Tổng quan nghiên cứu

Độ che phủ rừng tại Việt Nam đã có sự phục hồi ấn tượng từ mức 27,8% vào cuối thập niên 80 lên 40,3% vào năm 2017. Tuy nhiên, diện tích rừng tự nhiên giàu trữ lượng vẫn suy giảm nghiêm trọng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc chuyển đổi phương thức quản lý tài nguyên sang mô hình có sự tham gia của người dân. Dự án Khôi phục rừng và quản lý rừng bền vững (KfW6) do Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức viện trợ đã triển khai thí điểm mô hình quản lý rừng cộng đồng tại tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2006 đến năm 2014. Khi dự án kết thúc, câu hỏi lớn đặt ra là làm thế nào để duy trì tính bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình này trong điều kiện không còn nguồn tài trợ trực tiếp từ tổ chức quốc tế.

Nghiên cứu tập trung đánh giá tính bền vững toàn diện của mô hình quản lý rừng cộng đồng tại xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi trên tổng diện tích 1.012,43 ha rừng tự nhiên được giao cho 2 thôn Khánh Giang (403,60 ha) và Trường Lệ (608,80 ha). Mục tiêu then chốt của luận văn là phân tích tiến trình giao đất giao rừng theo Thông tư số 38/2007/TT-BNN&PTNT, làm rõ cơ chế chia sẻ lợi ích, đánh giá năng lực thể chế cấp thôn bản và lượng hóa các tác động sinh kế đối với 3.926 người dân địa phương. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong việc giải quyết bài toán giảm nghèo tại các thôn đặc thù có tỷ lệ hộ nghèo cao như Trường Lệ (39,52%) và Khánh Giang (22%), đồng thời bảo vệ hệ sinh thái rừng đầu nguồn lưu vực sông Vệ và hồ chứa nước Suối Chí.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển bền vững của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED 1987) và Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất Rio 1992, nhấn mạnh sự cân bằng hài hòa giữa ba trụ cột: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Song song đó, đề tài vận dụng 7 nguyên tắc phát triển bền vững của Luc Hens (1998), đặc biệt là nguyên tắc phân quyền và ủy quyền cho cộng đồng địa phương trong việc sở hữu, quản lý tài nguyên thiên nhiên tại chỗ.

Khung phân tích lâm nghiệp cộng đồng (Community Forestry) theo định nghĩa của FAO (1978, 1991) và Arnold (1992) được sử dụng để làm rõ cơ chế tương tác giữa người dân với cây rừng và các chuỗi giá trị lâm sản ngoài gỗ. Luận văn cũng hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi bao gồm: Quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn ITTO và Tiến trình Helsinki 1995; Quyền hưởng dụng rừng (Forest Tenure Rights); và Quy ước bảo vệ phát triển rừng cấp thôn theo tinh thần Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 cùng Luật Đất đai năm 2013.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng (Stratified Random Sampling) để khảo sát trực tiếp 70 hộ gia đình tại 2 thôn Khánh Giang và Trường Lệ, đảm bảo dung lượng mẫu mỗi thôn đạt từ 30 hộ trở lên nhằm phản ánh chính xác cấu trúc thu nhập và mức độ phụ thuộc sinh kế vào tài nguyên rừng. Phương pháp phân tầng được lựa chọn vì tính chất đa dạng về điều kiện kinh tế của địa phương, nơi có sự chênh lệch lớn giữa các nhóm hộ thuần nông và nhóm hộ nhận khoán quản lý bảo vệ rừng.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua các công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), bao gồm lập sơ đồ tài nguyên, phân tích lịch sử thôn bản và các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với 6 cán bộ quản lý chủ chốt (2 cán bộ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi, 2 cán bộ Hạt Kiểm lâm và Phòng Nông nghiệp huyện Nghĩa Hành, 2 trưởng ban quản lý thôn) cùng các chuyên gia dự án KfW6. Toàn bộ số liệu định lượng được xử lý thống kê mô tả trên phần mềm Excel; dữ liệu định tính được xử lý qua ma trận phân tích thể chế và phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT). Sự kết hợp phương pháp này đảm bảo tính khách quan và khoa học trong việc đánh giá hiệu quả đa chiều của chính sách sau 10 năm thực thi (2008-2018).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra rằng quy trình 8 bước xây dựng mô hình quản lý rừng cộng đồng của dự án KfW6 đã tạo lập được cấu trúc quản trị cơ sở vững chắc. Hai Ban quản lý lâm nghiệp cộng đồng được thành lập với 10 nhân sự thường trực (5 người mỗi thôn) cùng 2 Tổ bảo vệ rừng gồm 14 thành viên nòng cốt (Trường Lệ 8 người, Khánh Giang 6 người). Về mặt sinh thái, toàn bộ 1.012,43 ha rừng tự nhiên giao cho cộng đồng được giữ vững, chất lượng thảm thực vật phục hồi rõ rệt, không xảy ra các vụ cháy rừng hay phá rừng quy mô lớn trong suốt chu kỳ theo dõi.

Về mặt kinh tế, cộng đồng thôn Trường Lệ đã thực hiện thành công 2 đợt khai thác gỗ thương mại thí điểm theo kế hoạch phát triển rừng bền vững vào các năm 2009 và 2011, tạo lập nguồn thu nhập hợp pháp và hình thành Quỹ phát triển rừng thôn bản. Về mặt xã hội, quyền làm chủ tài nguyên của người dân được củng cố rõ nét qua việc 100% các hộ gia đình tham gia xây dựng Quy ước bảo vệ và phát triển rừng theo Thông tư số 70/2007/TT-BNN. Tuy nhiên, sau khi dự án KfW6 kết thúc vào năm 2014, nguồn kinh phí chi trả công tuần tra bảo vệ rừng trực tiếp cho người dân bị suy giảm từ mức hỗ trợ dự án xuống mức rất thấp, tạo ra áp lực sinh kế lớn đối với 26,8% hộ cận nghèo tại thôn Khánh Giang và 39,52% hộ nghèo tại thôn Trường Lệ.

Thảo luận kết quả

Sự ổn định của diện tích 1.012,43 ha rừng tự nhiên tại xã Hành Tín Đông chứng minh tính ưu việt của mô hình quản lý dựa vào cộng đồng so với cơ chế quản lý nhà nước tập trung trước đây. Khi quyền quản lý và ranh giới rừng được xác lập rõ ràng bằng công nghệ định vị vệ tinh GPS kết hợp cắm mốc thực địa, ý thức bảo vệ tài sản chung của người dân tăng lên vượt bậc. Kết quả này tương đồng với các bài học kinh nghiệm quốc tế như mô hình quản lý rừng có sự tham gia (JFM) tại Ấn Độ hay mô hình nhóm người sử dụng rừng (FUG) tại Nepal – nơi 1,2 triệu ha rừng đã được giao thành công cho cộng đồng quản lý bền vững.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở chuỗi giá trị và cơ chế tự chủ tài chính. Khi các hỗ trợ ngân sách quốc tế khép lại, Quỹ phát triển rừng thôn bản chưa thể tự bù đắp chi phí vận hành nếu chỉ trông chờ vào khai thác gỗ định kỳ vốn có chu kỳ luân chuyển dài. Các dữ liệu này được thể hiện rõ nét qua các bảng tổng hợp dòng tiền hoạt động tuần tra và biểu đồ so sánh cơ cấu thu nhập hộ gia đình từ năm 2008 đến năm 2017. Nếu không sớm lồng ghép các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn với 11km lưu vực sông Vệ và khai thác tiềm năng du lịch sinh thái hồ Suối Chí, mô hình sẽ đứng trước nguy cơ suy thoái về năng lực tuần tra giám sát.

Đề xuất và khuyến nghị

Nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm duy trì và phát triển bền vững mô hình quản lý rừng cộng đồng tại huyện Nghĩa Hành:

Thứ nhất, hoàn thiện giải pháp kỹ thuật lâm sinh: Hạt Kiểm lâm huyện Nghĩa Hành phối hợp cùng Ban Quản lý rừng 2 thôn triển khai chu kỳ điều tra trữ lượng rừng 5 năm một lần; áp dụng các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợp làm giàu rừng bằng các loài cây bản địa có giá trị kinh tế cao trên 1.012,43 ha rừng hiện có; thời gian thực hiện liên tục giai đoạn 2019-2023.

Thứ hai, đa dạng hóa cơ chế chia sẻ lợi ích và phát triển sinh kế: UBND xã Hành Tín Đông chủ trì xây dựng đề án du lịch sinh thái cộng đồng dựa trên lợi thế cảnh quan hồ Suối Chí và di tích lịch sử quốc gia Trường Lũy; trích từ 20% đến 30% doanh thu dịch vụ du lịch để bổ sung trực tiếp vào Quỹ phát triển rừng thôn bản; hoàn thành phê duyệt trong giai đoạn 2019-2021.

Thứ ba, thể chế hóa chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Ngãi phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm tỉnh tích hợp toàn bộ diện tích rừng cộng đồng của 2 thôn vào lưu vực phòng hộ đầu nguồn sông Vệ, đảm bảo mức chi trả dịch vụ môi trường rừng ổn định từ 300.000 đến 400.000 đồng/ha/năm cho cộng đồng; lộ trình áp dụng ngay từ năm 2019.

Thứ tư, nâng cao năng lực quản trị thể chế cơ sở: UBND huyện Nghĩa Hành tổ chức định kỳ 2 khóa đào tạo tập huấn tiểu giáo viên (ToT) mỗi năm về kỹ năng tuần tra rừng bằng thiết bị định vị, quản lý tài chính minh bạch và kỹ năng lập kế hoạch kinh doanh lâm sản ngoài gỗ cho 10 cán bộ Ban quản lý lâm nghiệp thôn và 14 kiểm lâm viên cộng đồng; triển khai từ năm 2019 đến năm 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm cán bộ quản lý ngành lâm nghiệp và hoạch định chính sách tại các cơ quan chuyên trách như Tổng cục Lâm nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh duyên hải miền Trung: Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn để đánh giá hiệu quả thực thi chính sách giao đất giao rừng theo Thông tư 38/2007/TT-BNN&PTNT và đề xuất điều chỉnh cơ chế hưởng lợi cho cộng đồng.

Nhóm chính quyền địa phương cấp huyện, xã và Ban Quản lý lâm nghiệp cấp cơ sở: Tài liệu cung cấp bộ hướng dẫn chi tiết quy trình 8 bước thành lập mô hình, mẫu quy ước bảo vệ rừng và phương pháp điều hành Quỹ phát triển rừng thôn bản phù hợp với các địa bàn miền núi có điều kiện kinh tế khó khăn.

Nhóm các chuyên gia, điều phối viên tại các tổ chức phi chính phủ và các chương trình dự án phát triển nông thôn quốc tế (GIZ, KfW, UNDP): Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp đánh giá tính bền vững hậu dự án và các giải pháp chuyển giao kỹ thuật cho người dân bản địa.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Kinh tế nông nghiệp: Cung cấp hệ thống dữ liệu điều tra thực địa chuẩn mực, khung lý thuyết phân tích thể chế tài nguyên và phương pháp tiếp cận nghiên cứu đa ngành.

Câu hỏi thường gặp

Dự án KfW6 đã triển khai mô hình quản lý rừng cộng đồng với quy mô diện tích bao nhiêu? Dự án đã bàn giao tổng cộng 1.012,43 ha rừng tự nhiên cho cộng đồng tại xã Hành Tín Đông, trong đó thôn Trường Lệ tiếp nhận 608,80 ha vào tháng 4/2006 và thôn Khánh Giang tiếp nhận 403,60 ha vào tháng 3/2008.

Vì sao mô hình quản lý rừng cộng đồng tại địa phương đòi hỏi quy mô tối thiểu từ 300 ha? Quy mô diện tích tối thiểu 300 ha rừng tự nhiên cho một mô hình liền kề là điều kiện kỹ thuật bắt buộc nhằm tối ưu hóa chi phí đầu tư ban đầu, đảm bảo trữ lượng khai thác gỗ thương mại bền vững và đủ tạo nguồn thu duy trì Quỹ thôn bản.

Quy trình 8 bước xây dựng mô hình mang lại ưu thế gì cho công tác quản trị cơ sở? Quy trình 8 bước bảo đảm tính dân chủ và pháp lý từ khâu đo đạc bản đồ bằng GPS, xác định mục tiêu, xây dựng quy ước đến lập quỹ cộng đồng, giúp 100% người dân hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ bảo vệ 1.907,3 ha đất lâm nghiệp.

Khó khăn lớn nhất của mô hình sau khi dự án KfW6 kết thúc năm 2014 là gì? Thách thức lớn nhất là nguồn kinh phí hỗ trợ tuần tra rừng bị gián đoạn, trong khi tỷ lệ hộ nghèo tại thôn Trường Lệ vẫn ở mức cao 39,52%, tạo áp lực lớn lên việc duy trì hoạt động của 14 thành viên thuộc các tổ bảo vệ rừng.

Luận văn đề xuất giải pháp tài chính nào để thay thế nguồn tài trợ quốc tế đã dừng? Luận văn đề xuất tích hợp diện tích rừng cộng đồng vào hệ thống chi trả dịch vụ môi trường rừng lưu vực sông Vệ kết hợp trích từ 20% đến 30% doanh thu phát triển du lịch sinh thái hồ Suối Chí để tạo nguồn thu thường xuyên cho Quỹ thôn bản.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện tính bền vững của mô hình quản lý 1.012,43 ha rừng tự nhiên tại xã Hành Tín Đông, khẳng định tính đúng đắn của chủ trương xã hội hóa nghề rừng tại Quảng Ngãi.
  • Chứng minh hiệu quả của quy trình 8 bước trong việc trao quyền cho 2 cộng đồng thôn bản và nâng cao năng lực cho 24 nhân sự trực tiếp làm công tác quản lý bảo vệ rừng.
  • Làm rõ cơ chế khai thác gỗ thương mại bền vững qua 2 đợt thí điểm tại thôn Trường Lệ, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn tài chính sinh kế sau khi dự án kết thúc năm 2014.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao về lâm sinh, du lịch sinh thái hồ Suối Chí, dịch vụ môi trường rừng và đào tạo nguồn nhân lực cơ sở.
  • Xác lập cơ sở khoa học để các nhà quản lý nhân rộng mô hình quản lý rừng cộng đồng ra toàn bộ các huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2019-2025.

Các bước tiếp theo cần tập trung vào việc thể chế hóa nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng và thu hút đầu tư du lịch sinh thái trong giai đoạn 2019-2021. Độc giả quan tâm và các nhà nghiên cứu lâm nghiệp có thể tiếp cận toàn văn công trình để khai thác các bài học kinh nghiệm quản trị tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng.