Phân Tích Thống Kê Thị Trường Lao Động Và Việc Làm Năm 2009 - Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp

Tài liệu nghiên cứu Chuyên đề thực tập tốt nghiệp phân tích thống kê thị trường lao động việc làm năm 2009, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

2009

51
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP THỐNG KÊ SỬ DỤNG TRONG PHÂN TÍCH

1.1. Tổng quan về thị trường lao động

1.1.1. Khái niệm thị trường lao động

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỐNG KÊ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM NĂM 2009

KẾT LUẬN

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Tài liệu "Phân tích thống kê thị trường lao động và việc làm năm 2009 - Chuyên đề thực tập tốt nghiệp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình thị trường lao động tại Việt Nam trong năm 2009, với các số liệu thống kê chi tiết và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm. Tài liệu không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về xu hướng và thách thức trong thị trường lao động mà còn đưa ra những gợi ý hữu ích cho các nhà quản lý và sinh viên trong việc định hướng nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn tốt nghiệp tuyển dụng nhân lực tại công ty cổ phần phát triển nhà xã hội hud vn, nơi phân tích quy trình tuyển dụng và quản lý nhân lực trong một công ty cụ thể. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ phân tích ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến vấn đề việc làm của việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của đầu tư nước ngoài đến thị trường lao động. Cuối cùng, Luận án chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động việt nam đi làm việc tại nước ngoài khi về nước sẽ cung cấp cái nhìn về các chính sách hỗ trợ việc làm cho người lao động trở về từ nước ngoài. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về thị trường lao động và các yếu tố liên quan.

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tran Thị Bích DE TAI: PHAN TICH THONG KE THI TRUONG LAO DONG VIET NAM NAM 2009 SVTH: Nguyễn Thanh Phúc | Lớp: Thong kê kinh tế xã hội 52 Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tran Thị Bích LOI MO DAU Thực tế đã chứng minh, lao động luôn đóng vai trò trung tâm, là vốn quý, là yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của bat kì lĩnh vực nào của kinh tế - xã hội. Chính vì lý do đó, Dang và Nhà nước ta luôn đặt van đề về dân số - lao động ở vị trí hàng đầu trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, con người và việc làm là trung tâm, lợi ích của người lao động là điểm xuất phát của mọi chương trình kế hoạch phát triển. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triên kinh tê - xã hội. Song con người chỉ trở thành động lực cho sự phát triên khi và chỉ khi họ được tạo điêu kiện đê sử dụng sức lao động và tri thức của mình nhăm tạo ra của cải vật chât, tỉnh thần cho xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu thị trường lao động, em đã lựa chọn đề tài “Phân tích thống kê thị trường lao động việc làm năm 2009” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp. Mục đích nghiên cứu: Ngoài việc nghiên cứu rõ hơn thống kê thị trường lao động, đề tài còn mong muốn hướng đến việc khăng định vai trò của phân tích thống kê trong các lĩnh vực kinh tế xã hội. Qua các phân tích thống kê này, sẽ góp phần giúp các nhà quản lý có cái nhìn rõ nét nhất về tình hình của thị trường lao động, qua đó góp phần vào việc hoạch định các chính sách phát triển trong thời gian tiếp theo. Kết cấu chuyên đề: Ngoài lời mở dau, kết luận và danh mục bảng biểu, kết cau chuyên đề gồm 2 chương. Tổng quan về thị trường lao động Việt Nam và đặc điểm của các phương pháp thống kê sử dụng trong phân tích + Chương 2. Phân tích thống kê thị trường lao động Việt Nam năm 2009 SVTH: Nguyễn Thanh Phúc | Lớp: Thong kê kinh tế xã hội 52 Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tran Thị Bích CHUONG I TONG QUAN VE THI TRUONG LAO DONG VA DAC DIEM CUA CAC PHUONG PHAP THONG KE SU DUNG TRONG PHAN TICH 1. Tổng quan về thị trường lao động 1.1 Khái niệm thị trường lao động Có rất nhiều khái niệm về thị trường lao động, mỗi một thị trường lao động lại có những đặc điểm riêng của mình. Thị trường lao động khác biệt so với thị trường hàng hóa ở chỗ, nó thé hiện phần lớn những biểu hiện kinh tế xã hội của cả xã hội và có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của nó. Vì vậy, thị trường lao động của Mỹ, Nhật, Tây Âu, Nga, Trung Quốc và Việt Nam có rất nhiều khác nhau. Vậy thé nào là thị trường lao động, Các tên gọi mà chúng ta thường gặp trong các an phâm khoa học và các phương tiện thông tin đại chúng, tên nào chính xác hon: “thị trường lao động”, “thị trường sức lao động”, “thị trường dân số tích cực kinh tế”, “thị trường nguồn nhân lực”? Bản chất của chúng có gì đặc biệt và chúng khác nhau ở điểm nào? ' Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công”. Khái niệm này nhắn mạnh đến các dich vụ lao động được xác định thông qua việc làm được trả công. Các nhà khoa học Mỹ cho rằng: “. Thị trường mà đảm bảo việc làm cho người lao động và kết hợp giải quyết trong lĩnh vực việc làm, thì được gọi là thị trường lao động” ; hoặc “. Thị trường - đó là một cơ chế, mà với sự trợ giúp của nó hệ số giữa người lao động và số lượng chỗ làm việc được điều tiết”. Các nhà khoa học kinh tế Nga thì lại cho rằng: “Thi trường lao động được hiểu như một hệ thong quan hệ xã hội, những định mức va thê chế xã hội (trong đó có cả pháp luật), đảm bảo cho việc tái sản xuất, trao déi va sử dụng lao động”; hoặc “Hệ thống những quan hệ được hình thành trên cơ sở giá trị giữa những người sử dụng lao động (sở hữu tư liệu sản xuất) và những người làm thuê (sở hữu sức lao động) về vấn đề trước nhất là thoả mãn cầu lao động và vấn đề tiếp theo là làm thuê như nguồn phương tiện dé tồn tại”. Thị trường lao động - đó là một dạng đặc biệt của thị trường hàng hóa, mà nội dung của nó là thực hiện vấn đề mua và bán loại hàng hóa có ý nghĩa đặc biệt - sức lao động, hay là khả năng lao động của con người. Như một phạm trù kinh tế thị trường sức lao động thé hiện quan hệ kinh tế giữa một bên là người làm chủ hàng hóa này, sở hữu sức lao động - người bán nó và bên kia, với người sở hữu vốn - mua sức lao động”. SVTH: Nguyễn Thanh Phúc | Lớp: Thong kê kinh tế xã hội 52 Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tran Thị Bích Theo các nhà khoa học kinh tế Việt Nam khái niệm này còn da dang và phong phú hơn nhiều: “Thị trường lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động (nó bao gồm các quan hệ lao động cơ bản nhất như thuê mướn và sa thải lao động, tiền lương và tiền công, bảo hiểm xã hội, tranh chấp lao động.), ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động”. Hoặc: “Thị trường lao động được hình thành trong bối cảnh giải phóng người lao động từ trong các xí nghiệp và tăng thất nghiệp. Bản thân thị trường lao động thường xuyên đồng nhất với thất nghiệp, cũng là những người không có việc làm, nhưng dang đi tìm nó, còn cầu là những chỗ làm việc trông”. “Thi trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thoả thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thoả thuận khác”. “Thị trường sức lao động là nơi thể hiện quan hệ xã hội giữa người lao động làm thuê và người thuê mướn lao động thông qua sự điều chỉnh giá cả tiền công”. “Thị trường lao động biểu hiện mối quan hệ giữa một bên là người có sức lao động và bên kia là người sử dụng sức lao động nhằm xác định số lượng và chất lượng lao động sẽ đem ra trao đổi và mức thù lao tương ứng”. Bắt kỳ khái niệm nào đều có những khía cạnh đúng. Trên đây chỉ trích dẫn một Vài trong số nhiều khái niệm để nhấn mạnh tính phức tạp của chính khái niệm “thị trường lao động”, cùng với tính đa dạng và sự đặc biệt của nó. Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận của một vài tác giả trên đây có thé dẫn đến sự đánh giá sai lệch những tình huống đang xuất hiện trong lĩnh vực việc làm và triển vọng hình thành, phát triển của thị trường lao động trong nền kinh tế đang chuyển đổi mạnh mẽ sang quan hệ thi trường. Từ đó, trong khái niệm “thị trường lao động” chúng ta thấy cần thiết phải bổ sung thêm, dựa vào những gì thị trường lao động tồn tại và nó hoạt động trong bối cảnh không gian nào. Khái niệm “thị trường lao động” mà nhà khoa học kinh tế Nga Kostin Leonit Alecxeevich đưa ra là tương đối đầy đủ: “Thi trường lao động - đó là một cơ chế hoạt động tương hỗ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong một không gian kinh tế xác định, thể hiện những quan hệ kinh tế và pháp lý giữa họ với nhau”. Hay nói chi tiết hơn, thị trường lao động là tập hợp những quan hệ kinh tế, pháp lý, xuất hiện giữa người sở hữu sức lao động (người lao động) và người sử dụng nó (người thuê lao động) vê vân đê cho làm việc cụ thê, nơi và hang hóa và dịch vụ sẽ được làm SVTH: Nguyễn Thanh Phúc | Lớp: Thong kê kinh tế xã hội 52 Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Tran Thị Bích ra. Quá trình sử dung sức lao động, lao động sé được hình thành trong sản xuất chứ không phải trên thị trường. Đối với người nắm giữ sức lao động sẽ được tạo ra cơ hội dé nhận chỗ làm việc, nơi mà anh ta có thé làm việc, thé hiện khả năng, và nhận thụ nhập đề tái sản xuất sức lao động của mình. Đối với người thuê lao động sẽ có cơ hội tăng lợi nhuận kinh tế. Trên thị trường sẽ hình thành những quan hệ việc làm. Vì vậy, nó xác định nội dung đích thực của thị trường lao động như thị trường việc làm. Bản chất của thị trường lao động Thị trường là một khái niệm rất tổng hợp, nếu chúng ta nói thị trường hàng hóa, thì nó gồm rất nhiều loại hàng khác nhau như: lương thực, thực phẩm, chất đốt, xe máy, ô-tô, điện tử, máy móc v. được xác định rất cụ thê đối tượng mua và bán. Vậy đối tượng mua và bán của thị trường lao động là gì? Một nhóm các nhà kinh té cho rằng, trên thị trường lao động, người ta mua va bán “lao động”, nhóm các tác gia khác lại cho rằng, trên thị trường lao động được mua và bán “sức lao động”. Nhà kinh tế người Mỹ Ronald Erenberg va Robert Smith thì lại khang định, trên thị trường lao động được mua và bán “dịch vụ lao động”. Dân số tích cực kinh tế - đó là phần dân số đảm bảo nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất hàng hóa và dịch vụ, bao gồm cả những người đang lao động và những người thất nghiệp, hay chính xác hơn là những người làm công ăn lương, người thuê lao động và những người tự tô chức lao động. Hay nói cách khác, đó là một phần dân số, bao gồm những người đang hoạt động lao động, có thu nhập, và những người thất nghiệp, đang tích cực đi tìm kiếm việc làm và luôn sẵn sàng làm việc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ