MỞ ĐẦU Thuốc là phương pháp điều trị được sử dụng thường xuyên và phổ biến trong chăm sóc sức khỏe đồng thời có liên quan đến tỉ lệ các biến cố bất lợi cao hơn so với những phương thức can thiệp trên người bệnh khác [25]. Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (TCYTTG), sai sót liên quan đến thuốc là một trong mười vấn đề liên quan đến an toàn người bệnh và chi phí cho nó ước tính hàng năm khoảng 42 tỷ đô la Mỹ, chiếm khoảng 1% trong việc chi tiêu y tế trên toàn cầu [66]. Tại Mỹ, năm 2016 có đến 1,2 triệu báo cáo sự cố nghiêm trọng liên quan đến thuốc trong các cơ sở khám chữa bệnh [37]. Tương tự, ước tính có khoảng 66 triệu sai sót thuốc trên lâm sàng và khoảng 237 triệu sự cố thuốc xảy ra ở một số thời điểm trong quy trình thuốc tại Vương quốc Anh mỗi năm [33].
Theo thống kê, những sai sót thuốc thường liên quan đến bác sĩ, điều dưỡng, những người trực tiếp điều trị và chăm sóc người bệnh [46]. Chính vì vậy, an toàn trong quản lý và sử dụng thuốc được xem là mối quan tâm lớn ở cấp độ toàn cầu [66]. Trong môi trường lâm sàng, quản lý và sử dụng thuốc là một quá trình đa ngành, có sự phối hợp của nhiều đối tượng (bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng và người bệnh) nhưng điều dưỡng có trách nhiệm lớn hơn trong việc quản lý và sử dụng thuốc để đảm bảo an toàn cho người bệnh. Với hơn 40% các hoạt động công việc liên quan đến thuốc, việc quản lý và sử dụng thuốc là nhiệm vụ cốt lõi của điều dưỡng tại cơ sở khám và điều trị bệnh [24].
Điều dưỡng chính là đại diện cho lần kiểm tra an toàn cuối cùng trong chuỗi quy trình dùng thuốc để bảo vệ người bệnh khỏi các sai sót về thuốc [46]. Thuốc cấp cứu (TCC) đóng vai trò quan trọng việc xử trí các tình huống khẩn cấp liên quan đến sức khỏe con người. Có thể kể đến những tình huống cấp cứu như sốc phản vệ, kích thích do rối loạn thần kinh, đau hay những phản ứng căng thẳng của cơ thể có thể dẫn đến diễn tiến nặng hoặc nguy cơ tử vong. trên người bệnh [51],[53],[55],[63].
Những giải pháp về TCC bao gồm: thuốc tim mạch (Epinephrine, Nor-epinephrine), thuốc gây nghiện (Morphine, Fentanyl), thuốc hướng thần (Diazepam, Midazolam), thuốc hô hấp (Salbutamol, Albuterol), thuốc chống đông máu (Warfarin và Heparin), chất ngăn chặn thần kinh cơ (Rocuronium hoặc Succinylcholine) và chất điện giải (Kali clorua 15%) [21],[54],[70]. Một số TCC thường dự trữ tại khoa lâm sàng như: TCC phản vệ (PV) và sốc phản vệ (SPV), thuốc gây nghiện (GN), thuốc hướng thần (HT). Các thuốc này đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ, nghiêm ngặt vì phần lớn thuộc danh mục thuốc có nguy cơ cao, được quản lý dựa trên những chính sách, quy định và tiêu chuẩn thực hành cụ thể cho từng đối tượng y tế chuyên ngành [31],[35],[52]. Căn cứ vào các thông tư do Chính phủ ban hành, các loại TCC trên được quản lý và cung cấp sẵn sàng, trực tiếp bởi các đơn vị điều dưỡng (ĐD), hộ sinh (HS) tại các khoa lâm sàng [8],[9],[11],[59].
Vì thế, điều này đòi hỏi ĐD, HS phải nắm vững những kiến thức liên quan đến nghĩa vụ pháp lý của mình cũng như các chính sách, quy định về TCC, vốn là cơ sở cho việc an toàn cho quản lý và sử dụng thuốc trong môi trường lâm sàng đầy thách thức hiện nay [48]. Ngoài ra, sự nhận thức và tuân thủ đúng trách nhiệm và nghĩa vụ về thuốc của ĐD, HS cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các nguyên tắc an toàn trong quản lý và sử dụng thuốc nói chung và TCC nói riêng. Như thế, liệu khi đã có đầy đủ kiến thức về các quy định, chính sách cho TCC tại khoa, phòng thì ĐD, HS sẽ có thái độ tích cực hơn so với những ĐD, HS chưa đủ kiến thức về quản lý và sử dụng TCC hay không? Đây chính là trọng tâm mà nghiên cứu muốn đề cập để làm rõ hơn trách nhiệm, nghĩa vụ của ĐD và HS trong lĩnh vực về thuốc. Hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu trong nước khảo sát về kiến thức và thái độ của ĐD, HS liên quan đến các quy định, chính sách quản lý và sử dụng.
Tại Trung tâm y tế thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, công tác kiểm tra, theo dõi và sử dụng TCC tủ trực của ĐD, HS chưa chặt chẽ và thống nhất dẫn đến tiêu tốn nhiều thời gian, ảnh hưởng nhiều đến công tác chăm sóc người bệnh. Đồng thời chưa có quy trình chuẩn vận hành cho công tác này. Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài: “Đánh giá kiến thức, thái độ của điều dưỡng và hộ sinh về quy trình quản lý, bảo quản và thực hiện thuốc cấp cứu”. Qua đó, đề xuất thiết kế các chương trình tập huấn, đào tạo phù hợp và xây dựng quy trình quản lý TCC tủ trực chuẩn nhằm trang bị cơ sở pháp lý cho ĐD, HS trong công tác quản lý và sử dụng thuốc tại các khoa lâm sàng.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Tỉ lệ điều dưỡng, hộ sinh có kiến thức đúng và thái độ tốt về quy trình quản lý, bảo quản và thực hiện thuốc cấp cứu tại Trung tâm y tế Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương là bao nhiêu? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu tổng quát Đánh giá kiến thức, thái độ của điều dưỡng và hộ sinh về quy trình quản lý, bảo quản và thực hiện thuốc cấp cứu. Mục tiêu cụ thể 1. Xác định tỉ lệ điều dưỡng, hộ sinh có kiến thức đúng và thái độ tốt về quy trình quản lý, bảo quản và thực hiện thuốc cấp cứu tại Trung tâm y tế Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức của điều dưỡng, hộ sinh về quy trình quản lý, bảo quản và thực hiện thuốc cấp cứu Trung tâm y tế Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Một số khái niệm 1. Thuốc Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm [15]. Thuốc hóa dược là nhóm chủ yếu thường được sử dụng để điều trị bệnh trên lâm sàng. Đây là thuốc đã được xác định thành phần, độ tinh khiết và đạt tiêu chuẩn làm thuốc bao gồm cả thuốc tiêm được chiết xuất dược liệu, thuốc có kết hợp dược chất với các dược liệu đã được chứng minh về tính an toàn và hiệu quả [15].
Thuốc cấp cứu TCC là các loại thuốc được dự trữ tại tủ thuốc trực cấp cứu, dùng cho những trường hợp cấp cứu ban đầu dưới sự chuẩn bị sẵn sàng và cung cấp của các đơn vị ĐD [59]. TCC được trang bị tại khoa Cấp cứu, khoa Hồi sức tích cực, khoa Nhi, khoa Nội, khoa Phẫu thuật Gây mê Hồi sức, khoa Phụ Sản [34],[54],[59],[70]. Đặc biệt, các TCC thường dùng ở dạng tiêm truyền để phát huy tác dụng điều trị tức thời cho những tình huống khẩn cấp nên việc sử dụng nhầm, sai mục đích hoặc không đúng cách đều có thể dẫn đến nguy hại nghiêm trọng cho người bệnh [46]. Tổng quan về các loại thuốc cấp cứu 1.1 Thuốc cấp cứu phản vệ và sốc phản vệ 1.
Tình hình sử dụng thuốc Theo TCYTTG, TCC PV và SPV nằm trong danh sách các thuốc cần có tối thiểu trong hệ thống chăm sóc sức khỏe cơ bản [64]. Đây là nhóm thuốc dùng để xử trí, điều trị PV và có thể dẫn tình trạng nặng, đe dọa tính mạng là. Theo Tổ Chức Dị Ứng Thế Giới, tỉ lệ SPV trên toàn cầu hằng năm từ 50-112 đợt/100.000 người với xu hướng nhập viện ngày càng tăng. Trong các cơ sở điều trị, nhu cầu sử dụng thuốc khá lớn nên người bệnh dễ dàng đối mặt với nguy cơ PV và SPV do thuốc, nhất là thuốc kháng sinh và thuốc kháng viêm Non-steroid [61].
Thuốc chống SPV là bước xử lý quan trọng thứ 5 trong 10 bước quản lý tình trạng SPV để đưa người bệnh ra khỏi tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng tức thời [61]. Do đó, các hướng dẫn chi tiết trong xử trí, điều trị, dự phòng liên quan đến thuốc đã được phát hành rộng rãi trên thế giới [61]. Sử dụng thuốc là một trong những biện pháp chính yếu trong cấp cứu PV và SPV. Các thuốc điển hình bao gồm: Adrenalin, chất chủ vận Beta-2 Adrenergic, Glucagon, Glucocorticoid và thuốc kháng Histamin [61].
Những trường hợp SPV do thuốc gây tê, gây mê trong thủ thuật, phẫu thuật thì nhũ dịch Lipid (Lipofundin 20%, Intralipid 20%) được khuyến cáo dùng vì đặc tính trung hòa được độc tố thuốc gây tê, gây mê [8],[63]. Việc lựa chọn thuốc sử dụng cho các trường hợp PV và SPV cần có sự nhận định về mức độ, tiền sử dị ứng và dị nguyên mà người bệnh tiếp xúc. Ngoài ra, cần nhấn mạnh sự chuẩn bị sẵn sàng TCC nhằm đáp ứng nhu cầu lựa chọn điều trị phù hợp với đặc điểm và nguyên nhân của tình trạng người bị PV, SPV ở các khoa lâm sàng là vô cùng cần thiết. Quy định liên quan đến thuốc cấp cứu phản vệ và sốc phản vệ Nội dung của “Hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ” được Bộ y tế Việt Nam ban hành năm 2017 quy định ở trong và ngoài cơ sở khám chữa bệnh.
Bao gồm: nhận biết về PV và SPV, thành phần trong hộp chống SPV, phác đồ hướng dẫn, phạm vi sử dụng thuốc dành cho các đối tượng y tế theo mức độ PV và SPV được nhận định [8]. Hộp TCC PV gồm ba loại thuốc chính là Adrenalin, Methylprednisolon và Diphehydramin được quy định số lượng cụ thể, thống nhất kèm theo thiết. bị, vật tư y tế [8]. Tất cả được bảo quản chung và sắp xếp theo quy cách nhằm đảm bảo sẵn sàng cho việc sử dụng trong tình huống tức thời.