CHƯƠNG 1. TỒNG QUAN 4 CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 22 1. Đối tượng nghiên cứu 22 2.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22 3. Thiết kế nghiên cứu 22 4. Mau và phương pháp chọn mẫu 22 5. Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 23 6.
Phương pháp phân tích số liệu 29 7. Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu 30 8. Đạo đức nghiên cứu 31 9. Hạn chể của nghiên cứu, sai số và cách khắc phục 31 CHƯƠNG 3.
KÉT QUẢ 33 CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN 57 CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN 68 CHƯƠNG 6. KHUYẾN NGHỊ 70 CHƯƠNG 7.
PHỔ BIẾN KẾT QUẢ 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC 77 LỜI CẢM ƠN Đe hoàn thành được luận văn này tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm on tới: Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, các khoa phòng, các thầy cô giáo cùng toàn thể cán bộ các cán bộ, nhân viên của trường Đại học Y tế công cộng đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập tại trường. Tiến sỹ Phạm Việt Cường - thầy giáo hướng dẫn của tôi, người đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và có những ý kiến góp ý quý báu cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn. Ban giám hiệu, các bạn sinh viên điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà Đông, trường Cao đẳng Y tế Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong giai đoạn nghiên cứu tại trường. Bạn bè, người thân trong gia đình đã tạo điều kiện, động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 8/10/2009 Tác giả DANH MỤC CÁC CHỮ VIÉT TẮT AIDS Acquired Immunodeficiency Syndrom (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) BS Bác sỹ CĐYT Cao đẳng Y tế HIV Human Immunodeficiency Virus (Virus gây suy giảm miễn dịch ở người) HS Học sinh NTCH Nhiễm trùng cơ hội NVYT Nhân viên y tế TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh sv Sinh viên STI Sexual Transmitted Diseases (Các bệnh lây truyền qua đường tình dục) 11 DANH MỤC BẢNG Bảng 1. Tỷ lệ nhiễm HIV - Kết quả giám sát trọng điểm năm 2001 - 2006. Tóm tắt cách tính điểm cho từng các công cụ. Độ tin cậy cùa công cụ đo lường thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDS.
Mối tương quan giữa các khía cạnh trong các câu hỏi đánh giá thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDS và thái độ trong chãm sóc bệnh nhân AIDS. Tuổi trung bình của HS trường CĐYT Hà Nội và CĐYT Hà Đông. Nội dung về HIV/AIDS được học tại trường. Tỷ lệ HS đã từng chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS phân theo.
Số người nhiễm HIV/AIDS trung bình một HS đã từng chăm sóc. Số tiết học lý thuyết, tiết học lâm sàng về HĨV/AIDS được giảng dạy tại 2 trường CĐYT Hà Nội và CĐYT Hà Đông. Tỷ lệ nguồn thông tin được sử dụng để tìm hiểu về HIV/AIDS. Tỷ lệ nguồn thông tin được sử dụng để tìm hiểu về HIV/AIDS.
Kiến thức về cách tiệt trùng đổi với virus HIV. Kiển thức về các cách dự phòng NTCH. Kiến thức về các loại NTCH thường gặp ở người nhiễm HIV/AIDS phân theo trường học. Kiến thức của HS về các biện pháp phòng phơi nhiễm HIV cho NVYT43 Bảng 16.
Xác định những tình huống có nguy cơ phơi nhiễm nghề nghiệp. Kiến thức về cách phòng tránh kim tiêm, vật sắc nhọn đâm phải trong. Kết quả đánh giá những tiểu mục liên quan đến thái độ “xa lánh”. Kết quả đánh giá những tiểu mục liên quan đến thái độ “cảm thông”.
Kết quả đánh giá những câu hỏi liên quan đến thái độ “tích cực do phản xạ tự nhiên” (trong phần thái độ trong chãm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS). Kết quả đánh giá những tiểu mục liên quan đến thái độ “tiêu cực do phản xạ tự nhiên” (trong phần thái độ trong chăm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS). Phân bố kiến thức, thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDS, thái độ trong chăm sóc người nhiễm HIV theo các mức độ. Điểm trung bình kiến thức HIV, thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDS và thái độ trong chăm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS phân theo trường học.
Điểm trung bình kiến thức HIV, thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDS và thái độ trong chăm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS phân theo địa dư. Điểm trung binh kiến thức HIV, thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDS và thái độ trong chấm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS phân theo giới. Mối liên quan giữa kinh nghiệm chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS và thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDS. Mối liên quan giữa kinh nghiệm học tập và thái độ trong việc.56 4 DANH MỤC BIẺU ĐÒ Biểu đồ 1.
Phân bố giới của HS theo trường học. Phân bố khu vực sinh sống của HS theo trường học. Kiến thức ve sự hấp phụ lên bề mặt tế bào của virut HIV. Hiểu biết về chỉ số của tể bào Lỵmpho TCD4+ để có triệu chứng.
Hiểu biết về nơi tồn tại nhiều nhất của HIV trong cơ thể. Hiểu biết về định nghĩa giai đoạn cửa sổ. Kiến thức về thời gian có thể phát hiện được kháng thể kháng HIV. Tỷ lệ HS biết số loại NTCH thường gặp.
Hiểu biết về phương pháp đề phòng lây truyền HIV trong chãm sóc y tế. Tỷ lệ đồng ý/không đồng ý với thái độ “xa lánh” với người nhiễm HIV 46 Biểu đồ 11. Tỷ lệ đồng ý/không đồng ý với thái độ “cảm thông” với người nhiễm HIV. Tỷ lệ đồng ý/không đồng ý với thái độ “tích cực” trong chăm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS.
Tỷ lệ đồng ý/không đồng ý với thái độ “tiêu cực” trong chăm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS.48 V TÓM TẮT Tại Việt Nam cũng như the giới đã và đang có những chiến lược nhằm khống chế đại dịch HIV/AIDS trong đó giảm kỳ thị, phân biệt đối xử với người bị HIV/AIDS là một mục tiêu quan trọng của chiến lược này. Tuy nhiên, ngay cả trong ngành Y tể thì sự kỳ thị, phân biệt đối xử vẫn tồn tại rất phổ biến. Nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 8/2009 với mục tiêu: (i) Đánh giá kiến thức về HIV/AIDS, (ii) thái độ về việc chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS và (iii) xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS. Nghiên cứu mô tả cắt ngang với cỡ mẫu là 203 học sinh năm cuối hệ điều dưỡng tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nội và trường Cao đẳng Y tể Hà Đông.
Kểt quả trong số 203 HS tham gia nghiên cứu thì nữ chiếm chủ yểu (84,2%), tuổi trung bình là 21,7. Không có sự khác biệt nhiều về những nội dung, thời lượng học tập liên quan đến HIV/AIDS, về số người nhiễm HIV đã từng được chăm sóc giữa HS 2 trường CĐYT Hà Đông và CĐYT Hà Nội. Nguồn thông tin về HIV/AIDS mà HS thường tìm kiếm chủ yểu là Internet (66%), báo, tạp chí (64%) và Tivi (60,6%). Kiến thức chung về HIV/AIDS còn nhiều hạn chế, tỷ lệ HS “đạt” kiến thức về phòng chống HIV/AIDS là 74,4%.
Tỷ lệ HS có thái độ “đồng cảm” với người nhiễm HIV/AIDS là 47,8%. Mặc dù đa số HS đều có được những kiến thức nhất định về HIV/AIDS cũng như thái độ “mong muốn được làm một điều gì đó để giúp những người nhiễm HIV/AIDS có cuộc sống tốt hơn” (chiếm 98%), nhưng chỉ có 3,94% là “sẵn sàng”, 82,2% có thái độ “trung lập” (lưỡng lự) và 13,68% “không sẵn sàng” nếu phải chăm sóc cho bệnh nhân AIDS. Có mối liên quan giữa khu vực sinh sống, giới, số người nhiễm HIV/AIDS đã từng chăm sóc với kiến thức về HIV, thái độ đối với người nhiễm HIV/AIDS và thái độ trong chăm sóc cho người nhiễm HIV/AIDS. 1 ĐẶT VẤN ĐÈ Theo ước tính của Tổ chức Y tế thể giới tính đến cuối năm 2007, trên toàn thế giới số người có HIV/AIDS vẫn còn sống là 33,2 triệu người, số người nhiễm mới là 2,5 triệu người.
Như vậy, bình quân mỗi ngày có thêm khoảng 7000 người nhiễm HIV/AIDS, mỗi phút có thêm 5 người nhiễm HIV/AIDS. Sự gia tăng nhanh chóng số người nhiễm HIV/AIDS đã trở thành một thảm họa đáng lo ngại trên toàn cầu [61]. Tại Việt Nam, tính đến ngày 31/3/2009, số lũy tích được báo cáo là 144.483 trường hợp nhiễm HIV, 30.996 trường hợp đã chuyển thành bệnh nhân AIDS và 42.477 ca tử vong do HIV/AIDS. số người nhiễm HIV hiện còn sống vẫn chủ yếu tập trung tại các tỉnh thành phố trọng điểm, đứng đầu là thành phố Hồ Chí Minh với 37.585 trường hợp (chiếm 26%), tiếp theo là Hà Nội (14.419 trường hợp), Hải Phòng (6288 trường hợp), Sơn La (5098 trường hợp) [2], Tại Hà Nội, trong năm 2007, lũy tích các trường hợp nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn thành phổ Hà Nội lên tới 13.318 người, trong đó 3.512 người chuyển sang giai đoạn AIDS, 2.124 người đã tử vong do AIDS.
Đa sổ người nhiễm HIV/AIDS mới được phát hiện ở lứa tuổi trẻ, trong đó nhóm tuổi từ 20 - 39 chiếm 90,28% tổng số người nhiễm mới được báo cáo. Các trường hợp nhiễm HIV/AIDS ở Hà Nội vẫn tập trung chủ yếu ở nhóm nguy cơ cao như ma túy (71,38%), bệnh nhân nhiễm lao (9,16%). Trong khi đó, tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ở nam giới là 87,15%, cao gấp 6,7 lần tỷ lệ nhiễm ở nữ giới (12,85%) [59]. Sự kỳ thị đối với những người mắc HIV/AIDS tại cộng đồng cũng như tại các cơ sở y tế luôn là mối quan tâm hàng đầu trong công tác phòng chống HIV/AIDS [57], [54].
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy các nhân viên y tế (NVYT) luôn cảm thấy sợ hãi và thường không sẵn sàng điều trị, chăm sóc cho người mắc HIV/AIDS [40]. Sự sợ hãi và những vẩn đề liên quan đến việc phân biệt đối xử của NVYT là do sự lo sợ về việc mắc HIV/AIDS từ bệnh nhân trong công tác chăm sóc, điều trị, mối lo ngại về sự lây truyền HIV/AIDS cho người thân của mình. Ngoài ra, những người 2 mắc HIV/AIDS thường bị coi là những người có những hành vi không lành mạnh (tiêm chích ma tuý, mại dâm. Tại Việt Nam tỷ lệ điều dưỡng, hộ sinh trên 10.000 dân giảm từ 32/10.000 dân (giai đoạn năm 1986 - 2000) [19], Sự xảy ra đồng thời của tình trạng thiếu hụt nhân lực trong ngành điều dưỡng và sự kỳ thị, không tự nguyện trong việc chăm sóc y te cho những người mac HIV/AIDS có thể gây ra những tác động lâu dài đối với ngành điều dưỡng và công tác phòng chống HIV/AIDS.
Những chương trình giáo dục về H1V/AIDS cho các học sinh (HS), sinh viên (SV) hệ điều dưỡng sẽ là bước đệm ban đầu ảnh hưởng đến thái độ, chất lượng chăm sóc cho bệnh nhân HIV/AIDS cũng như định hướng nghề nghiệp trong tương lai.