thuế xuất nhập khẩu - Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/062005; - Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10/09/2013 của Bộ tài chính quy định về thủ tục Hải quan, kiểm tra, giám sát Hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. - Thông tư 163/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Khu vực Thương mại Tự do ASEAN – Hàn Quốc giai đoạn 2012-2014. - Thông tư số 162/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Khu vực Thương mại Tự do ASEAN – Trung Quốc giai đoạn 2012-2014. - Thông tư số 20/2012/TT-BTC về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản giai đoạn 2012-2015 do Bộ Tài chính ban hành.

- Thông tư số 45/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại Hàng hoá ASEAN-Ấn Độ giai đoạn 2012-2014. Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Diệu Linh 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Phạm Thị Bích Ngọc 1.5 Đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế xuất nhập khẩu  Đối tượng chịu thuế Đối tượng chịu thuế XNK là tất cả hàng hoá được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới Việt Nam bao gồm: - Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam. - Hàng hoá được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan vào thị trường trong nước.

- Hàng hoá mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hoá xuất, nhập khẩu.  Đối tượng không chịu thuế - Hàng hoá vận chuyển quá cảnh qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam theo qui định của pháp luật. - Hàng hoá viện trợ nhân đạo, hàng hoá viện trợ không hoàn lại của các Chính phủ, các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, các tổ chức lien chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (NGO), các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân người nước ngoài cho Việt Nam và ngược lại. - Hàng hóa từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài, hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan, hàng hóa đưa từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác; - Hàng hoá là phần dầu khí thuộc thuế tài nguyên của Nhà nước khi xuất khẩu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ