Phân tích thống kê các yếu tố chính ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi ở Việt Nam

Phân tích thống kê các yếu tố chính ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi tại Việt Nam, cung cấp góc nhìn sâu sắc và giải pháp hiệu quả.

2009

64
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MỨC CHẾT, CHẾT TRẺ EM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

1.1. Một số vấn đề lý luận chung về mức chết và chết trẻ em

1.1.1. Khái niệm về mức chết

1.1.2. Các chỉ tiêu đánh giá mức chết

1.1.2.1. Tỷ suất chết thô (CDR: Crude Death Rate)
1.1.2.2. Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi (ASDR: Age-Specific Death Rate)
1.1.2.3. Tỷ suất chết trẻ em
1.1.2.4. Tỷ suất chết thô chuẩn hóa
1.1.2.5. Triển vọng sống trung bình

1.1.3. Chỉ tiêu đánh giá mức chết ở trẻ em dưới 1 tuổi

1.2. Ảnh hưởng mức chết trẻ em đến phát triển kinh tế - xã hội

1.2.1. Ảnh hưởng đến phát triển kinh tế

1.2.2. Ảnh hưởng đến văn hóa - xã hội

1.2.3. Ảnh hưởng đến các vấn đề dân số

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức chết

1.3.1. Nhóm nhân tố tự nhiên: thiên tai, dịch bệnh, nạn đói

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỐNG KÊ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC CHẾT TRẺ EM DƯỚI 1 TUỔI CỦA VIỆT NAM, SỐ LIỆU TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở 2009

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp phân tích thống kê các yếu tố chủ yếu tác động đến mức chết của trẻ em dưới 1 tuổi của việt nam

Phân tích thống kê yếu tố tác động đến tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi tại Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu nhằm xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 1 tuổi tại Việt Nam. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các nguyên nhân như điều kiện y tế, kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời đưa ra các khuyến nghị để cải thiện sức khỏe trẻ em. Đây là nguồn thông tin quý giá cho các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia y tế và những người quan tâm đến sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế hộ gia đình, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ determinants of household healthcare expenditure an analysis in vietnam by using of vhlss 2006. Tài liệu này phân tích sâu về các yếu tố kinh tế và xã hội tác động đến chi tiêu y tế, mang lại góc nhìn bổ sung cho chủ đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng.

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Pham Đại Đồng LOI MỞ DAU Ngày nay, con người là trung tâm của những mối quan tâm đối với sự phát triển bền vững, vì con người là nguồn lực quan trọng nhất, có giá trị nhất của mọi dân tộc. Tất cả chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội của các quốc gia đều hướng vào mục tiêu vì con người, cho con người. Cùng với sự phát triển của nhân loại, sự tiễn bộ của xã hội loài nguoi, Ở mỗi thời đại van đề liên quan đến sự phát triển luôn được quan tâm hàng đầu ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thé. Sự phát triển về kinh tế xã hội là thước đo phản ánh tiến bộ của mỗi xã hội ở mỗi thời đại khác nhau. Đi liền với sự phát triển là các thước đo về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Ở mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ có nền văn hóa khác nhau thì có mục tiêu phát triển và phương hướng khác nhau, nhưng đều tính sự phát triển theo các quy định chung của Liên hợp quốc như sau: phát triển về trình độ văn hóa, giáo dục, về kinh tê — xã hội, cơ sở hạ tầng, ứng dụng khoa học công nghệ, tốc độ tăng GDP, chỉ số phát triển con người HDI, mức sống dân cư, biến động dân só. Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là một nước đang phát triển, bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với nhiều mục tiêu cần hướng tới ké cả kinh tế, văn hóa và chính trị. Dé đưa đất nước tiến lên phát triển bền vững, chúng ta cần phải quan tâm tu bổ cải tiến và nâng cấp hệ thống các chỉ tiêu về cả kinh tế và xã hội, văn hóa và chính tri. Với thực trạng trên thế giới, mỗi ngày có 24000 trẻ dưới 5 tuổi bị chết,có nghĩa là trung bình cứ 4 giây thì có 1 trẻ dưới 5 tuổi bị chết,với mỗi phút có 16-17 trẻ em dưới 5 tuổi bị chết, và khoảng 8,8 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết mỗi năm, đáng lưu ý là trong số này có 4 triệu trẻ em chết dưới 1 tháng tuổi mỗi năm (số liệu năm 2008). Việt Nam đã thành công trong việc giảm tỷ suất chết ở trẻ dưới 1 tuổi từ 44,4 trẻ dudi 1 tudi tử vong trên 1000 trẻ sinh sống năm 1990 xuống còn 16 trẻ dưới 1 tuổi tử vong trên 1000 trẻ sinh sống năm 2009. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi đã giảm vượt chỉ tiêu quốc gia (25 trẻ dưới 1 tuổi tử vong /1000 trẻ sinh sống năm 2010), song dé đạt được trọn vẹn chỉ tiêu giảm 2/3 tỷ suất chết ở trẻ em dưới 5 tuổi vào năm 2015 như Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đòi hỏi phải liên tục tăng SV: Nguyễn Thị Hồng Lop: Thong kế Kinh tế - Xã hội 52 Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Pham Đại Đồng cường nỗ lực và hỗ trợ nhiều hơn nữa, đặc biệt ở các vùng sâu,vùng xa và vùng dân tộc thiểu số. Việc chọn đề tài này với mục đích nhăm nhằm nghiên cứu mức độ tác động các yếu tô ảnh hưởng đến mức chết của trẻ em dưới 1 tuổi của Việt Nam. đánh giá mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng tới mức chết của trẻ em đưới 1 tuổi và định hướng giải pháp hạn chế. Em xin chân thành cảm ơn Thay giáo Phạm Đại Đồng đã hướng dẫn tận tinh, giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề thực tập với đề tài “Phân tích thống kê các yếu tố chủ yếu tác động đến mức chết của trẻ em dưới 1 tuổi của Việt Nam”.Mục đích nghiên cứu Phân tích yếu tố tac động mức chết của trẻ em dưới 1 tuổi ở Việt Nam. Qua việc đánh giá mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng tới mức chết.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng: yếu té tác động mức chết của trẻ em dưới 1 tudi Phạm vi: * Về nội dung: mức chết của trẻ em dưới 1 tuổi tại 63 tỉnh/ thành phố ở Việt Nam, số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009. * Về không gian: Toàn bộ 63 tỉnh thành trong cả nước sẽ được khảo sát các nhân t6 tác động đến mức chết trẻ em. * Về thời gian: Số liệu mức chết từng tỉnh tính bình quân trong 5 năm từ 2005 — 2009 được khảo sát theo các nhân tố tác động.Phương pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp phân tích hồi quy và tương quan dé nghiên cứu mối liên hệ phụ thuộc giữa mức chết của trẻ dưới 1 tuổi và các yếu tố tác động đến mức chết của trẻ dưới 1 tuổi.Kết cau đề tài Gồm 2 chương: -Chương I: Tổng quan về mức chết — yếu tố ảnh hưởng tới mức chết -Chương II: Phân tích thống kê các nhân tố ảnh hưởng đến mức chết trẻ em dưới 1 tuôi của Việt Nam, sô liệu tông điêu tra dân sô và nhà ở 2009. SV: Nguyễn Thị Hồng Lop: Thong kế Kinh tế - Xã hội 52 Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Pham Đại Đồng CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE MỨC CHET, CHET TRE EM VÀ CAC NHAN TO ANH HUONG.1 Một số van đề lý luận chung về mức chết và chết trẻ em.1 Khái niệm về mức chết. Chết là một hiện tượng tự nhiên mà bất kỳ sinh vật nào cũng đều trải qua. Sống và chết là hai mặt đối lập của mỗi sinh vật nói chung và từng con người nói riêng. Khái niệm về chết được Liên hiệp quốc và tổ chứ y tế thế giới thống nhất định nghĩa như sau:“Chết là sự mat đi vĩnh viễn tất cả những biểu hiện của sự sống ở một thời điểm nào đó,sau khi có sự kiện sinh sống xảy ra (sự chấm dứt tất cả những biểu hiện của sự sống mà không một khả năng nào khôi phục lại được)”. Chết là một trong những yếu tố của quá trình tái sản xuất dân sé, là hiện tượng tự nhiên không thể tránh khỏi đối với mỗi con người. Nếu loại bỏ sự biến động cơ học,tăng tự nhiên dân số bằng hiệu số sinh và hiệu số chết. Vì vậy việc tăng hay giảm số sinh hoặc số chết đều làm thay đôi quy mô, co cấu và tốc độ tăng tự nhiên của dân số. Đồng thời trong quá trình tái sản xuất dân số, các yếu tố sinh và chết có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Sinh đẻ nhiều hay ít, mau hay thưa , sớm hay muộn đều có thể làm tăng hoặc giảm mức chết. Ngược lại mức chết cao hay chết sẽ làm tăng hay giảm mức sinh. Chết có thê do nhiều nguyên nhân, nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài. Nguyên nhân bên trong là yếu tố sinh học của con người, quá trình lão hóa dẫn đến cái chết, tuân theo quy luật sinh — lão — bệnh — tử. Nguyên nhân bên ngoài là các yếu tố tác động của môi trường tự nhiên và xã hội: bệnh tật, tai nạn. Các nguyên này luôn có quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Tỷ lệ chết thường cao ở trẻ em va người gia. Chính vì vay việc làm giảm mức chết là nghĩa vụ va trách nhiệm thường xuyên của mọi nước, mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Giảm mức chết có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và giá trị nhân văn sâu sắc.2 Các chỉ tiêu đánh giá mức chết. Sinh và chết là hai hiện tượng luôn gắn liền với mọi cơ thé sống. Trong lĩnh vực dân sô, đây là hai yêu tô chủ yêu của quá trình tái sản xuât dân sô, chúng luôn SV: Nguyễn Thị Hồng Lop: Thong kế Kinh tế - Xã hội 52 Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Pham Đại Đồng tác động lên nhau. Mức chết có ảnh hưởng đến sự thay đổi quy mô và cơ cấu dân số. Phân tích mức chết không chỉ là căn cứ dé đánh giá, xây dựng các chương trình y tế công cộng, mà còn là căn cứ để xây dựng các kế hoạch phát triển, tính toán tiềm năng gia tăng dân số.Để đánh giá mức độ chết cần dùng các thước đo. Mỗi thước đo phản ánh mỗi khía cạnh này hay khía cạnh khác của mục đích nghiên cứu và mỗi thước đo có ưu và nhược điểm riêng. Khi đánh giá và phân tích mức chết, người ta thường xuất phát từ số người chết trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm (D) để tính toán một số chỉ tiêu chủ yếu sau: 1. Tỷ suất chết thô (CDR: Crude Death Rate) CDR=2 P CDR thường được tính bằng tỷ lệ%o biểu thị mức chết bình quân của 1.000 người dân trong 1 năm. Đây là một chỉ tiêu cơ bản, được dung nhiều trong các nghiên cứu về dân số. Tuy nhiên, nó còn chịu ảnh hưởng của cấu trúc dân cư. Khi muốn so sánh mức chết giữa các dân số với nhau, cần phải loại bỏ ảnh hưởng của cơ cau dân cư bằng việc dung thủ thuật chuẩn hóa. Tỷ suất chết thô phản ánh mức chết của dân số nói chung xảy ra trong 1 năm nào đó là nhiều hay ít. Thông thường CDR được xác định bằng cách lấy số người chết trong năm chia cho dân số trung bình trong năm hoặc giữa năm và thường được biểu thị bằng % hoặc E. Theo quy ước, tỷ suất này thường được tính trên 1000 người. Trong dân số và phát triển, CDR được tính: CDR= xK (K=1000 hoặc 1000) Trong đó: D là số người chết trong năm. P là dân số trung bình trong năm hoặc giữa năm CDR gọi là thô vì trong công thức trên, D là tổng số người chết được tính chung không phân biệt cho từng đối tượng (độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp. Bởi vì, không phải tất cả mọi người đều có nguy cơ chết như nhau, chính vì vậy nếu sử dụng chỉ tiêu CDR để đo lường mức chết trong những trường hợp đặc thù sẽ không phản ánh đầy đủ và chính xác tần suất chết theo các đối tượng và theo các nguyên nhân. Mặc dù CDR là chỉ tiêu thô và rất nghèo về thông tin, nhưng đây là một trong những chỉ tiêu rat quan trọng và thường được sử dụng rat rộng rãi dé đánh giá và so SV: Nguyễn Thị Hồng Lop: Thong kế Kinh tế - Xã hội 52 Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Pham Đại Đồng sánh mức chêt giữa nước này với nước khác; giữa các vùng, khu vực, giữa các thời kỳ khác nhau trong một nước. Ngoài ra, CDR còn được sử dụng như là một trong những chỉ tiêu đánh giá tốc độ gia tăng dân sé.2 Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi (ASDR: Age-Specific Death Rate) ASDR, = —* Px Trong do: x là chỉ số tuôi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ