Chương 1 TốblG GUAM Chỉ còn chưa đầy 13 tháng nữa nhân loại sẽ bước vào thiên niên kỷ thứ ba. Cùng với những thành tựu to lớn của mình trong công cuộc khai phá thiên nhiên, thám hi ểm đáy đại dương, chinh phục vũ trụ, khám phá gen và các cấu trúc dưới gen, cái l ớn nh ất còn tiểm ẩn mà con người sẽ mang trong hành trang của mình vào thiên niên kỷ tới là tri thức cùng những khả năng khám phá, chinh phục và sáng chế vô tân của nó. Tất cả những gì đã có của loài người hôm nay là vô cùng to lớn và quí giá, là công sức kết tinh của hàng nghìn nghìn thế hệ dầy công tích luỹ, phát triển và sẽ là tiền đề cho sự phát triển kế tiếp sau này, nhưng, những gì nhân loại chờ đón trong tương lai sắp tới sẽ còn to lớn hơn nhiều, vĩ đại hơn nhiều, mà ngay cả nhũng bộ óc tinh tuý nhất của ngày hôm nay cũng không th ể tiên đoán được. Do vây sẽ là có lý khi cho rằng, trong tất cả nhũng khám phá và phát minh của loài người, cái có giá trị nhất là khám phá về khả năng sáng tạo vô tận của con người để từ đó có những quyết sách đầu tư xứng đáng nhằm không ngừng mở rộng và nâng cao trí tuệ của loài người.
Luôn nhanh nhậy và nắm bắt chính xác những xu hướng phát triển cùng những thời cơ phát triển của xã hội loài người, Đảng cộng sản Việt Nam kể từ khi lảnh đạo cách mạng Việt Nam đã luôn đề ra được nhũng chủ trương chính sách chính xác, kịp th ời, chèo lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đưa dân tộc Việt Nam từ một dân tộc không được biết đến, thậm chí tên đất nước không đ ược ghi trên bản đồ thế giới, ngày nay trở thành một dân tộc tiến bộ, đang hội nhập và phát triển cùng các quốc gia tiến bộ trên thê' giới. Trong lãnh đạo đấu tranh giải phóng đất nước trước đây, Đảng ta đã luôn đề cao và vận dụng sáng suốt sức mạnh của con người và trí tuệ của loài người. Ngày nay, trong còng cuộc xây dựng hoà bình, Đảng ta hơn ai hết hiểu r ất rõ và nh ận th ức đ ầy đù v ề vai trò và sứ mạng của con người mà ở nước ta đó là toàn thể nhân dân lao động cùng chung lòng xây dựng đất nước, để từ đó đề ra các chủ trương, quyết sách khoa học và hợp lý. 7 Tại Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam - Đại hội của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vị trí của con người được đặt ở trung tâm của cách m ạng xã h ội.
Đại hội đã xác định “con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế- văn hoá-xã hội”, một nhận thức vồ cùng khoa học và sáng suốt. Từ luận điểm trên, Đảng ta đã đề ra chủ trương: “giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu” và ưu tiên đầu tư đặc biệt cho các hoạt động giáo dục và đào tạo {1}. Phát triển những tư tưởng trên của Đại hội vin, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai đã ra nghị quyết cụ thể hoá thành những giải pháp và chính sách cụ thể để giáo dục và đào tạo thật sự ưở thành quốc sách hàng đẩu. Sau khi khẳng định: “nguồn lực con người là quí báu nhất, có vai trò quyết định” đối vói cách mạng nước ta, Nghị quyết TƯ II chỉ rõ mục tiêu của giáo dục và đào tạo là phải đào tạo ra lóp người “nhân, trí, dũng” như truyền thống lịch sử quật cường của dân tộc đã để lại những trang vàng chói lọi {2 Ị.
Con người mà chúng ta cần tạo ra phải là những người có đức, có tài và cường tráng về mặt thể chất để có thể đảm đương được mọi nhiệm vụ mà xã hội và nhân dân giao phó. Do vậy trách nhiệm của nhà trường, gia đình và xã hội là phải không những trang bị cho các em học sinh có đầy đủ các tri thức khoa học về vãn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật, có tay nghề tương xứng mà còn phải có thể lực cường ưáng, dẻo dai giúp cho công việc học tập với cường độ cao và sau này là làm việc vói chất lượng, năng suất và hiệu quả cao nhất. Muốn các em có thể lực cường tráng thì ngoài việc phải chăm lo cho các em ngay từ trong thai nghén, trong thời kỳ sơ sinh, thời kỳ nhà trẻ, mâu giáo, một điều đặc biệt quan trọng là phải trang bị cho các em những kiến thức cùng hành vi và thói quen có lợi cho sức khoẻ, để các em biết và tự bảo vệ mình, bảo vệ những người xung quanh và bảo vệ xã hội. Cùng với sự nhận thức đầy đủ về vai trò quan trọng của công lác giáo dục sức khoẻ trong sự hình thành nhân cách của học sinh, sau một loạt những thử nghiệm, vào những năm 80 ngành giáo dục đã đồng bộ đưa chưong trình giáo dục sức khoẻ vào dạy chính khóa trong các trường phổ thông trên phạm vi toàn quốc.
Bộ Giáo dục - Đào tạo luôn quan tâm chỉ đạo sát sao hoạt 8 động này trong ngành và phổi hợp chặt chẽ vói Bộ Y tế trong việc biên soạn nội dung, hình thức và phương pháp giảng dạy cũng như kiểm tra đánh giá để công tác giáo dục sức khoe trong học sinh thật sự đi vào nề nếp, có lữệu quả và đạt mục tiêu đã đề ra. Nhiều nghiên cứu khoa học, hội thảo khoa học liên quan đ ến vi ệc nâng cao ch ất lượng và hình thức giáo dục sức khoẻ trong các trường ph ổ thông c ơ s ở đã đ ược ti ến hành. Một trong những đề tài nghiên cứu đó là “Ơiương trình đổng bộ có mục tiêu nhằm cải tiến giáo dục thể chất và môi trường đối với học sinh tiểu học đến năm 2000” của Bộ Giáo dục - Đào tạo do Pgs, Pts. Nguyễn Võ Kỳ Anh và các cộng sự tiến hành.
Trong chương trình này có dành một chương lớn cho công tác giáo dục sức khoẻ và cải tiến công tác vệ sinh học đường {14}. Xem công tác giáo dục sức khoẻ là nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lược chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân đến năm 2000, Bộ Y tế đã giao cho Vụ y tế dự phòng chủ trì đề tài khoa học nhánh mang mã số: 11-01-06 chuyên về công tác y tế học đường và giáo dục sức khoẻ. Mới đây một “Hội thảo khoa học về nâng cao sức khỏe trường học ở Việt Nam” đã được tổ chức ở Hà Nội và thu hút được sự quan tâm chú ý của đông đảo các nhà khoa học về y học và giáo dục học trong và ngoài nước {7 Ị. Nhiều nhà y học và giáo dục học đã tiến hành nhiều đề tài nghiên cứu về sức khoẻ và giáo dục sức khoẻ trong các trường phổ thông nhằm đánh giá tình hình sức khỏe, bệnh tật của học sinh, tình hình vệ sinh môi trường học đường và ảnh hưởng của môi trường học đường tới sức khỏe của học sinh và đặc biệt là đánh giá các ho ạt đ ộng giáo d ục s ức khoẻ và ảnh hưởng của nó tới sự thay đổi nhân thức, thái độ và hành vi của học sinh.
Trần Vãn Dần và Hà Tấh Dũng trong “Bước đầu đánh giá sự hiểu biết của học sinh phổ thông qua một số chưông trình của Bộ y tế và Bộ Giáo dục - đào tạo sau một năm thực hiện” đã chỉ ra rằng chương trình giáo dục sức khoẻ được tiến ■ hành tại các địa phương nghiên cứu đã mang lại những biến đổi tốt về kiến thức và hành vi sức khỏe của học sinh 118}. 9 Phùng Anh Hoa ,Trần Văn Dần trong nghiên cứu “Bước đầu đánh giá nhận thức của học sinh phổ thôngvề công tác giáo dục sức khoẻ trong các trường phổ thông” đã có nhận xét rằng việc đánh giá những hiểu biết của học sinh về các v ấh đ ề s ức kho ẻ sau khi đã học qua chương trình giáo dục sức khoẻ là rất cần thiết {20}. Nguyễn Võ Kỳ Anh, trong Luận án Phó Tiến sỹ của mình với đề tài: “Nghiên cứu một số mối hên quan giữa một số yếu tố môi trường sôhg và tình hình s ức kh ỏe, b ệnh t ật ở học sinh tiểu học một số địa phương miền núi phía bắc” đã khẳng định: “Các trường tiểu học cần coi trọng việc học tập các môn giáo dục thể chất, giáo dục sức khoẻ và môi trường để từng bước hạn chế tình ưạng hiểu biết thấp kém về vệ sinh phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe, cải tạo và bảo vệ môi trường và tăng dần kiến thức, hành vi sức khỏe cho học sinh” {15}. Trong công tác giáo dục sức khỏe , để chuyển tải kiến thức về sức khoẻ và giáo dục sức khoẻ đến học sinh có nhiều cách, nhưng có một cách được thế giới rất ưa chuộng tiến hành và đã được đưa vào áp dụng ở Việt Nam đó là phương pháp giáo dực “trẻ em với trẻ em”.
Phương pháp này được bác sỹ David Morley,Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em, Trường đại học tổng hợp Luân đôn khởi xướng từ năm 1977, hiện nay được nhiều nước trên thế giới áp dụng và được Tổ chức Y tế Thê' giới đánh giá cao {43}. Việt Nam ta cũng đã áp dụng phương pháp này và cho thấy đày là một cách tiếp cận hay. Trần văn Dần, Lê Thị Kim Thoa và Nguyễn thị Phương Loan trong kết quả nghiên cứu: “Bước đầu đánh giá việc sử dụng phương pháp giáo dục “trẻ em với trẻ em” trong chương trình giáo dục sức khoẻ ở trường phổ thông” đã nêu rõ học sinh được học giáo dục sức kho ẻ theo ph ương pháp “trẻ em với trẻ em” có kiến thức, thái độ và hành vi sức khỏe t ốt h ơn h ẳn so v ới các h ọc sinh không được truyền đạt theo phương pháp này [19]. Phạm Thị Thu Ba, Trần Văn Dần trong Luận văn Tốt nghiệp Bác sỹ chuyên ngành y học dự phòng năm 1997 đã đưa ra kết luận: “Học sinh thành phố có kiến thức, hành vi và kỹ năng về giáo dục sức khoẻ tốt hơn học sinh nông thôn” {21}.