1 O Ụ V OT O Y TẾ Ọ T N UY N TRƢỜN Ọ Y ƢỢ NGUYỄN THỊ HOA THỰC TR N ƢỚU CỔ Ở HỌC SINH 8 - 10 TUỔI TỈNH L N SƠN V XÂY ỰNG GIẢI PHÁP CAN THIỆP huyên ngành: Y tế ông cộng Mã số: K 62 72 76 01 LUẬN VĂN UY N K OA ẤP ƢỚN ẪN K OA Ọ : TS. N UYỄN QUAN M N THÁI NGUYÊN- 2016 2 MỤC LỤC Lời cam đoan. Danh mục các chữ viết tắt. Danh mục bảng.
Danh mục biểu đồ. Đại cƣơng về bƣớu cổ. Tình hình bƣớu cổ trên thế giới và Việt Nam. Các yếu tố liên quan với bƣớu cổ.
Các biện pháp và hoạt động phòng chống bƣớu cổ và CRLTI. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tƣợng nghiên cứu. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.
Phƣơng pháp nghiên cứu. Biến số nghiên cứu. Chỉ số nghiên cứu. Đo lƣờng, đánh giá.
Công cụ và kỹ thuật thu thập số liệu. Xử lý và phân tích số liệu. Đạo đức trong nghiên cứu. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu. Thực trạng bƣớu cổ ở học sinh 8-10 tuổi. Một số yếu tố liên quan với bƣớu cổ ở học sinh 8 - 10 tuổi. Xây dựng giải pháp can thiệp phòng chống bƣớu cổ.
Đối tƣợng nghiên cứu. Thực trạng bƣớu cổ ở học sinh 8 - 10 tuổi tại tỉnh Lạng Sơn. Một số yếu tố liên quan với bƣớu cổ ở học sinh 8 - 10 tuổi. Giải pháp phòng phống bƣớu cổ và các rối loạn do thiếu i ốt tại tỉnh Lạng Sơn.
Những hạn chế của đề tài. 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 4 DANH MỤC BẢNG ảng 1. Tỷ lệ bƣớu cổ ở một số nƣớc thế giới.
Sự thay đổi tỷ lệ bƣớu cổ ở một số khu vực trên thế giới. Trung vị i ốt niệu và tỷ lệ dân số thiếu i ốt ở một số nƣớc. Đánh giá mức độ thiếu i ốt dựa vào nồng độ i ốt niệu. Tiêu chuẩn phân vùng thiếu i ốt ở cộng đồng .1 Danh sách 30 trƣờng tiểu học đƣợc chọn.
Biến số nghiên cứu. Phân độ bƣớu cổ. Đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu .2 Đặc điểm hộ gia đình đối tƣợng nghiên cứu. Tỷ lệ bƣớu cổ theo tuổi, giới, dân tộc và khu vực sinh sống.
Thống kê mô tả i ốt niệu ở học sinh 8 - 10 tuổi. Tỷ lệ mức thu nhập i ốt theo i ốt niệu ở học sinh 8-10 tuổi. Tỷ lệ thiếu i ốt phân bố theo tuổi, giới, dân tộc, khu vực sinh sống và nguồn nƣớc sinh hoạt. Thực trạng sử dụng chế phẩm mặn ở hộ gia đình học sinh.
Kết quả định tính và định lƣợng i ốt trong muối ăn. Hiểu biết của bà mẹ về chế phẩm bổ sung i ốt. Hiểu biết của bà mẹ về lợi ích sử dụng muối i ốt và các chế phẩm bổ sung i ốt. Thái độ của bà mẹ hƣớng đến tìm kiếm các chế phẩm bổ sung i ốt 46.
Thái độ của bà mẹ hƣớng đến sử dụng chế phẩm bổ sung i ốt. Thực hành bảo quản chế phẩm mặn có i ốt ở hộ gia đình. Nơi mua chế phẩm mặn của các hộ gia đình. Thông tin về TT- GDSK phòng chống bƣớu cổ.
Mối liên quan giữa i ốt niệu với tỷ lệ bƣớu cổ ở học sinh 8-10 tuổi. Mối liên quan giữa chất lƣợng muối i ốt sử dụng tại hộ gia đình với tỷ lệ bƣớu cổ ở học sinh 8-10 tuổi. Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành của các bà mẹ về MI và chế phẩm có i ốt với tỷ lệ bƣớu cổ ở học sinh 8-10 tuổi. Mối liên quan giữa các yếu tố: giới, dân tộc, khu vực sinh sống, nguồn nƣớc sinh hoạt hộ gia đình với tỷ lệ bƣớu cổ.
53 6 DANH MỤC BIỂU Ồ iểu đồ 3. Tỷ lệ bƣớu cổ ở học sinh 8-10 tuổi. Phân bố độ bƣớu cổ ở học sinh 8-10 tuổi. Phân bố thể bƣớu cổ ở học sinh 8-10 tuổi.
Tỷ lệ các mức độ thiếu i ốt ở học sinh 8-10 tuổi tỉnh Lạng Sơn. Mức độ kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ. 49 1 ẶT VẤN Ề Bƣớu cổ, đặc biệt bƣớu cổ do thiếu i ốt là vấn đề sức khỏe cộng đồng của nhiều nƣớc trên thế giới trong đó có Việt Nam. Hậu quả của thiếu i ốt vô cùng nghiêm trọng, làm ảnh hƣởng đến sự phát triển tinh thần, trí tuệ, tƣơng lai và giống nòi của cả một dân tộc.
Những hậu quả này không biểu hiện nhanh chóng ra bên ngoài trong một vài ngày, một vài năm mà diễn tiến bệnh âm thầm, dần bào mòn sự phát triển trí tuệ và sự tăng trƣởng của con ngƣời. Trong đó những tổn thƣơng do thiếu i ốt gây ra nhƣ đần độn, thiểu năng trí tuệ không thể nào chữa đƣợc. Đối tƣợng bị tác động mạnh nhất bởi thiếu i ốt chính là phụ nữ và trẻ em. Bƣớu cổ là hậu quả rất phổ biến của thiếu i ốt và thƣờng đƣợc dùng nhƣ là một chỉ số đánh giá tình trạng thiếu i ốt, đặc biệt là bƣớu cổ trẻ em [59].
Trẻ em độ tuổi từ 8 - 10 là nhóm tuổi có độ nhạy cảm cao với thiếu hụt i ốt, có khả năng đại diện đƣợc cho cộng đồng, đáp ứng nhanh với bổ xung i ốt và thuận tiện cho các hoạt động giám sát. Ngoài ra, trẻ em nhóm tuổi này hầu hết chƣa đến tuổi dậy thì nên chƣa chịu ảnh hƣởng của các hormone sinh dục và đều đang học tại các trƣờng tiểu học nên dễ dàng cho việc triển khai, đánh giá [25], [34]. Vì vậy, việc điều tra dịch tễ học cũng nhƣ các nghiên cứu, giám sát hiệu quả phòng ngừa các rối loạn thiếu i ốt (trong đó có bƣớu cổ) đối tƣợng đƣợc định hƣớng lựa chọn là trẻ em từ 8 - 10 tuổi [34]. Trên Thế giới có khoảng 1,6 tỷ ngƣời sống trong vùng thiếu i ốt, tỷ lệ bƣớu cổ toàn cầu ƣớc đoán 12% tƣơng đƣơng khoảng 655 triệu ngƣời.
Vùng Đông Nam Á có khoảng 486 triệu ngƣời sống có nguy cơ thiếu i ốt trong đó có 175 triệu ngƣời bƣớu cổ, chiếm 26,7% số ngƣời bị bƣớu cổ trên Thế giới [61]. Ở Việt Nam, năm 1993, đƣợc sự hỗ trợ của Quỹ nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF) và Tổ chức Phi chính phủ của Vƣơng quốc Bỉ (CEMUBAC), Bệnh viện Nội tiết Trung ƣơng đã tiến hành điều tra bƣớu cổ trẻ em 8 - 12 tuổi 2 trong toàn quốc, kết quả cho thấy: tỷ lệ bƣớu cổ ở trẻ em 8-12 tuổi là 22,4%, trung vị i ốt niệu là 3,2 µg/dl, đặc biệt tỷ lệ bƣớu cổ trẻ em khu vực miền núi rất cao là 27,1%; ở một số tỉnh nhƣ An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp…trung vị i ốt niệu <2,0 µg/dl, có khoảng 94% dân số Việt Nam nằm trong vùng thiếu hụt i ốt [19], [61]. Kết quả trên cho thấy tỷ lệ mắc bƣớu cổ ở Việt Nam là quá cao, mức i ốt niệu là quá thấp so với khuyến cáo của WHO [59]. Vì vậy, phòng chống bƣớu cổ là vấn đề cấp thiết không thể trì hoãn.
Ở nƣớc ta, việc phòng chống bƣớu cổ đã đƣợc đặt ra từ năm 1970. Năm 1994, Chính phủ đã ra quyết định về việc tổ chức và vận động toàn dân sử dụng muối i ốt (MI). Từ năm 1995, Dự án Phòng chống bƣớu cổ (PCBC) và chƣơng trình phòng chống các rối loạn do thiếu i ốt (PCCRLTI) đƣợc triển khai trong toàn quốc nhƣ là một chƣơng trình mục tiêu quốc gia [16]. Trải qua hơn một thập kỷ thực hiện Chƣơng trình, Việt Nam đã đạt các mục tiêu PCBC và đạt đƣợc mục tiêu Chƣơng trình Muối i ốt toàn cầu.
Dữ liệu điều tra toàn quốc năm 1998, 2000 và 2005 cho thấy mức bao phủ MI đủ tiêu chuẩn phòng bệnh tăng từ 78% năm 2000 lên 93% năm 2005, mức trung vị i ốt niệu của cả phụ nữ và trẻ em tuổi đi học đã duy trì trong phạm vi khuyến nghị của WHO (>10 µg/dl), tỷ lệ bƣớu cổ ở trẻ em 8 - 10 tuổi đã giảm từ 12,9% năm 1998 xuống 3,6% năm 2005 dƣới mức khuyến cáo WHO (<5%) [40]. Đạt đƣợc kết quả này, Viêt Nam đã tuyên bố thanh toán bệnh bƣớu cổ và các rối loạn do thiếu i ốt (CRLTI) vào năm 2005, đồng thời hạ cấp độ Chƣơng trình PCBC từ một chƣơng trình quốc giachuyển thành hoạt động y tế thƣờng xuyên. Quyết định này đã làm thay đổi về cơ chế quản lý, cơ cấu tổ chức, cắt giảm ngân sách…, vì thế nhiều hoạt động phòng chống bƣớu cổ không đƣợc duy trì, hiệu quả phòng bệnh bị hạn chế, làm ảnh hƣởng đến những thành quả mà chƣơng trình đã đạt đƣợc. Kết quả điều tra tỷ lệ bƣớu cổ trẻ em 8 - 10 tuổi trên toàn quốc do Bệnh viện Nội tiết Trung ƣơng tiến hành gần đây (2013- 2014) đã cảnh báo tình trạng thiếu i ốt đã quay trở lại Việt Nam.
Theo đó, tỷ 3 lệ bƣớu cổ toàn quốc là 9,8%, khu vực miền núi tỷ lệ bƣớu cổ cao hơn là 12,1%; trung vị i ốt niệu là 8,4 µg/dl, độ phủ muối i ốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh giảm chỉ còn 58,4%, thấp hơn khoảng an toàn theo khuyến cáo của WHO (chỉ số lần lƣợt là <5%, 10 - 19,9µg/dl và ≥ 90%) [4]. Trƣớc những cảnh báo về tình hình bƣớu cổ và tình trạng thiếu i ốt trong toàn quốc đang tái diễn sau 10 năm kể từ khi Việt Nam tuyên bố thanh toán bƣớu cổ, Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Đông Bắc Việt Nam với đặc điểm đồi, núi chiếm tới hơn 80% diện tích của tỉnh, có 207/226 xã thuộc khu vực nông thôn, trong đó có 111 xã đặc biệt khó khăn [41], có 7 dân tộc khác nhau sinh sống trên địa bàn, trong đó 2 dân tộc chiếm tỷ lệ lớn là dân tộc Nùng 43,9% và dân tộc Tày 35,9%, dân tộc Kinh chỉ chiếm khoảng 15% [47], nguy cơ mắc bƣớu cổ và CRLTI ở Lạng Sơn là rất cao. Việc nghiên cứu thực trạng và xây dựng các giải pháp can thiệp phù hợp để phòng chống bƣớu cổ và CRLTI tại tỉnh Lạng Sơn trong tình hình hiện nay là rất cần thiết, vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng bướu cổ ở học sinh từ 8- 10 tuổi tỉnh Lạng Sơn và xây dựng giải pháp can thiệp” Với 03 mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng bƣớu cổ ở học sinh 8-10 tuổi tỉnh Lạng Sơn năm 2015.