Khóa luận: Đánh giá lợi ích xử lý chất thải rắn theo mô hình 3R tại huyện Đam Rông

Đánh giá chi tiết lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội của việc áp dụng mô hình 3R trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Đam Rông, Lâm Đồng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2020

68
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và nguyên lý mô hình 3R xử lý rác thải

Mô hình 3R (Reduce - Reuse - Recycle) hay còn gọi là 3T (Tiết giảm - Tái sử dụng - Tái chế) là phương pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) hiệu quả nhất hiện nay. Đây là một chiến lược toàn diện để giảm khối lượng rác thải từ nguồn, tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Mô hình này được áp dụng rộng rãi tại huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng và mang lại những kết quả đáng kể. Nguyên lý hoạt động của mô hình 3R dựa trên việc ưu tiên giảm thiểu lượng rác thải phát sinh, sau đó tái sử dụng các sản phẩm còn có giá trị, và cuối cùng mới tiến hành tái chế những chất thải không thể tái sử dụng.

1.1. Tiết giảm Reduce bước đầu trong chuỗi xử lý

Tiết giảm là biện pháp đầu tiên và quan trọng nhất, nhằm giảm lượng chất thải rắn phát sinh ngay từ nguồn. Tại Đam Rông, việc tuyên truyền giảm tiêu thụ sản phẩm dùng một lần đã có hiệu quả. Người dân được khuyến khích sử dụng túi vải thay vì túi nilon, giảm mua hàng hóa có bao bì quá nhiều. Biện pháp này không chỉ giảm khối lượng rác mà còn tiết kiệm chi phí sản xuất và tiêu thụ.

1.2. Tái sử dụng Reuse tối ưu hóa giá trị sản phẩm

Tái sử dụng là quá trình sử dụng lại sản phẩm nhiều lần mà không cần xử lý. Tại huyện Đam Rông, chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn (PLCTRTN) giúp xác định những vật dụng còn giá trị có thể tái sử dụng. Các vật liệu như bao bì, túi xách, và đồ chứa có thể được tái chế hoặc donated cho những gia đình khác, giảm đáng kể lượng rác thải.

1.3. Tái chế Recycle xử lý bền vững

Tái chế là bước cuối cùng, biến những chất thải rắn thành nguyên liệu mới. Tại Đam Rông, các chất liệu như nhựa, giấy, kim loại được thu gom riêng biệt để tái chế. Quy trình này không chỉ giảm áp lực lên môi trường mà còn tạo giá trị kinh tế, giúp cộng đồng địa phương có thêm nguồn thu nhập từ các hoạt động tái chế.

II. Hiện trạng quản lý chất thải rắn tại huyện Đam Rông

Trước khi áp dụng mô hình 3R, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng đã gặp phải nhiều thách thức trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt. Khối lượng rác thải phát sinh hàng ngày từ các hoạt động sinh hoạt dân cư, kinh doanh, và dịch vụ du lịch đã tăng nhanh. Hệ thống xử lý CTRSH chưa đáp ứng đủ nhu cầu, dẫn đến tình trạng chất thải tích tụ không đúng quy định. Tuy nhiên, với sự can thiệp của các ngành chức năng và chính quyền địa phương, tình hình đã được cải thiện đáng kể.

2.1. Thành phần và khối lượng rác thải phát sinh

Theo khảo sát thực tế của đề tài, thành phần chất thải rắn tại Đam Rông chủ yếu gồm rác hữu cơ (thức ăn thừa, lá cây), nhựa, giấy, và kim loại. Khối lượng rác thải phát sinh trung bình khoảng 80-100 tấn/ngày, tập trung chủ yếu ở trung tâm huyện. Việc phân loại rác tại nguồn chưa được thực hiện hiệu quả do nhận thức của cộng đồng còn hạn chế.

2.2. Hệ thống thu gom vận chuyển và xử lý

Hệ thống xử lý chất thải rắn tại Đam Rông bao gồm các điểm thu gom, trạm trung chuyển, và bãi chôn lấp. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng còn thiếu và quá tải. Quá trình vận chuyển rác thải gặp khó khăn do đường xá phức tạp. Các trạm xử lý nhu cầu nâng cấp để đáp ứng với nhu cầu ngày càng tăng.

III. Lợi ích kinh tế khi áp dụng mô hình 3R tại Đam Rông

Áp dụng mô hình 3R tại huyện Đam Rông đã mang lại những lợi ích kinh tế đáng kể. Giảm khối lượng chất thải rắn gửi đến bãi chôn lấp giúp tiết kiệm chi phí xử lý hơn 30%. Chi phí quản lý rác thải giảm nhờ giảm công suất xử lý, vận chuyển, và bảo trì cơ sở hạ tầng. Các hoạt động tái chế chất thải tạo ra cơ hội kinh tế mới, với các sản phẩm tái chế có thể bán ra thị trường, tạo thu nhập thêm cho cộng đồng.

3.1. Giảm chi phí xử lý chất thải

Chi phí xử lý chất thải rắn được giảm đáng kể khi lượng rác phát sinh tới bãi chôn lấp giảm. Mô hình 3R giúp giảm 25-35% chi phí vận chuyển và 20-30% chi phí chôn lấp. Tiết kiệm này có thể dùng để đầu tư vào các dự án cộng đồng khác hoặc nâng cấp hệ thống quản lý rác.

3.2. Tạo giá trị từ tái chế và tái sử dụng

Các chương trình tái chế chất thải tại Đam Rông đã tạo ra giá trị kinh tế từ các sản phẩm tái chế. Nhựa, giấy, và kim loại được thu mua với giá hợp lý, giúp cộng đồng và các cơ sở tái chế có thêm thu nhập. Hoạt động này tạo việc làm mới cho hơn 100 lao động địa phương, góp phần phát triển kinh tế xã hội.

IV. Lợi ích môi trường và xã hội của mô hình 3R

Ngoài lợi ích kinh tế, áp dụng mô hình 3R tại Đam Rông mang lại những lợi ích môi trường rất lớn. Giảm khối lượng chất thải rắn đến bãi chôn lấp kéo dài tuổi thọ của cơ sở, đồng thời giảm ô nhiễm nước ngầm và không khí. Việc phân loại chất thải rắn giúp phân tách các chất độc hại từ rác hữu cơ, bảo vệ sức khỏe. Mô hình này cũng nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, tạo thói quen sống xanh bền vững.

4.1. Giảm ô nhiễm môi trường nước và không khí

Chất thải rắn không được xử lý đúng cách gây ô nhiễm môi trường nước qua rò rỉ chất lỏng và ô nhiễm không khí qua khí thải từ bãi chôn. Với mô hình 3R, lượng rác giảm, do đó giảm ô nhiễm 40-50%. Đây là lợi ích rất lớn cho sức khỏe cộng đồng và hệ sinh thái địa phương.

4.2. Nâng cao nhận thức và tham gia cộng đồng

Áp dụng 3R yêu cầu sự tham gia tích cực từ cộng đồng. Các chương trình tuyên truyền tại Đam Rông đã nâng cao nhận thức của 70% dân số về quản lý rác thải. Cộng đồng bây giờ tích cực tham gia phân loại chất thải rắn tại nguồn, giúp tạo thói quen sống bền vững và trách nhiệm với môi trường.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Việt Nam là đất nƣớc có tốc độ phát triển kinh tế cao. Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa đang diễn ra rất khẩn trƣơng, bộ mặt xã hội đã có nhiều thay đổi tích cực. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển ấy đã dẫn tới nhiều vấn đề, một trong những số đó là tình trạng xuống cấp của môi trƣờng ngày càng trầm trọng. Trong đó rác thải là một trong những vấn đề bức xúc ở Việt Nam.

Hiện nay, mỗi năm có khoảng 15 triệu tấn rác thải phát sinh trong cả nƣớc và theo dự báo thì số lƣợng rác thải sẽ tăng cao trong thập kỷ tới đây. So với các nƣớc trên thế giới thì lƣợng rác thải Việt Nam không lớn, nhƣng điều đáng quan tâm ở đây là tình trạng thu gom thấp và không phân loại trƣớc khi mang rác thải ra ngoài môi trƣờng. Kitano (Nhật Bản): “Rác thải sẽ chỉ là rác thải nếu nhƣ chúng bị trộn lẫn, nhƣng rác thải sẽ trở thành tài nguyên nếu bạn phân loại chúng đúng cách”. Chính vì thế, nhiều năm qua một số nƣớc trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã và đang tích cực triển khai 3T.

Ở nƣớc ta hiện nay, cùng với sự công nghiệp hoá hiện đại hoá thì cuộc sống của ngƣời dân đang ngày càng đƣợc cải thiện. Cùng với đó chất thải rắn từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của ngƣời dân sẽ tăng lên. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt cũng đa dạng hơn. Ở nƣớc ta hiện nay, tốc độ phát sinh rác thải đang dao động từ 0,35 – 0,85 kg/ngƣời/ngày.

Trƣớc thực trạng lƣợng rác thải phát sinh không ngừng, Chính phủ và chính quyền địa phƣơng đã không ngừng nỗ lực tìm kiếm giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý và xử lý rác thải. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, cố gắng nhƣng thực trạng việc quản lý, quản lý rác thải hiện nay trên phạm vi cả nƣớc vẫn còn nhiều yếu kém bất cập. Hiện nay, ở khu vực đô thị chỉ mới thu gom đƣa đến bãi chôn lấp tập trung đạt khoảng 60 – 65%, còn lại rác thải xuống ao, hồ, sông, bên đƣờng. Còn ở khu vực nông thôn, chỉ có rác ở cặp các tuyến đƣờng giao thông mới đƣợc thu gom, nhiều điểm vứt rác tràn ngập khắp nơi, ngƣời dân vẫn còn giữ thói quen đốt rác gây ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe và môi trƣờng.

Bởi vậy xử lý chúng nhƣ thế nào để đảm bảo vệ sinh môi trƣờng với chi phí xử lý thấp 1 nhất đƣợc đặt ra nhƣ một vấn đề sống còn của nhân loại. Với tinh thần ấy, các ngành các cấp trong cả nƣớc đã và đang đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trƣờng, chống ô nhiễm và suy thoái môi trƣờng, trong đó đặc biệt quan tâm tới vấn đề quản lý và xử lý chất thải rắn. Trƣớc những vấn đề trên, đề tài: “Đánh giá lợi ích khi ứng dụng mô hình 3T tại huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng” nhằm đánh giá mức độ hiệu quả của việc xử lý CTR sinh hoạt theo phƣơng pháp 3T. Mục tiêu nghiên cứu 2.

Mục tiêu tổng quát Đánh giá lợi ích khi ứng dụng mô hình 3T trên huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng và đề xuất giải pháp áp dụng tại khu vực nghiên cứu. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá lợi ích, chi phí khi sử dụng 3T - Đề xuất áp dụng phƣơng pháp 3T 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm chất thải Chất thải là vật chất đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác [10].

Khái niệm chất thải rắn CTR là chất thải ở thể rắn chất đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. CTR bao gồm CTR thông thƣờng và CTR nguy hại [5]. Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) là những chất có liên quan đến các hoạt động của con ngƣời, nguồn tạo thành chủ yếu của các khu dân cƣ, các cơ quan, trƣờng học, các trung tâm dịch vụ, thƣơng mại,… CTRSH có thành phần bao gồm kim loại, sành, sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, thực phẩm dƣ thừa, gỗ, lông gà vịt, vải, giấy,…[18]. Nguồn gốc, phân loại và thành phần chất thải rắn sinh hoạt 1.

Nguồn gốc phát sinh và phân loại Chất thải rắn sinh hoạt có thể phát sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau, ở nhiều nơi khác nhau. Tùy thuộc vào nguồn gốc phát thải, đặc điểm của các quá trình sản xuất và thời gian mà các CTRSH cũng rất đa dạng. Chúng khác nhau về khối lƣợng, kích thƣớc, phân bố về không gian cũng nhƣ thành phần đặc trƣng. Trên thực tế, các CTRSH đƣợc phát sinh từ các nguồn nhƣ: Khu dân cƣ, khu thƣơng mại, cơ quan, công sở (trƣờng học, trung tâm và viện nghiên cứu …), khu công cộng (nhà ga, bến tàu, sân bay, công viên, khu vui chơi, đƣờng phố.

Các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt [14] 1. Phân loại chất thải rắn sinh hoạt Để phân loại CTRSH có thể dựa vào rất nhiều tiêu chí khác nhau nhƣ: phân loại theo vị trí hình thành, theo thành phần vật lý, hóa học, theo tính chất rác thải… - Theo vị trí hình thành: Tùy theo vị trí hình thành mà ngƣời ta phân ra rác thải đƣờng phố, rác thải vƣờn, rác thải các khu công nghiệp tập trung, rác thải hộ gia đình…[14]. - Theo thành phần hóa học và vật lý: Theo tính chất hóa học có thể phân ra chất thải hữu cơ, chất thải vô cơ, kim loại, phi kim… [14]. Thành phần chất thải rắn Thành phần lý, hóa của chất thải rắn đô thị rất khác nhau tùy thuộc vào từng địa phƣơng, vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác.

Thành phần chất thải rắn Thành phần Nguồn gốc Ví dụ 1. Các chất cháy đƣợc Các túi giấy, mảnh bìa, a. Giấy Các vật liệu làm từ giấy bột và giấy giấy vệ sinh. Hàng dệt Có nguồn gốc từ các sợi Vải, len, nylon.

Cọng rau, vỏ quả, thân c. Thực phẩm Các chất thải từ đồ ăn thực phẩm cây, lõi ngô. Đồ dụng bằng gỗ nhƣ d. Cỏ, gỗ củi, Các vật liệu và sản phẩm đƣợc chế tạo từ bàn, ghế, đồ chơi, vỏ rơm rạ gỗ, tre, rơm…vv dừa.

Các vật liệu và sản phẩm đƣợc chế tạo từ Phim cuộn, túi chất e. Chất dẻo chất dẻo dẻo, chai, lọ…vv Các vật liệu và sản phẩm đƣợc chế tạo từ Bóng, giày, ví và bang f. Da và cao su da và cao su cao su…vv 2. Các chất không cháy a.

Các kim loại Các vật liệu và sản phẩm đƣợc chế tạo từ Vỏ hộp, dây điện, hàng sắt sắt mà dễ bị nam châm hút rào, dao. Các kim loại Vỏ nhôm, giấy bao Các vật liệu không bị nam châm hút phi sắt gói, đồ đựng…vv Chai lọ, đồ đựng bằng Các vật liệu và sản phẩm đƣợc chế tạo từ c. Thủy tinh thủy tinh, bóng thủy tinh đèn…vv d. Đá và sành Bất cứ các loại vật liệu không cháy khác Vỏ chai, ốc, xƣơng, sứ ngoài kim loại và thủy tinh gạch, đá…vv Tất cả các vật liệu khác không phân loại 3.

Các chất trong bảng này. Loại này có thể chia làm Đá cuội, cát, đất, hỗn hợp 2 phần: Kích thƣớc lớn hơn 5mm và loại tóc,… nhỏ hơn 5 mm (Nguồn: Công nghệ xử lý rác thải và chất thải rắn [14] 5 1. Ảnh hƣởng của chất thải rắn đến môi trƣờng 1. Ảnh hưởng đến môi trường nước Theo thói quen, ngƣời dân thƣờng đổ rác tại các bờ sông, hồ, ao, cống rãnh… Lƣợng rác này sau khi bị phân hủy sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lƣợng nƣớc mặt, nƣớc ngầm trong khu vực.

Ngoài ra, rác có thể bị cuốn trôi theo dòng nƣớc mƣa xuống ao, hồ, sông, ngòi, kênh, rạch… sẽ làm nhiễm bẩn nguồn nƣớc mặt. Mặt khác, lâu dần những đống rác này sẽ làm giảm diện tích ao hồ… giảm khả năng tƣ j làm sạch của nƣớc gây cản trở các dòng chảy, tắc nghẽn cống rãnh thoát nƣớc. Hậu quả của hiện tƣợng này là hệ sinh thái trong các ao hồ bị hủy diệt. Việc ô nhiễm các nguồn nƣớc mặt này cũng là một trong những nguyên nhân gây các bệnh tiêu chảy, tả, lỵ, trực khuẩn, thƣờng hàn… ảnh hƣởng tiêu cực đến sức khỏe của cộng đồng [13,16].

Ảnh hưởng đến môi trường không khí CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình thƣờng là các loại thực phẩm chiếm tỉ lệ cao trong toàn bộ khối lƣợng rác thải ra. Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mƣa nhiều ở nƣớc ta là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân hủy, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa và tạo nên mùi khó chịu cho con ngƣời. Các chất thải khí phát ra từ các quá trình này thƣờng là H2S, NH3, CH4, SO2, CO2… đều là các tác nhân gây ra ô nhiễm môi trƣờng không khí [13,16]. Ảnh hưởng đến sức khỏe con người CTR phát sinh từ các khu đô thị, nếu không đƣợc thu gom và xử lý đúng cách sẽ gây ô nhiễm môi trƣờng, ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe cộng đồng dân cƣ và làm mất mỹ quan đô thị.

Thành phần CTR rất phức tạp, trong đó có chứa nhiều vi khuẩn, vi trùng gây bệnh do chứa mầm bệnh từ phân ngƣời, các chất thải hữu cơ, xác súc vật chết, rác thải y tế. tạo điều kiện tốt cho muỗi, chuột, ruồi. sinh sản và lây lan mầm bệnh cho ngƣời, nhiều lúc trở thành dịch. Một số vi khuẩn gây bệnh nhƣ ruồi, muỗi đậu vào rác rồi mang theo các mầm bệnh đi khắp nơi, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng nhƣ E.Coli, Coliform, giun, sán.

tồn tại trong rác có thể gây bệnh cho con ngƣời nhƣ 6 bệnh: sốt rét, bệnh ngoài da, dịch hạch, thƣơng hàn, phó thƣơng hàn, tiêu chảy, giun sán, lao. KLN nhƣ chì, thủy ngân, crôm có trong CTR không bị phân hủy sinh học, mà tích tụ trong sinh vật, tham gia chuyển hóa sinh học. Dioxin từ quá trình đốt CTR ở các điều kiện không thích hợp. Phân loại, thu gom và xử lý CTR không đúng qui định là nguy cơ gây bệnh nguy hiểm cho công nhân vệ sinh, ngƣời bới rác, nhất là khi gặp phải các chất thải rắn nguy hại từ y tế, công nghiệp nhƣ kim tiêm, ống chích, mầm bệnh, hợp chất hữu cơ bị halogen hóa, PCB,.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ