Chương 1 Vấn đề lãng phí trong thi công xây dựng chưa được quan tâm đúng mức trong giới học thuật và các Nhà thầu, CĐT các dự án xây dựng, vì lãng phí là vô hình và rất khó để kiểm soát. Nhiều Nhà thầu vẫn đang nghĩ rằng lãng phí là chất thải ở các công trường xây dựng. Luận văn với bố cục gồm 6 chương đưa ra ba mục tiêu nghiên cứu trong phạm vi và những đối tượng cụ thể: (1) xác định nguyên nhân lãng phí, tần suất xuất hiện trong thi công xây dựng các công trình nhà cao tầng tại TP.HCM và các tỉnh lân cận. (2) Đánh giá, xếp hạng, phân tích các nhân tố gây lãng phí trong thi công xây dựng, khảo sát mức độ ảnh hưởng của lãng phí đến chi phí thực hiện dự án.
(3) Sử dụng một số mô hình TTNT để dự đoán mức độ ảnh hưởng của lãng phí đến chi phí thực hiện dự án. 5 Nghiên cứu kỳ vọng đóng góp một phần ý tưởng và kiến thức để các nhà thầu, CĐT các dự án xây dựng có được sự nhìn nhận rõ rang hơn về những nguyên nhân gây lãng phí và ảnh hưởng của chúng đến chi phí thực hiện dự án. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. Các khái niệm và định nghĩa 2.
Dự án nhà cao tầng Theo phụ lục B tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9363:2012 [7], nhà cao tầng là: Ngôi nhà có chiều cao, trong đó chiều cao sẽ quyết định các yếu tố như thiết kế, thi công và khai thác sử dụng có sự khác biệt so với các nhà bình thường được định nghĩa là nhà cao tầng. Dựa trên số tầng và chiều cao của từng dự án, nhà cao tầng được phân chia thành 04 loại chi tiết như sau: Loại Số tầng Chiều cao giới hạn 1 Từ 9 đến 16 Không quá 50m 2 Từ 17 đến 25 Không quá 75m 3 Từ 26 đến 40 Không quá 100m 4 Trên 40 Không giới hạn 2. Định nghĩa lãng phí trong thi công xây dựng Theo triết lý sản xuất mới nói chung và trong thi công xây dựng nói riêng, lãng phí được nhìn nhận là những phương pháp sử dụng các nguồn tài nguyên không hiệu quả như các loại thiết bị máy móc, thời gian, nguồn nhân lực, tài chính, vượt quá sự cần thiết của việc hoàn thành một sản phẩm nhất định. Lãng phí bao gồm hư hỏng, hao phí về vật chất và hoặc sử dụng để thực hiện các công tác không tạo ra giá trị, những công việc tạo thêm thời gian và chi phí nhưng không gia tăng thêm giá trị của sản phẩm [1].
Vì vậy, lãng phí được hiểu bất kỳ những sự mất mát về tài nguyên được sinh ra nhưng không tạo nên bất kỳ giá trị nào cho sản phẩm cuối cùng từ đánh giá của khách hàng. Khái niệm lãng phí được nhìn nhận như sau: “Bất cứ điều gì khác với số tiền tối thiểu của các nguồn tài nguyên vật liệu, thiết bị và nhân lực cần thiết để tăng thêm giá trị sản phẩm.” 7 “Bất cứ điều gì khác với nguồn lực tối thiểu của thiết bị, vật liệu, phụ tùng và thời gian lao động hoàn toàn cần thiết cho sản xuất” Dưới định nghĩa của triết lý sản xuất tinh gọn, khái niệm lãng phí trực tiếp liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên mà không làm tăng giá trị cuối cùng của sản phẩm. Đây là khái niệm khác với những quan điểm thông thường của hoạt động sản xuất, những hoạt động chưa thật sự nỗ lực để phân biệt các hoạt động đem lại giá trị và không đem lại giá trị. Quan điểm truyền thống nhìn nhận tất cả các hoạt động kết hợp như một bức tranh toàn diện và trong đó lãng phí được nhìn nhận là một chi phí phát sinh tổng thể cho sản xuất.
Triết lý sản xuất mới xem xét và các chi tiết các mặt của lãng phí qua việc xác định những hoạt động không đem ra giá trị và đề xuất phương pháp mới cho việc hạn chế lãng phí như tăng thêm chi phí cơ hội đặc biệt do lãng phí thời gian và mất mát các giá trị khác trong mô hình sản xuất truyền thống. Khái niệm về sự lãng phí thời gian Theo Safeer Ali Abbas Ali & Arun C (2012) [8], Lãng phí về thời gian trong xây dựng được định nghĩa là: “Lãng phí hoạt động theo định hướng thời gian, gây ra bởi công việc không hiệu quả. Việc bổ sung có hệ thống các lãng phí thời gian trong các giai đoạn khác nhau của dự án cuối cùng sẽ gây ra sự chậm trễ đáng kể cho dự án”. Theo Bo Terje Kalsaas [9], “Lãng phí thời gian được hiểu là thời gian mà người lao động có tay nghề cao coi là vô ích, hoặc lãng phí”.
Khái niệm lãng phí thời gian được hiểu như lãng phí về thời gian kỹ thuật, là những khoảng gián đoạn do chờ đợi, thiết bị hư hỏng về chất lượng hoặc các những gián đoạn khác mà người lao động không kiểm soát được, gây tác động đến thời gian sản xuất thực sự. Tuy nhiên, lãng phí về thời gian của con người lại không bao gồm trong khái niệm đó, người lao động cần thiết những khoảng thời gian này để đáp ứng những nhu cầu cá nhân của mình. Lãng phí thời gian được khái niệm là bắt nguồn từ hai nguồn chính: 1) sự phân mảnh không cần thiết của công việc và 2) việc thực thi sai lỗi. Các loại lãng phí trong xây dựng Trong triết lý sản xuất tinh gọn, lãng phí trong xây dựng được chia thành 8 nhóm như sau: Hình 2.1 - 8 loại lãng phí trong xây dựng tinh gọn 2.
Sản xuất quá mức Sản xuất quá mức là sản xuất vượt quá sự cần thiết của khách hàng hoặc sản xuất vượt tiến độ trước khi cần thiết. Điều này làm tăng nguy cơ tồn kho, tăng khả năng sai lỗi và có thể phải bán những sản phẩm đó với giá chiết khấu hoặc phải hủy bỏ. Lãng phí về sản xuất quá mức trong xây dựng là do: - Đặt hàng vật liệu không đúng chủng loại và phải chờ thay thế - Đặt hàng quá mức hoặc đặt hàng không đủ cần thiết - Đặt hàng dư thừa hoặc đặt hàng sai sót do thiếu sự kết nối giữa bộ phận thi công và bộ phận kho. Sai sót thi công Sai sót thi công (defects) trong xây dựng là do: - Vật liệu hư hỏng trước khi thi công.
- Hàng tồn kho không cần thiết trong công trường dẫn đến lãng phí. - Các khuyết tật sản xuất. - Vật liệu kém chất lượng. - Sử dụng không đúng loại vật liệu, do đó phải thay thế.
- Thiết bị thường xuyên hư hỏng, sự cố. - Công nghệ lạc hậu kỹ thuật thi công kém. 9 - Thiếu các công cụ và thiết bị cần thiết. - Làm lại sản phẩm do sai lỗi trong quá trình thi công.
- Công tác sau làm hư hỏng công tác đã hoàn thành trước đó. - Tay nghề công nhân kém. Tồn kho Tồn kho là một hình thức lãng phí khi có lượng nguyên vật liệu thô, sản phẩm dư thừa do không được sử dụng và sản phẩm tồn kho sau khi sản xuất một cách không cần thiết. Tồn kho tăng dẫn đến chi phí quản lý kho bãi tăng và dễ gây tỷ lệ hư hỏng.
Tồn kho trong xây dựng là do: - Nguyên vật liệu được cất giữ, bảo quản không đúng cách - Không đủ lưu trữ tại chỗ - Biện pháp xếp hàng và lưu trữ không hợp lý - Hư hại, xuống cấp trong thời gian bảo quản tại kho 2. Vận chuyển Lãng phí vận chuyển bao gồm những sự di chuyển của thiết bị hoặc vật liệu không tạo thêm bất kỳ giá trị nào cho công tác thi công, chẳng hạn như di chuyển vật liệu giữa các khu vực làm việc. Việc vận chuyển giữa các khu vực hoặc các giai đoạn sản xuất dẫn đến kéo dài thời gian, sử dụng không hiệu không gian và nguồn lực. Di chuyển không cần thiết vật liệu gây lãng phí thời gian, năng lượng, tài nguyên và làm tăng khả năng hư hỏng vật liệu, chẳng hạn như di chuyển vị trí này sang vị trí khác, chuyển hồ sơ hoặc tài liệu từ khu vực này sang khu vực khác để xem xét, di dời vật liệu từ chỗ này đến chỗ khác.
Lãng phí do vận chuyển trong xây dựng là do: - Vận chuyển làm hư hỏng vật liệu, thiết bị. - Sử dụng các công cụ và thiết bị không phù hợp. - Bảo quản kém. - Khoảng cách xa giữa nơi vận chuyển và kho chứa.
- Không đóng gói, bao bọc cẩn thận. Chờ đợi Chờ đợi là thời gian không làm việc của công nhân hoặc máy móc do tắc nghẽn hoặc nơi sản xuất có quy trình làm việc chưa được hiệu quả. Việc chờ đợi cũng bao gồm sự chậm trễ nhỏ giữa các đơn vị do phải tương tác với nhau. Việc chờ đợi dẫn đến một khoản chi phí đáng kể vì nó làm tăng chi phí nhân công và chi phí khấu hao trên một đơn vị sản lượng nói chung được gọi là: chờ đợi các bộ phận, chờ quyết định hoặc chỉ đạo, chờ dữ liệu hoặc thông tin, chờ đề xuất và chờ nguồn cung cấp.
Chờ đợi lãng phí xây dựng ở Việt Nam thường do: 1. Chờ đợi hồ sơ thiết kế và bản vẽ thi công. Làm lại do không tuân theo bản vẽ và thông số kỹ thuật. Làm lại do lỗi của công nhân.
Chậm trễ trong việc chuyển thông tin cho nhà thầu về sản phẩm. Chờ công nhân hoặc vật liệu hoặc thiết bị đến. Thiết bị thường xuyên xảy ra sự cố. Chậm khởi công dự án.
Sự chậm trễ trong việc nghiệm thu, kiểm tra của CĐT, TVGS. Dừng chờ thi công do yêu cầu hoặc sự thay đổi của CĐT. Thay đổi đơn đặt hàng. Chuyển động Chuyển động không cần thiết bao gồm bất kỳ hình thức di chuyển thể chất không cần thiết nào hoặc người lao động di chuyển trong lúc làm việc khiến họ chuyển hướng khỏi công việc đang xử lý.
Chuyển động không cần thiết (đi bộ, với tới, nâng, v.) lãng phí thời gian và năng lượng chẳng hạn như di chuyển qua lại giữa thiết bị và xe tải để lấy dụng cụ hoặc các bộ phận đi qua lại giữa bàn làm việc và khu vực lưu trữ tài liệu để lấy thông tin, đi đến một nhà kho để lấy các bộ phận. Sự lãng phí chuyển động trong quá trình thi công xây dựng là do: 1. Kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu kém hiệu quả. Xử lý vật liệu không cần thiết.
Người giao dịch chậm / không hiệu quả. Khoảng cách xa giữa nơi làm việc và kho chứa. Phân phối vật liệu tại chỗ kém. Thiếu các con đường được duy trì thích hợp.
Công nhân di chuyển khó khăn trong công trường 2.