ĐẶT VẤN ĐỀ Ở các quốc gia có tốc độ CNH-HĐH chưa cao, XD là ngành luôn có một vai trò rất quan trọng. Tỷ lệ việc làm và GDP của một quốc gia được quyết định phụ thuộc vào ngành XD[1], [2]. Các thống kê cho thấy, ở các quốc gia này, một nửa ngân sách đầu tư được dùng để nâng cao CSVC, hoàn thiện kết cấu HTĐT, từ đó đáp ứng một loạt các tiệu chí về vật chất, kinh tế và xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển mục tiêu chung quốc gia. Quy mô, tầm ảnh hưởng, và sự kết nối của ngành XD với mọi hoạt động kinh tế khác biến đây trở thành một đầu tàu, chất xúc tác và là lĩnh vực hấp dẫn để chuyển giao, hấp dẫn đầu tư và tạo cơ hội thúc đẩy phát triển hơn nữa các hạ tầng, công nghệ gắn liền mục tiêu của các quốc gia đã và đang phát triển [3], [4], [5].
Theo World Market Intelligence (2010), không ngành công nghiệp đơn lẻ nào trên thế giới có lực lượng lao động lớn hơn ngành XD. Theo thống kê trong các bài báo cáo uy tín thế giới là Global Construction Perspective và Oxford Economics (2013), vào năm 2025 tỷ trọng lĩnh vực này sẽ tăng 6,3 nghìn tỷ USD thành 15 nghìn tỷ USD (tăng 70%) so với cùng kỳ vào năm 2012. Điển hình là các dự án lớn tiêu biểu, mang quy mô tầm thế giới đã và đang trong quá trình hoàn thiện như dự án Đảo Saadiyat (Abu Dhabi, UAE) với TMĐT 26 tỷ USD, dự án tỏ hợp khách sạn Marina Bay Sands (Singapore) với TMĐT 5. Để ngành XD phát triển theo đúng định hướng thì tồn tại nhiều khía cạnh cần cải thiện.
Một số các yếu tố ảnh hưởng như: HTĐT, tốc độ đô thị hóa, định hướng quy hoạch khu vực, nhu cầu về chất lượng cuộc sống của người dân,. Mỗi yếu tố đều tác động to lớn đối với định hướng phát triển chung của ngành nói riêng và nền kinh tế nói chung. Trong quá trình CNH-HĐH của nước ta, ngành XD đóng vai trò quan trọng và thiết yếu nhất, đóng góp lớn vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, có sự liên kết sâu sắc đến sự phát triển của nhiều ngành khác, ngoài ra phát triển ngành XD còn là mục tiêu cấp thiết, làm tiền đề để giải quyết các vấn đề an sinh xã hội. Các năm vừa qua, chính phủ nước ta đã có nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển ngành XD.
Bằng chứng là những hướng giải quyết, chủ trương bằng các văn bản quy phạm pháp luật mới ra đời. Ví dụ như Quyết định số 28/QĐ-BXD, ngày 20/01/2022 với mục tiêu quan trọng năm 2022 ngành XD tăng trưởng đạt con số 5-5. Trước đó vào tháng 01/2022, Nghị quyết 01/NQ-CP và Nghị quyết 02/NQ-CP cũng đã lần lượt được chính phủ ban hành với các nội dung chính là thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH và mở rộng NSNN, nâng cao tính cạnh tranh, thúc đẩy hệ sinh thái cơ sở kinh doanh, sản xuất. Các động thái này đã làm rõ ràng hơn quyết tâm của bộ máy lãnh đạo nhà nước, bên cạnh 1 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: HỒ NHẬT QUANG đó đưa ra kế hoạch cụ thể cần phấn đấu đạt được của ngành XD trong năm 2022: 5-5.6% cho GDP và 41.5-42% cho tỉ lệ đô thị hóa [6].
Bên cạnh những chủ trương tích cực, công tác giải quyết các vấn đề tồn đọng, ngay cả là nhỏ nhất, cũng vô cùng cấp thiết. Nhiều năm qua, ATLĐ luôn là một vấn đề nan giải cho các công trình XD nói riêngvà ngành XD nói chung. Bắt nguồn từ nhiều yếu tố khách quan lẫn chủ quan, người lao động thường xuyên phải làm việc trong môi trường nguy hiểm mà các biện pháp bảo hộ lại không đảm bảo đúng yêu cầu, sức khỏe và tính mạng của họ luôn trong tình trạng bị đe dọa. Diễn biến ngoài thực tế cho thấy đã và đang xảy ra nhiều vụ TNLĐ, gây ra những tổn thất lớn về tài sản, tính mạng cũng như làm giảm uy tín trong công tác ATLĐ của ngành XD.
Theo thống kê về tình hình TNLĐ xảy ra trên cả nước do Bộ LĐ-TB và XH công bố hàng năm, việc người lao động “Vi phạm các quy trình, biện pháp về ATLĐ” là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến TNLĐ. Cụ thể, trong năm 2021, trên cả nước xảy ra 5,797 vụ TNLĐ làm số người chết lên đến 602 người, số người bị thương nặng là 1,226 người. Ở các lĩnh vực khác như: sản xuất vật liệu, cơ khí, dệt may, khai thác mỏ,. thì ngành XD chiếm 10.61% tổng số vụ TNLĐ gây thiệt mạng, trong đó có 10.26% số người chết.
Tổ chức lao động và điều kiện lao động; người sử dụng lao động không có quy trình, biện pháp an toàn; người sử dụng lao động không huấn luyện ATLĐ hoặc huấn luyện chưa đầy đủ; người lao động không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân và TB BHLĐ;. được xem là những nguyên nhân chính [7], [8]. Có thể thấy, tất cả những yếu tố trên đều liên quan đến quy trình kiểm soát ATLĐ tại các cơ sở, tổ chức có quy mô từ nhỏ đến lớn. Nguyên nhân của các vấn đề này thực chất là gì? Phải chăng do những điều kiện về ATLĐ, bảo hộ lao động chưa được đảm bảo cho người lao động, hay do hình thức tham gia lao động, sự hiểu biết của công nhân, người lao động chưa tốt, hay kiến thức về những văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến ATLĐ chưa được phổ biến rộng rãi đến những cá nhân, tổ chức.
Nhìn chung, phần lớn nguyên nhân các vụ TNLĐ chủ yếu bắt nguồn từ yếu tố ý thức con người. Do vậy, việc ngăn ngừa TNLĐ trước tiên phải bắt đầu từ ý thức tự bảo vệ bản thân của người lao động, chấp hành đúng nội quy, quy trình ATLĐ tại nơi công tác. Ngày nay, trong thời đại 4.0 bùng nổ mạnh mẽ, AI đã và đang có nhiều tác động tích cực đến tất cả mọi mặt của đời sống trên thế giới. Sơ lược về AI: AI là viết tắt của Artifical Intelligence, là một ngành thuộc lĩnh vực khoa học máy tính (Computer Science), là trí tuệ do con người lập trình nên với mục đích giúp máy tính có thể ‘‘suy nghĩ” và ‘‘hành động” như con người một cách tự động.
Nói cách khác, AI giúp máy tính có được những trí tuệ của con người như: tự giải quyết vấn đề bằng các ý tưởng và lập luận, biết giao tiếp bằng các ngôn ngữ được lập trình, biết học và thích nghi với mọi tình huống,…[9]. 2 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: HỒ NHẬT QUANG Bằng cách sử dụng mô hình công nghệ và kỹ thuật đặc thù, AI tạo ra hệ thống, ứng dụng thông minh, giúp con người giải quyết các vấn đề, công việc yêu cầu trí tuệ. Lĩnh vực XD cũng không ngoại lệ. AI sẽ mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác quản lý nói chung và trong vấn đề ATLĐ nói riêng trong các dự án XD, giúp giám sát toàn diện hơn vấn đề an toàn nơi công trường cũng như giảm thiểu, ngăn ngừa các nguy cơ xảy ra sự cố cho người lao động [9].
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là ứng dụng mô hình AI để kiểm soát, nâng cao chất lượng kiểm soát và quản lý công tác ATLĐ trên các công trường XD ở nước ta: - Trình bày cơ sở lý thuyết, cung cấp dữ liệu đầu vào - Trình bày cơ sở lý thuyết, xác định dữ liệu đầu ra mong muốn - Tiến hành thực hiện kiểm tra kết quả đạt được để rút kinh nghiệm, hoàn thiện, đồng thời đưa ra kết luận và tính khả quan của công cụ. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU - Tình hình ATLĐ của công trường XD, công nghệ AI AI và ứng dụng AI vào công tác kiểm soát ATLĐ trên công trường. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nghiên cứu là công tác kiểm soát ATLĐ tại một công trường XD bất kỳ. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN Về mặt học thuật: - Luận văn cung cấp cái nhìn tổng quát về một trong các công tác quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người lao động trong ngành XD, cụ thể là công tác kiểm soát ATLĐ trên công trường - Luận văn cung cấp kiến thức về công nghệ AI đã và đang là xu hướng của thế giới.
Về mặt thực tiễn: - Luận văn cung cấp công cụ mới là ứng dụng tích hợp công nghệ AI, giúp cải thiện công tác quản lý, kiểm soát chất lượng của giai đoạn thi công công trình XD. - Luận văn giúp các đơn vị tham gia một dự án XD dễ dàng hơn trong việc kiểm soát vấn đề quan trọng liên quan đến sức khỏe, tính mạng của người lao động: ATLĐ. 3 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: HỒ NHẬT QUANG CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. TÓM TẮT QUY TRÌNH – SƠ ĐỒ KHỐI 2.
Tóm tắt quy trình • Bước 1: Nhận thức được tình hình kiểm soát ATLĐ trên các công trường XD ở nước ta và xác định công cụ ứng dụng. Do quy trình các công tác trên công trường rất phức tạp, thêm vào đó môi trường làm việc mang nặng chuyên môn kỹ thuật cao, nên sự phối hợp nhịp nhàng, công tác kiểm soát và quản lý đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, chỉ bằng các phương pháp truyền thống, công cụ thủ công dường như không mang lại hiệu quả cao, bắt nguồn từ các yếu tố khách quan, từ đó tiềm ẩn nhiều rủi ro. Sự hỗ trợ của một công cụ theo xu hướng công nghệ là vô cùng cần thiết để giải quyết vấn đề này.
Với sự bùng nổ của AI, cùng với các chức năng ML và DL đã mang lại những ứng dụng to lớn trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống. Và trong luận văn này, công cụ được sử dụng là kỹ thuật Object Detection (OD), Face Detection (OF) với các thuật toán và mô hình sẽ được giới thiệu trong phần sau. • Bước 2: Giới thiệu sơ lược các công cụ DL và ML DL – viết tắt là DL, là một chức năng của AI, được XD để xử lý dữ liệu thông qua việc bắt chước các hoạt động của bộ não con người, từ đó đưa ra quyết định. DL có thể được xem là một lĩnh vực con của ML – từ các thuật toán, máy tính sẽ tự học và cải thiện.
DL sử dụng mạng Nơron nhân tạo để sao chép cách tư duy, suy luận và khả năng giải quyết vấn đề của con người. Hoạt động sơ bộ của AI, ML và DL 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ HVTH: HỒ NHẬT QUANG Để xử lý được các tập dữ liệu có kích thước lớn và thực hiện các giải thuật phức tạp, đòi hỏi hệ thống DL phải có phần cứng (CSVC) đủ mạnh.