Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về sức khỏe “Sức khỏe là trạng thái đầy đủ về thể chất, tinh thần và xã hội. Nó không chỉ có nghĩa là không có bệnh hoặc tật”. Từ định nghĩa trên hiểu rằng, hoạt động khám chữa bệnh là một bộ phận trong toàn bộ các hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân (CSBVSKND).
Một hệ thống y tế tiên tiến, hiệu quả cần phải kết hợp hài hòa giữa chăm sóc y tế truyền thống lấy khám chữa bệnh (KCB), phòng bệnh là chính với chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ), tăng cường nâng cao sức khỏe cho mỗi cá nhân và cho toàn thể cộng đồng. Tuyên ngôn Alma - Ata còn nhấn mạnh rằng: “Mọi người đều có quyền và đều có nhiệm vụ tham gia với tư cách cá nhân hoặc tư cách tập thể vào việc hoạch định và thực hiện chăm sóc sức khỏe cho cuộc sống riêng của mình” [22]. Xu thế toàn cầu hóa trong chăm sóc sức khỏe Từ sau hội nghị Alma - Ata, hệ thống y tể các quốc gia có những chuyển đổi mạnh mẽ, y tế công cộng đươc chú trọng, các dịch vụ chăm sóc không chỉ dừng lại ở các bệnh viện (BV) mà được triển khai sâu rộng ở cộng đồng. Năm 1999, Tổng thư ký Tổ chức Y tể thế giới (WHO) kêu gọi tạo chuyến biến bước ngoặt trong CSSK để chuẩn bị bước sang thế kỷ 21.
Tuyên bố nêu ra những thách thức chủ yếu về sức khỏe đối với Chính phủ, cộng đồng và xã hội văn minh vào thế kỷ 20 sắp kết thúc trong đó có làm thế nào phát triển các hệ thống y tể cho phép mọi người tiếp cận được các dịch vụ KCB miễn phí (hoặc phí thấp) ở các cơ sở cung ứng với giá hiệu quả tốt nhất. Báo cáo của WHO năm 2000 nhấn mạnh yêu cầu các dịch vụ y te phải tốt hơn, phải tạo ra sự cân bang, thu chi tốt hơn. Chính quyền Mỹ có hình thức chữa bệnh miễn phí cho người nghèo trong điều kiện giá dịch vụ KCB ngày càng đắt đỏ với tên gọi là Medicaid và CSSK miễn phí cho người già trên 65 tuổi với tên gọi là Medicare [33], 6 Năm 1993, Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra khái niệm "Đầu tư cho sức khỏe” (Investment for health), “Gói chăm sóc lâm sàng” (Clinical care package) với ý tưởng thực hiện các dịch vụ chữa bệnh, phòng bệnh thiết yếu, tối thiểu cho người dân mà Ngân sách nhà nước phải đầu tư và WB có thể cho các Chính phủ vay vốn vào việc này.A Goalez Block đưa ra “Gói chăm sóc cơ bản” (Pakage of basic services-PBS) bao gồm những nội dung phòng bệnh, KCB thiết yểu cho toàn dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em [33]. Ở Canada, Chính phủ tăng chi phí cho y tế công cộng, phát triển các thầy thuốc gia đình và thầy thuốc thực hành đa khoa để phục vụ ở cộng đồng [33].
Ở Trung quốc ban hành “quyết định về cải tổ và phát triển y tế nhằm tăng cường xã hội hóa việc CSSK, củng cố hệ thống y tế hợp tác xã, tăng cường trách nhiệm của người dân về CSSK, tăng cường quản lý khoa học và giám sát các dịch vụ y tể ở các vùng nông thôn Trung quốc [33]. Ở Indonesia, từ cuối những năm 1980, Chính phủ đã thúc đẩy một số cải tổ trong Ngành Y tế nhàm nâng cao tính hiệu quả và công bằng trong CSSK. Ở Thái lan, phần lớn người dân nông thôn được sử dụng các dịch vụ CSSK công cộng của Bộ Y tế, chia ra 3 cấp phục vụ rõ rệt [33], Ngay từ những năm đầu Cách mạng, y tế nước ta đã hướng về nông thôn, đẩy mạnh công tác vệ sinh phòng bệnh để phục vụ cho đông đảo quần chủng nhân dân. Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chúng ta đã tập trung thực hiện tuyên ngôn tại Hội nghị Alma- Ata năm 1978.
Sức khỏe cho mọi người đen năm 2000 với những nội dung CSSKBĐ đế mọi người có thể nhận được những chăm sóc y tế cơ bản thiết yểu. Mạng lưới y tế cơ sở được củng cổ và phát triển cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc thiết yếu cũng như về nhân lực. Nhiều chương trình phòng chống dịch bệnh đã được triển khai rộng rãi tại cộng đồng, kể cả những nơi vùng sâu, vùng xa. Nhờ vậy, đến nay chúng ta đã đạt được nhiều thành tích to lớn 7 được cả nước và quốc tế công nhận như thanh toán bại liệt, ngăn chặn và đây lùi dịch sốt rét, bướu cổ.
Tình hình sức khỏe nhân dân ngày càng được cải thiện, các chỉ số cơ bản về sức khỏe như tuổi thọ trung bình, tỉ suất chết mẹ và trẻ em của nước ta cải thiện rất nhiều. Xu thế cải cách và đổi mới Hệ thống y tế Việt nam trong thời kỳ đổi mới được thể hiện tập trung đầy đủ và sớm nhất trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV - BCHTW Đảng Cộng sản Việt nam khóa VII về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp CSBVSKND ngày 14 tháng 1 năm 1993. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Ngành Y tế đã có những chuyển biến to lớn để thích nghi với sự phát triển của sự nghiệp đổi mới, vượt qua được những khó khăn trở ngại để củng cố và phát triển hệ thống Y tế quốc gia, đáp ứng được nhu cầu CSSK ngày càng nhiều, đa dạng và chất lượng ngày càng cao của các tầng lớp nhân dân. Cùng với công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo chặt chẽ công tác CSSKND.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Chiến lược CSBVSKND giai đoạn 2001-2010 đã vạch ra phương hướng phát triển và các giải pháp tổng thể để phát triển sự nghiệp CSSK nhân dân trong tình hình mới. Đặc biệt ngày 22 tháng 1 năm 2002, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra chỉ thị sổ 06-CT/TW về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở nhằm tăng cường hơn nữa công tác CSSKBĐ, nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế. Tình hình sức khỏe trẻ em - Bệnh tật và tử vong Trẻ em là nhóm dân cư được quan tâm nhất trong các dịch vụ CSSK. Nhiều chương trinh y tế công cộng và hoạt động của TYT tập trung vào đối tượng trẻ em.
Quỳ Nhi đồng Liên hiêp quốc (ƯnitedNations Chidren’s Fund - UNICEF) và WHO cũng ưu tiên vào các chương trình bảo vệ sức khỏe trẻ em. Theo Điều tra biến động dân sổ và nguồn lao động năm 2003 của Tổng cục Thống kê, trẻ em dưới 6 tuổi chiếm khoảng 11,6% dân số chung của cả nước [4], Với dân số nước ta năm 2007 khoảng 85 triệu người thì ước tính số trẻ dưới 6 tuổi là khoảng 9 - 9,5 triệu trẻ. Trong một báo cáo mới nhất về tình hình trẻ em trên thế giới năm 2008, UNICEF cho biết, mặc dù thế giới đã có những bước tiến rõ rệt trong việc chẩn 8 đoán, điều trị bệnh tật nhưng mồi năm trên trái đất vẫn còn gần 10 triệu trẻ em, chủ yếu là tại các nước nghèo tử vong vì những căn bệnh có thể phòng ngừa và chữa trị một cách dễ dàng. Vì vậy UNICEF kêu gọi chính phủ các nước hãy hành động để tiếp cận với hàng triệu trẻ em chưa được hưởng các dịch vụ và các hoạt động chăm sóc y tế căn bản bao gồm việc tiêm chủng, thuốc, chăm sóc trẻ nhỏ.
UNICEF thống kê hiện nay trên thế giới có khoảng 200 triệu trẻ em dưới 5 tuổi không được chăm sóc y tế căn bản để chống chọi với những căn bệnh có nguy cơ tử vong cao nhưng lại có thể phòng ngừa được như viêm phổi, tiêu chảy, sởi, sốt rét Hơn nữa, nhiều người đã không trả nổi những chi phí đắt đỏ nên đã hoãn việc chạy chừa cho trẻ. Là nước đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1990, Việt Nam luôn coi chăm sóc và bảo vệ trẻ em là ưu tiên hàng đầu, đã triển khai nhiều chính sách cải thiện phúc lợi trẻ em trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người còn thấp. Trong những năm qua, nhờ thực hiện tổt và có sáng tạo những nội dung CSSKBĐ, sức khỏe nhân dân Việt Nam trong đó sức khỏe trẻ em đã được cải thiện rõ rệt trong những thập kỷ qua. Hệ thống chăm sóc sức khỏe trẻ em ngày càng được mở rộng, cơ bản không còn xã trắng về y tế, mạng lưới y tế thôn bản được khôi phục.
Hiện đã có gần 98% trẻ em dưới 6 tuổi được phát thẻ khám chữa bệnh miễn phí. Từ năm 2005 đến nay, hàng năm Nhà nước đầu tư hàng ngàn tỷ đồng cho hoạt động này. Việc thực hiện cam kết với quốc tế về giảm tỉ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng, tai nạn thương tích đã đạt được những tiến bộ rõ rệt. Theo kết quả điều tra của Điều tra Y tế quốc gia năm 2002, hơn một phần ba dân số nước ta có vấn đe sức khỏe trong 4 tuần, đặc biệt trẻ em dưới 5 tuổi hay ốm hơn (chiếm khoảng 16-18%), trung bình có gần 2,5 đợt ốm một năm.
Các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp có mức độ phổ biến cao đặc biệt là với trẻ em. Chăm sóc sức khỏe trẻ em luôn là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của Ngành Y tế. Nhiều chương trình y tế hướng tới trẻ em được triển khai thực hiện như tiêm chủng mở rộng, phòng chống suy dinh dưỡng, phòng chống tiêu chảy, phòng chống 9 nhiễm khuẩn hô hấp. giảm tỉ lệ tử vong sơ sinh.
Từ năm 2005, Chính phủ đã bố trí ngân sách để trẻ em được KCBMP tại tất cả các cơ sở y tế công lập.Nhờ vậy, các chỉ sổ cơ bản về sức khỏe trẻ em được cải thiện rõ rệt. Theo sổ liệu của Tổng cục Thống kê; năm 1994 tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi là 36,7%O, tỉ lệ chết trẻ em dưới 5 tuổi là 61,6 %o; đến năm 2004 tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi đã giảm xuống còn 18,1%O, tỉ lệ chết trẻ em dưới 5 tuổi là 28,5 %0. Theo báo cáo năm 2005 của ba bệnh viện nhi (Trung ương, Nhi đồng I và Nhi đồng II) trẻ em điều trị nội trú mắc các bệnh về hô hẩp chiếm tới 36,7% và các bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng khác là 24,6%. Theo kết quả Điều tra Y tể quốc gia trong khoảng thời gian 4 tuần giữa hai lần phỏng vấn có 19% trẻ em dưới 5 tuổi bị ho kết hợp sốt kéo dài trên 1 ngày, đây là triệu chứng chính của nhiễm khuẩn hô hấp cấp.