Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Sự nóng lên toàn cầu do hiệu ứng nhà kính, mà phần lớn khoảng 65% do hoạt động của con người thải vào bầu khí quyển lượng carbon dioxit CO2 Theo (SalawuOS, 1997). Trong đó các ngành công nghiệp xi măng toàn cầu chiếm 7% - 1,35 tỷ tấn khí thải mỗi năm (SalawuOS, 1997) vì sản xuất một tấn OPC thì thải ra môi trường khoảng một tấn CO2.Krishnan (2014) đã khẳng định có thể lượng khí thải sẽ tăng hơn 50% lượng khí thải cho phép hiện tại. Theo thống kê của Bộ Xây dựng, tổng công suất các nhà máy xi-măng của nước ta đạt khoảng 81,5 triệu tấn, trong khi năm 2016 dự kiến tiêu thụ tăng 5 - 7% so với năm 2015 đạt khoảng 75 - 76 triệu tấn. Như vậy lượng xi măng sử dụng ngày một tăng, đồng nghĩa với việc lượng khí thải cũng tăng theo mức tiêu thụ.
Điều này đặc ra một thách thức cho ngành công nghiệp xi măng để sản xuất ra đủ lượng xi măng cần thiết, đáp ứng nhu cầu xây dựng, nguồn nguyên liệu chính tạo nên bê tông. Để giải quyết vấn đề này, bê tông sử dụng công nghệ geopolymer là một bước tiến đột phá, không những đáp ứng được nhu cầu vật liệu mà còn giải quyết được vấn đề môi trường sống con người đang bị ô nhiễm bởi khí thải và các phế phấm chưa xử lý triệt để. Bên cạnh đó, lượng phế phẩm công nghiệp chưa qua xử lý hay còn tồn động còn rất lớn. Theo khảo sát, lượng tro bay phế phẩm trên thế giới là khoảng 780 triệu tấn mỗi năm nhưng sử dụng chỉ khoảng 17-20% (J.
Riêng ở Việt Nam, theo thống kê cho thấy, tổng công suất các nhà máy nhiệt điện đốt than trong nước hiện nay khoảng 4800MW, sản lượng tro xỉ thải là 4,8 triệu tấn/năm. Lượng tro bay này khi thảy vào môi trường nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và môi trường sống của con người. Thông qua việc sử dụng tro bay để chế tạo bê tông geopolymer (GPC) góp phần làm giảm chi phí xử lý. 1 Luan van Sử dụng vật liệu mới với chi phí thấp, thân thiện môi trường, giảm khả năng gây hiệu ứng nhà kính từ 26-45% so với bê tông xi măng thông thường, mà vẫn có được những ưu điểm của xi măng truyền thống, thậm chì còn tối ưu hơn như: dễ đạt cường độ trong thời gian ngắn, tính thấm của bê tông sử dụng geopolymer cũng thấp, tính chịu nhiệt cao rất phù hợp nhu cầu chống cháy của công trình và hơn hết là khả năng chống lại khả năng ăn mòn bởi axit (Tống Tôn Kiên, 2009).1 Đặc tính ít tỏa nhiệt GPC (J.
Davidovits, 2002) Mặt khác, việc sử dụng chất kết dính geopolymer thay thế xi măng truyền thống nhằm hạn chế việc khai thác tài nguyên thiên nhiên điều này rất phù hợp với xu hướng vật liệu xanh của thế giới.2 Chi phí cho việc xử lý khí thải của các ngành công nghiệp xây dựng (J. Davidovits, 1994) 2 Luan van Hình 1.3 Lượng khí thải khi sử dụng GPC và OPC (Louise K. Turner, 2013) Khi sử dụng phương pháp phá hoại mẫu, gây ô nhiễm do thải ra môi trường số lượng lớn mẫu thử đó là các phế phẩm, tốn kém chi phí xử lý mà còn không kinh tế trong việc sử dụng và bảo trì thiết bị do làm việc trong môi trường chịu ứng suất lớn từ việc nén mẫu, trong suốt thời gian tồn tại.4 Phế phẩm mẫu nén (Đại học sư phạm kỹ thuật TP.HCM) Việc sử dụng phương pháp không phá hoại mẫu (Non-destructive test, NDT) giảm được chi phí sản xuất mẫu và hạn chế được lượng bê tông phế phấm do nén phá hoại mẫu, mà còn phù hợp với nhu cầu xác định cường độ với cấu kiện lớn 3 Luan van được đúc tại chỗ với khối lượng kiểm tra và số lượng khoang lấy mẫu nhiều. Bên cạnh đó phạm vi ứng dụng nó còn được mở rộng trong việc kiểm định các công trình hiện hữu, cần đánh giá chất lượng hay các công trình đòi hỏi mức độ an toàn cao nhất như nhà máy điện hạt nhân hay trong lĩnh vực hàng không, xưởng hóa chất nguy hiểm.
Với nhiều bước tiến vượt bật trong công nghệ và được sự hỗ trợ của các thiết bị hiện đại, việc kiểm tra cường độ với mức độ chính xác ngày càng cao, nên việc ứng dụng phương pháp không phá hoại mẫu như điều tất yếu trong việc nghiệm thu và đánh giá mức độ hoàn thiện sản phẩm.5 Công trình đặt biệt và công trình hiện hữu (Đập thủy điện Yaly) Cùng với sự phát triển của phương pháp NDT, kết hợp với các mô phỏng hiện đại, giúp việc xác định cường độ bê tông trở nên chính xác, giảm thời gian và nhân lực thực hiện mà còn loại bỏ được những sai sót trong công tác thi công. Trong đó mô hình Artificial Neural Networks (ANN) là một công cụ mạnh trong lớp bài toán tiên lượng. ANN trong thời gian gần đây đã được nhiều người quan tâm và áp dụng thành công trong nhiều lĩnh vực khác nhau, như tài chính, y tế, địa chất và vật lý. Bất cứ ở đâu có vấn đề về dự báo, phân loại và điều khiển, ANN đều có thể ứng dụng được.
Sự thành công nhanh của ANN là do một số nhân tố chính sau: Tính ưu việc so với thống kê truyền thống: mô hình ANN sử dụng các thuật toán mô phỏng tinh vi, có khả năng thiết lập các hàm phức tạp. Đặc biệt, ANN giải quyết được các mối quan hệ phi tuyến, với lớp bài toán số biến gấp nhiều lần số đối tượng quan sát, thí nghiệm. Trong khi đó, hầu hết các phân tích thống kê truyền thống chỉ được thiết kế để giải quyết được các trường hợp số biến ít hơn số đối tượng quan sát. 4 Luan van Thân thiện với người sử dụng: ANN có khả năng thu thập các thông tin từ dứ liệu quá khứ, sau đó gọi các thuật toán huấn luyện (Training) để có thể tự phân loại, xác định cấu trúc của dữ liệu.
Từ đó đưa ra mô hình phù hợp để tiên lượng các giá trị mong muốn.2 Tình hình nghiên cứu 1.1 Khái niệm về Geopolymer Vật liệu geopolymer được chế tạo nhờ vào quá trình polymer hóa nguyên liệu alumino – silicat trong môi trường kiềm do giáo thư Joseph Davidovits đưa ra năm 1979. Theo Joseph Davidovits "Bất kỳ một nguyên vật liệu nào có chứa oxide silic và oxide nhôm đều có thể sử dụng để tạo ra vật liệu geopolymer". Sự tạo thành cấu trúc cường độ sau quá trình gia nhiệt thích hợp sẽ giúp cho vật liệu có tính chất cơ học như bê tông xi măng. Khi vật liệu geopolymer chịu tác dụng của nhiệt độ, bên trong vật liệu diễn ra sự thay đổi pha bao gồm sự phát triển tinh thể, sự khử nước và phân hủy vữa geopolymer.
Quá trình thay đổi có ảnh hưởng đến tính chất cường độ của vật liệu geopolymer.2 Hoạt động của ANN Mô hình ANN mô phỏng cách các khớp thần kinh làm việc trong não người. Chức năng cảm ứng của neural sinh học, nhận xung thần kinh dưới dạng các tín hiệu hóa học, sau đó sử dụng một loạt xác nhận logic để thực hiện một nhiệm vụ. Mạng neural (Neural networks, NN) lại sử dụng một mạng lưới các nút (hoạt động như tế bào thần kinh) và các cạnh (hoạt động như các khớp thần kinh) để xử lý dữ liệu. Dữ liệu đầu vào sẽ chạy qua toàn bộ hệ thống và một loạt kết quả dự báo được tạo ra.3 Lịch sử phát triển của ANN Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, một số nghiên cứu về vật lý, tâm lý và hệ thần kinh của các nhà khoa học Herman, Ernst Mach và Ivan Ivalov đã đưa ra các lý thuyết về quá trình học, sự tưởng tượng, sự quyết định.
của hệ thần kinh nhưng chưa có sự mô tả toán học cho hoạt động của NN 5 Luan van Năm 1943, mô hình đơn giản NN bằng mạch điện tử lần đầu tiên được đưa ra bởi Warren McCulloch và Walter Pits cùng với sự khẳng định NN nhân tạo về nguyên lý có thể thực hiện được trong phạm vi tính toán các hàm số học và logic. Đây là điểm khởi đầu của lĩnh vực NN. Sau đó Donal Hebb đưa ra một cơ chế giải thích cho quá trình học (Learning) diễn ra trong các neural sinh học (trong cuốn Organnization of Behaviaor, 1949). Cuối thập niên 50, ứng dụng thực tế đầu tiên của ANN do Frank Rosenblatt đưa ra.
Mạng của ông đưa ra là mạng Perceptron có kết hợp luật học (Learning rule) dùng để nhận dạng mẫu (Pattern recognition). Cùng thời gian đó, Bernard Widrow và Ted Hoff giới thiệu một thuật toán học (Learning algorithm) và sử dụng nó để huấn luyện (training) các NN tiếp hợp tuyến tính (tương tự mạng của Rosenblatt). Năm 1969, Minskey và Papert là hai nhà toán học nổi tiếng thời đó đã chỉ ra những hạn chế của mạng Perceptron của Rosenblatt và mạng Widrow- Hoff làm nhiều người nghĩ rằng nghiên cứu về NN sẽ vào ngõ cụt. Hơn nữa vào thời gian này chưa có những máy tính số mạnh để thực nghiệm NN nên các nghiên cứu về mạng nơ-ron bị trì hoãn gần một thập kỷ.
Năm 1972, Teuvo Kohonen và James Anderson độc lập phát triển các NN mới với năng lực nhớ (Memory) và khả năng tự tổ chức (Self- organizing). Cũng trong giai đoạn này,Stephen Grossberg cũng nghiên cứu tích cực về các mạng tự tổ chức. Sang thập kỷ 80, khi ngành công nghiệp máy tính phát triển mạnh mẽ thì những nghiên cứu về NN tăng lên một cách đột ngột. Có hai phát kiến quan trọng nhất là: Sử dụng cơ học thống kê để giải thích hoạt động của mạng hồi qui một lớp (Recurrent network), loại mạng được sử dụng như một bộ nhớ kết hợp, được nhà vật lý John Hopfield mô tả.
Sử dụng thuật toán lan truyền ngược (Backpropagation Algorithm) để huấn luyện mạng với cấu trúc nhận thức đa lớp (Multilayer perceptron). David 6 Luan van Rumelhalt và James McClrlland là những người trình bày thuật toán lan truyền ngược có ảnh hưởng nhất (1968).2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước Ngành Công nghệ vật liệu Geopolymer ra đời từ những năm 1960, nhưng được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn từ những năm 1972 đến nay. Hiện tại, đã có rất nhiều bằng sáng chế, nghiên cứu và ứng dụng Geopolymer vào các ngành công nghệ vật liệu hiện đại (vật liệu cách nhiệt, vật liệu chống cháy, chất kết dính vô cơ, công nghệ xử lý chất thải…) được giới thiệu và ứng dụng trên toàn thế giới. Trước đó, vào năm 1940 tác giả Purdon đã nghiên cứu bằng cách sử dụng xỉ lò cao được kích hoạt dung dịch hyroxit natri.