Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài khóa luận tốt nghiệp đại học "Nghiên cứu một số biểu hiện hành vi của người có HIV tại Tiền Giang và Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay" do sinh viên Nguyễn Minh Phụng thực hiện năm 2008 tại Khoa Tâm lý Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Huỳnh Văn Sơn, thuộc chuyên ngành Tâm lý học.
Về bối cảnh thực tiễn, tính đến thời điểm nghiên cứu năm 2008, HIV/AIDS đã trở thành đại dịch nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê được tác giả trích dẫn, riêng trong tháng 03/2008, cả nước đã phát hiện thêm 930 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người có HIV (NCH) tích lũy tính đến ngày 20/03/2008 lên 141.000 ca; trong đó có 30.200 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS và gần 16.900 người đã tử vong do AIDS. Bối cảnh xã hội khi đó tồn tại định kiến phổ biến coi HIV/AIDS là hậu quả của các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, dẫn đến tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử gay gắt. Khi biết tin bản thân mang bệnh, NCH đối diện với khủng hoảng tinh thần, xuất hiện nhu cầu an toàn cấp bách nhưng lại thiếu điểm tựa, sợ bị tẩy chay và bàn tán. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu thực tiễn: hầu hết các đề tài trong nước trước đó mới dừng lại ở việc tìm hiểu nhận thức, thái độ của người dân đối với HIV/AIDS hoặc sự kỳ thị của xã hội, chưa có công trình trực tiếp khảo sát và thống kê các biểu hiện hành vi của chính bản thân người có HIV.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là tìm hiểu một số biểu hiện hành vi của NCH tại Tiền Giang và Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài: hành vi, hành vi dưới góc độ Tâm lý học, người có HIV, hành vi và biểu hiện hành vi của NCH.
- Khảo sát thực trạng hành vi và mức độ biểu hiện hành vi của NCH.
- Tìm hiểu một số nguyên nhân của thực trạng và trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm mục đích ổn định tâm lý và hạn chế những biểu hiện hành vi tiêu cực của NCH.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu được phân định rõ:
- Khách thể nghiên cứu chính: Người có HIV (NCH).
- Khách thể nghiên cứu bổ trợ: Người thân, tham vấn viên và nhân viên điều trị NCH.
- Đối tượng nghiên cứu: Một số biểu hiện hành vi của NCH.
Giả thuyết khoa học được đề tài xác lập: Phần lớn những người khi biết tin nhiễm HIV sẽ có một số biểu hiện hành vi tiêu cực. Nguyên nhân của thực trạng này là do vào thời điểm đó chủ thể có những suy nghĩ lệch lạc, thái độ khá tiêu cực cũng như gặp sự kỳ thị và xa lánh của một số người xung quanh.
Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:
- Phạm vi khách thể: Một số NCH đang sinh sống tại Tiền Giang và Thành phố Hồ Chí Minh (chủ yếu là những người đang điều trị tại cơ sở y tế chăm sóc sức khỏe hoặc tham gia các câu lạc bộ, hoạt động cộng đồng).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào một số biểu hiện hành vi của NCH trong khoảng thời gian từ khi biết tin nhiễm HIV đến trước khi tâm lý được ổn định. Đề tài giới hạn khảo sát mức độ biểu hiện hành vi theo ba tiêu chí: tần số xuất hiện (5 mức độ), tính chất biểu hiện (công khai và che giấu) và cường độ biểu hiện (mạnh, vừa, yếu).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên sự đối sánh giữa các trường phái tâm lý học về hành vi, kết hợp kiến thức y sinh học về tiến triển của HIV/AIDS và diễn biến tâm lý khủng hoảng của người bệnh.
Về khái niệm hành vi, tác giả điểm qua:
- Thuyết hành vi cổ điển (J. Watson) với công thức $S - R$, xem hành vi là tập hợp phản ứng cơ học trực tiếp đáp trả kích thích môi trường, bỏ qua vai trò của ý thức và môi trường bên trong.
- Thuyết hành vi mới của E. Tolman ($S - O - R$ với các biến số trung gian như hệ thống nhu cầu, động cơ) và C. Hull ($S - O - R$ giải thích hành vi gắn với nhu cầu cơ thể và trạng thái hệ thần kinh).
- Tâm lý học Mác-xít qua quan điểm của Coócnhilốp, P. Blônxki, S.L. Rubinstêin, Dương Thiệu Tống và Phạm Minh Hạc (tiếp cận cấu trúc hoạt động của A.N. Leontiev), khẳng định hành vi là mặt bên ngoài của hoạt động, chịu sự điều chỉnh của cấu trúc tâm lý bên trong đã được xã hội hóa. Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa hành vi sử dụng trong đề tài: "Hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động, là toàn bộ các phản ứng của con người đối với các kích thích từ môi trường trong một hoàn cảnh cụ thể, được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể".
- Phân loại hành vi: Khóa luận tổng hợp các cách phân loại hành vi theo chuẩn mực (hợp chuẩn - lệch chuẩn), theo bản chất (bản năng, kỹ thuật, cảm xúc), theo mục đích (biến đổi, nhận thức, định hướng giá trị, giao lưu), theo phương tiện biểu hiện (cử động, ngôn ngữ - Pôn Phraixơ), và đi sâu vào phân loại theo tính chất giá trị (hành vi tiêu cực và hành vi tích cực của NCH).
- Cơ sở sinh lý và xã hội của hành vi: Trình bày cấu tạo tế bào nơron, bao myelin, chất dẫn truyền thần kinh, khớp xy-náp; chức năng các vùng não (hành tủy, cấu tạo lưới, đồi não, hạ đồi thuộc tủy trung ương/não nguyên thủy; vỏ não đương đại; hệ limbic; hoạt động chuyên trách của hai bán cầu não). Đồng thời khẳng định cơ sở xã hội của hành vi người qua ba đặc tính: bắt nguồn từ đời sống xã hội, bị quy định bởi quan hệ xã hội, được điều chỉnh và đánh giá thông qua quan hệ xã hội.
- Nguyên nhân xuất hiện hành vi: Phân tích nguyên nhân bên trong qua các lý thuyết bản năng, lý thuyết giảm bớt sức thúc đẩy (drive-reduction), lý thuyết khích lệ (incentive), tháp nhu cầu của Abraham Maslow, lý luận động cơ của Tâm lý học Xô Viết; nguyên nhân bên ngoài qua thuyết duy cảm và mô hình học tập nhận thức xã hội của Albert Bandura ($S - r - s - R$).
- Y học và tiến triển HIV/AIDS: Định nghĩa HIV, chỉ số tế bào CD4 (bình thường 500–1.400 tế bào/$\text{mm}^3$, dưới 200 là giai đoạn suy giảm nặng dễ mắc bệnh cơ hội), nồng độ virus, hội chứng AIDS. Phân kỳ 4 giai đoạn bệnh lý: giai đoạn sơ nhiễm, giai đoạn nhiễm trùng không triệu chứng (thời kỳ cửa sổ kéo dài 5–10 năm), giai đoạn có liên quan đến AIDS, giai đoạn bệnh AIDS (thường kéo dài không quá 2 năm); 3 con đường lây truyền (tình dục, đường máu, mẹ truyền sang con).
- Mô hình diễn biến tâm lý của NCH: Tác giả xác lập sơ đồ 4 giai đoạn diễn biến tâm lý nối tiếp nhau gồm:
- Sốc: Hoang mang, chối bỏ thực tế, tức giận với bản thân, người lây bệnh hoặc căn bệnh.
- Căng thẳng tâm lý: Lo âu, sợ hãi đau đớn, mất việc, bị xua đuổi, sợ cái chết.
- Trầm cảm: U uất, tuyệt vọng, mặc cảm tội lỗi, thu mình, suy giảm động cơ và ý chí, xuất hiện ý muốn tự tử.
- Chấp nhận và hy vọng: Ổn định tâm lý, tìm cách sống hữu ích, tuân thủ điều trị, tham gia hỗ trợ cộng đồng.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Khóa luận kết hợp đồng bộ các phương pháp định tính và định lượng, trong đó phương pháp điều tra viết bằng anket là phương pháp chủ đạo:
| Phương pháp |
Mục đích và đối tượng |
Công cụ và cách thức thực hiện |
| Nghiên cứu tài liệu |
Hệ thống hóa cơ sở lý luận, xây dựng bảng anket |
Phân tích, tổng hợp các tài liệu tâm lý học và y học liên quan |
| Điều tra viết (Anket) |
Đo lường thực trạng, tần số, tính chất, cường độ hành vi và nguyên nhân ở 3 nhóm khách thể |
Mẫu 1 (dành cho NCH): 5 câu hỏi. - Câu 1: 20 hành vi chung (thang Likert 5 bậc). - Câu 2: 20 hành vi cụ thể (15 tiêu cực, 5 tích cực - thang Likert 5 bậc). - Câu 3: 20 hành vi (14 tiêu cực, 6 tích cực) đo phối hợp Tính chất (công khai/che giấu) và Cường độ (mạnh/vừa/yếu) tạo thành 7 mức độ. - Câu 4: 9 tình huống thực tế (mỗi tình huống có 3 cách ứng xử: 2 tiêu cực, 1 tích cực). - Câu 5: 30 nguyên nhân (15 chủ quan: nhận thức, thái độ; 15 khách quan: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cộng đồng). Mẫu 2 (Người thân): 5 câu (câu 1, 2, 3, 4 tương ứng câu 1, 2, 3, 5 của Mẫu 1; câu 5 về cách cư xử của người thân). Mẫu 3 (Tham vấn viên, điều trị): 5 câu (câu 1, 2, 3 tương ứng Mẫu 1; câu 4, 6 về nguyên nhân; câu 5 về cách xử lý khi NCH tuyệt vọng). |
| Phỏng vấn sâu |
Làm rõ động cơ, bối cảnh thực hiện hành vi theo diễn tiến tâm lý |
Phỏng vấn NCH ngay sau khi hoàn thành phiếu; phỏng vấn người thân và tham vấn viên có hẹn trước; có chụp hình, ghi âm/ghi hình khi được cho phép |
| Quan sát |
Thu nhận các biểu hiện phi ngôn ngữ và hành vi trực tiếp |
Quan sát NCH trong lúc điền phiếu anket, trong giao tiếp tại cơ sở điều trị, câu lạc bộ và đời sống thường nhật |
| Nghiên cứu trường hợp |
Mô tả chuyên sâu chân dung tâm lý theo tiếp cận Tâm lý học hoạt động |
Thực hiện trên 3 NCH tiêu biểu; xây dựng chân dung tâm lý qua 4 giai đoạn khủng hoảng; gửi lại biên bản cho đối tượng xác nhận |
| Thống kê toán học |
Xử lý dữ liệu định lượng, kiểm định giả thuyết |
Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 11.5; dùng kiểm nghiệm Chi-square ($\chi^2$) để so sánh sự khác biệt theo giới tính và giữa 3 nhóm khách thể |
Hệ thống mã hóa dữ liệu trên SPSS 11.5 được văn bản quy định chặt chẽ:
- Giới tính: 1: nam, 2: nữ.
- Độ tuổi: 1: <18, 2: 18–25, 3: 26–35, 4: >35.
- Trình độ học vấn: 7 bậc (Không đi học, Tiểu học, THCS, THPT, Cao đẳng, Đại học, Sau đại học).
- Tình trạng hôn nhân: 1: đã lập gia đình, 2: chưa lập gia đình.
- Đường lây nhiễm: 1: tiêm chích ma túy, 2: mại dâm, 3: truyền máu có virus HIV, 4: lây từ vợ/chồng, 5: nguyên nhân khác.
- Thang đo tần số (Câu 1 và 2): 1: rất thường xuyên, 2: thường xuyên, 3: thỉnh thoảng, 4: hiếm khi, 5: không bao giờ.
- Thang đo tính chất - cường độ (Câu 3): 1: công khai – mạnh, 2: công khai – vừa, 3: công khai – yếu, 4: che giấu – mạnh, 5: che giấu – vừa, 6: che giấu – yếu, 7: không bao giờ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 1 thực hiện nhiệm vụ tổng quan lịch sử nghiên cứu và xây dựng khung lý thuyết định hướng cho đề tài.
- Về lịch sử nghiên cứu: Tác giả điểm lại các nghiên cứu hành vi kinh điển quốc tế (A. Bandura về mô hình hóa hành vi bạo lực ở trẻ em; G. Allport về ảnh hưởng của nhóm đến hành vi; I. Urdapilleta về nhận thức trong rối loạn ăn uống) và trong nước (Lê Thị Bừng về hành vi biểu hiện sự chung thủy trong tình yêu). Đối với mảng nghiên cứu HIV/AIDS tại Việt Nam, tác giả tổng thuật các công trình của Viện nghiên cứu Quyền con người và Tổ chức CARE Quốc tế (chỉ ra 62,7% cán bộ cho rằng NCH nên điều trị bệnh viện riêng, 54,4% coi HIV là tệ nạn, 35,5% muốn trẻ nhiễm HIV học trường riêng); nghiên cứu điều tra nhân khẩu học Viet Nam Population and AIDS Indicator Survey 2005 (so sánh thái độ chấp nhận NCH giữa nam và nữ); tự truyện phỏng vấn xã hội học của Lê Văn Hoàng; nghiên cứu sự kỳ thị của Khuất Thu Hồng, Nguyễn Thị Vân Anh và Jessica Ogden (2004); nghiên cứu của ILO (2004) tại nơi làm việc; nghiên cứu nhu cầu y tế - xã hội của Lưu Thị Minh Châu và Nguyễn Thành Quang (1998–1999: 46,9% NCH có tư tưởng không ổn định, 25% chán chường, 74,2% lây qua tiêm chích ma túy); nghiên cứu hành vi nguy cơ của Lê Anh Tuấn tại Trung tâm 05, 06 Hà Nội; nghiên cứu lâm sàng tử vong do AIDS của Lê Thanh Chiến và Võ Xuân Huy (2006). Tác giả khẳng định điểm mới của khóa luận là tiếp cận trực tiếp vào biểu hiện hành vi của chính người có HIV dưới góc độ Tâm lý học.
- Về nội dung lý luận: Chương này phân tích chi tiết cơ sở sinh lý thần kinh, các tương tác giữa kích thích bên ngoài và động cơ tâm lý bên trong, đặc điểm của 4 giai đoạn tiến triển y học của HIV/AIDS và mô hình 4 giai đoạn biến đổi tâm lý (Sốc, Căng thẳng, Trầm cảm, Chấp nhận và hy vọng), làm căn cứ thiết lập các chỉ báo khảo sát thực tiễn.
Chương 2: Kết quả nghiên cứu
Chương 2 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được từ khảo sát thực tế và phân tích thực trạng hành vi NCH qua 5 nội dung chính:
- Vài nét về khách thể nghiên cứu (Mục 2.1): Thống kê cơ cấu nhân khẩu học của mẫu khảo sát (giới tính, độ tuổi, trình độ văn hóa, tình trạng hôn nhân và con đường lây nhiễm HIV tại Tiền Giang và TP. Hồ Chí Minh).
- Thực trạng về hành vi của NCH (Mục 2.2): Khảo sát thực trạng theo xu hướng hành vi chung (tiêu cực và tích cực); phân tích tần số của 20 hành vi cụ thể; phân tích biểu hiện hành vi kết hợp theo tính chất (công khai hay che giấu) và cường độ (mạnh, vừa, yếu); đánh giá sự lựa chọn phương án ứng xử của NCH qua 9 tình huống đời sống cụ thể; xác định mức độ tác động của 30 nguyên nhân chủ quan (nhận thức, thái độ) và khách quan (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cộng đồng).
- So sánh sự khác biệt giữa nam và nữ về mức độ biểu hiện hành vi (Mục 2.3): Kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai giới tính về tần số xuất hiện các hành vi cụ thể, sự khác biệt về tính chất - cường độ biểu hiện, cách xử lý trong các tình huống thực tế và nhận định về nguyên nhân chi phối hành vi.
- So sánh sự khác biệt giữa ba nhóm khách thể (Mục 2.4): Đối chiếu đánh giá chéo giữa bản thân NCH, người thân trong gia đình và tham vấn viên/người điều trị về mức độ biểu hiện xu hướng hành vi, chỉ ra mức độ đồng thuận hoặc khoảng cách nhận thức giữa NCH và môi trường xung quanh; phân tích cách ứng xử thực tế của người thân và tham vấn viên đối với NCH.
- Chân dung tâm lý tiêu biểu dưới góc độ mô tả hành vi (Mục 2.5): Phân tích sâu 3 trường hợp điển hình (trong đó có trường hợp "Sức sống phi thường của một phụ nữ có HIV") theo tiến trình hoạt động tâm lý thực tế từ lúc nhận kết quả xét nghiệm, trải qua cơn sốc, căng thẳng, trầm cảm đến khi tìm lại nghị lực, chấp nhận thực tế và hòa nhập cộng đồng.
Phần Kết luận và Kiến nghị
- Kết luận: Tổng kết lại các phát hiện thực trạng, khẳng định mức độ xác thực của giả thuyết khoa học về xu hướng hành vi tiêu cực chiếm ưu thế ở giai đoạn đầu sau khi biết tin nhiễm bệnh, cùng cơ chế tác động kết hợp giữa nhận thức cá nhân và sự kỳ thị của môi trường xã hội.
- Kiến nghị: Đề xuất hệ thống các biện pháp tâm lý - xã hội cụ thể đối với các cơ quan chức năng, cơ sở y tế, câu lạc bộ trợ giúp, gia đình và cộng đồng nhằm hỗ trợ can thiệp khủng hoảng, ổn định tâm lý sớm, giảm thiểu hành vi tiêu cực và nâng đỡ hành vi tích cực cho người có HIV.
Kết quả và đóng góp của đề tài
Kết quả chính và các chỉ báo định lượng
Khóa luận đã định lượng hóa và đối sánh thành công các khía cạnh biểu hiện hành vi của người có HIV thông qua hệ thống dữ liệu thực nghiệm:
- Về dịch tễ và bối cảnh: Trích dẫn dữ liệu thời điểm nghiên cứu với 930 ca nhiễm mới trong tháng 03/2008, 141.000 ca tích lũy toàn quốc đến ngày 20/03/2008, trong đó 30.200 ca chuyển AIDS và gần 16.900 ca tử vong.
- Về cấu trúc thang đo và thực nghiệm: Khóa luận đã xây dựng và kiểm định thành công bộ chỉ báo gồm:
- 20 hành vi xu hướng tổng quát đo bằng thang Likert 5 bậc tần số.
- 20 hành vi cụ thể (gồm 15 hành vi tiêu cực phản ánh các trạng thái buông xuôi, thu mình, tự trách hoặc phản ứng chống đối; 5 hành vi tích cực phản ánh việc tìm kiếm chăm sóc y tế, bảo vệ người xung quanh).
- Ma trận 20 hành vi kết hợp 2 chiều Tính chất (công khai/che giấu) $\times$ Cường độ (mạnh/vừa/yếu), hình thành thang đo 7 mức độ biểu hiện chuyên biệt.
- 9 tình huống thực tiễn đời sống với 3 phương án ứng xử định lượng (2 tiêu cực, 1 tích cực).
- 30 nguyên nhân tác động (15 nguyên nhân chủ quan về nhận thức, thái độ; 15 nguyên nhân khách quan từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cộng đồng).
- Về so sánh tương quan: Dùng kiểm định Chi-square trên SPSS 11.5 chỉ ra sự phân hóa hành vi rõ rệt giữa nam và nữ, đồng thời chỉ ra sự sai khác trong đánh giá mức độ hành vi giữa NCH, thân nhân và đội ngũ tham vấn y tế.
- Về giải pháp/kiến nghị: Đề xuất nhóm giải pháp ổn định tâm lý ban đầu cho NCH ngay khi nhận kết quả xét nghiệm, định hướng cách ứng xử nâng đỡ của người thân trong gia đình, nâng cao kỹ năng can thiệp cho tham vấn viên khi NCH rơi vào trạng thái tuyệt vọng không muốn sống, và kiến nghị truyền thông giảm kỳ thị xã hội.
Đóng góp của đề tài
Theo tác giả tự nhận định, trong bối cảnh các công trình nghiên cứu về HIV/AIDS tại Việt Nam giai đoạn trước 2008 chủ yếu tập trung vào nhận thức, thái độ của người bình thường đối với đại dịch hoặc hành vi của các nhóm có nguy cơ cao (như học viên cai nghiện ma túy tại Trung tâm 05, 06), khóa luận là một đóng góp bước đầu mang tính mới mẻ khi đi trực tiếp vào khảo sát biểu hiện hành vi của chính người có HIV, tiếp cận từ góc độ Tâm lý học hoạt động kết hợp với các kỹ thuật mô tả chân dung tâm lý lâm sàng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Văn bản khóa luận tự xác định các giới hạn nghiên cứu xuất phát từ điều kiện thời gian và đặc thù tiếp cận khách thể:
- Giới hạn về khách thể: Địa bàn nghiên cứu mới chỉ giới hạn tại hai tỉnh/thành là Tiền Giang và Thành phố Hồ Chí Minh. Khách thể khảo sát chủ yếu là những NCH đang tham gia điều trị tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe hoặc sinh hoạt trong các nhóm, câu lạc bộ cộng đồng; chưa bao quát được nhóm NCH sống hoàn toàn khép kín hoặc không tiếp cận dịch vụ y tế.
- Giới hạn về đối tượng nội dung: Nghiên cứu chỉ tập trung vào một số biểu hiện hành vi trong khoảng thời gian từ khi đối tượng biết tin bản thân nhiễm HIV đến trước khi tâm lý được ổn định; chưa theo dõi diễn tiến hành vi dài hạn sau khi đối tượng đã hoàn toàn thích ứng xã hội.
- Giới hạn về đo lường: Đề tài mới giới hạn đo lường hành vi ở 3 khía cạnh: tần số xuất hiện (5 mức bậc), tính chất biểu hiện (công khai và che giấu) và cường độ biểu hiện (mạnh, vừa, yếu).
Hướng mở tiếp theo: Cần mở rộng phạm vi khảo sát ra các địa bàn khác, tiếp cận các nhóm NCH ngoài cộng đồng chưa tham gia mạng lưới chăm sóc, và thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) về sự biến đổi hành vi qua từng mốc thời gian điều trị thuốc kháng virus.
Giá trị tham khảo
Khóa luận tốt nghiệp này có giá trị tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Tâm lý học và Công tác xã hội: Tham khảo phương pháp xây dựng công cụ anket khảo sát đối tượng nhạy cảm/yếu thế; kỹ thuật thiết kế thang đo kết hợp tính chất và cường độ hành vi (7 mức độ); quy trình xây dựng hồ sơ chân dung tâm lý dựa trên mô hình diễn biến tâm lý 4 giai đoạn (Sốc - Căng thẳng - Trầm cảm - Chấp nhận).
- Cán bộ y tế, nhân viên tham vấn tâm lý tại các phòng khám, câu lạc bộ NCH: Tham khảo bảng phân loại 30 nguyên nhân chủ quan/khách quan và các kịch bản ứng xử trong 9 tình huống thực tiễn để xây dựng nội dung tư vấn, nhận diện sớm các dấu hiệu trầm cảm hoặc nguy cơ tự sát ở NCH.
- Nhà nghiên cứu Xã hội học và Y tế công cộng: Cung cấp một nguồn dữ liệu lịch sử về thực trạng tâm lý, hành vi và mức độ kỳ thị liên quan đến HIV/AIDS tại khu vực phía Nam năm 2008.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận định nghĩa và tiếp cận khái niệm "hành vi" như thế nào dưới góc độ Tâm lý học?
Tác giả kế thừa quan điểm của Tâm lý học Mác-xít và Tâm lý học hoạt động, định nghĩa hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động, là toàn bộ phản ứng của con người đáp trả kích thích môi trường trong hoàn cảnh cụ thể, nhưng chịu sự điều chỉnh của cấu trúc tâm lý bên trong (nhu cầu, động cơ, ý định đã được xã hội hóa), không phải là phản xạ máy móc $S - R$ như thuyết hành vi cổ điển.
Thang đo kết hợp giữa tính chất và cường độ biểu hiện hành vi của NCH được thiết kế gồm những mức độ nào?
Tại Câu 3 của phiếu anket Mẫu 1, mỗi hành vi được đánh giá kết hợp giữa 2 tiêu chí tính chất (công khai hoặc che giấu) và 3 tiêu chí cường độ (mạnh, vừa, yếu), tạo thành 7 mức độ lựa chọn: (1) công khai – mạnh, (2) công khai – vừa, (3) công khai – yếu, (4) che giấu – mạnh, (5) che giấu – vừa, (6) che giấu – yếu, và (7) không bao giờ.
Mô hình diễn biến tâm lý của người có HIV được tác giả xác lập gồm các giai đoạn nào?
Mô hình diễn biến tâm lý của NCH trong khóa luận trải qua 4 giai đoạn tuần tự: Giai đoạn 1: "Sốc" (bàng hoàng, phủ nhận, tức giận); Giai đoạn 2: "Căng thẳng tâm lý" (lo âu, sợ hãi đau đớn, sợ bị xua đuổi); Giai đoạn 3: "Trầm cảm" (buồn rầu, u uất, tuyệt vọng, thu mình, có ý nghĩ tự tử); Giai đoạn 4: "Chấp nhận và hy vọng" (bình an, tìm cách sống có ý nghĩa, tuân thủ điều trị).
Khách thể khảo sát của khóa luận được phân chia như thế nào và lấy mẫu tại đâu?
Khách thể được chia thành hai nhóm: Khách thể nghiên cứu chính là những người có HIV; Khách thể bổ trợ gồm người thân của NCH, các tham vấn viên và nhân viên trực tiếp điều trị NCH. Địa bàn thu thập số liệu thực tế được tiến hành tại tỉnh Tiền Giang và Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung ở các phòng khám, cơ sở y tế và câu lạc bộ giúp đỡ NCH.
Hệ thống nguyên nhân dẫn đến hành vi của NCH được tác giả phân loại như thế nào trong bảng anket?
Tại Câu 5 của bảng hỏi, tác giả thiết kế tổng cộng 30 nguyên nhân, chia đều thành 2 nhóm: 15 nguyên nhân chủ quan (tập trung vào khía cạnh nhận thức sai lệch hoặc đúng đắn, và thái độ tiêu cực hoặc tích cực khi biết tin nhiễm bệnh) và 15 nguyên nhân khách quan (bao gồm những tác động, phản ứng từ phía gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và cộng đồng xã hội).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Minh Phụng là một công trình nghiên cứu thực nghiệm tâm lý học hoàn chỉnh về các biểu hiện hành vi của người có HIV tại Tiền Giang và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khung lý thuyết hoạt động tâm lý với phương pháp điều tra anket đa chiều, phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp lâm sàng, đề tài đã làm rõ thực trạng hành vi, ma trận tính chất - cường độ biểu hiện và các nhóm nguyên nhân chi phối tâm lý người bệnh. Toàn bộ số liệu và mô hình diễn biến tâm lý 4 giai đoạn được luận giải khoa học, cung cấp cứ liệu thực tiễn tin cậy phục vụ công tác tham vấn tâm lý và hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho người có HIV.