CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1. ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU Theo Trương Thị Nga (2003) Rừng ngập mặn Cà Mau là một hệ sinh thái độc đáo và đa dạng gồm nhiều loại cây: Đước, Mấm, Vẹt, Bần, Giá, Xu, Cóc… Trong đó, Đước là loài cây chiếm đại đa số và có giá trị kinh tế cao nên còn được gọi là rừng Đước. Rừng ngập mặn Cà Mau là một trong những khu rừng có diện tích tập trung lớn, mức độ đa dạng sinh học cao và tăng trưởng nhanh ở Việt Nam. Trong đó rừng ngập mặn ở cửa sông Ông Trang là khu rừng ngập mặn tự nhiên khá nguyên vẹn và đang trong quá trình diễn thế tự nhiên rất đặc sắc.
Theo Cục thống kê tỉnh Cà Mau (2010) toàn tỉnh trồng rừng được 4.096 ha, trong đó: trồng mới 2.210 ha, tăng 10 ha, tăng 0,45% so cùng kỳ. Trồng rừng mới tăng 10 ha là do trồng bổ sung rừng phòng hộ ở đảo Hòn Khoai. Trồng sau khai thác 1. Về công tác trồng rừng sau khai thác thực hiện còn chậm so với kế hoạch là do nhiều hộ dân khi khai thác xong không có khả năng trồng lại rừng, vốn hỗ trợ trồng rừng sản xuất của Nhà nước thấp, chưa khuyến khích người dân trồng rừng.
Rừng tràm những năm gần đây tiêu thụ khó do nhu cầu sử dụng cừ tràm giảm sút, chưa được đầu tư chế biến.1 Diện tích rừng Cà Mau từ năm 2008 – 2010 Trong đó Tổng diện tích Năm (ha) Rừng tự nhiên (ha) Rừng trồng (ha) 2008 97.1 Vị trí địa lý Diện tích rừng ngập mặn phân bố gần như trải dài khắp trên phạm vi toàn tỉnh Cà Mau từ 8030’ đến 9030’ độ Vĩ Bắc; 10408’00” đến 105024’30’’ độ kinh Đông. Phía Tây tiếp giáp Vịnh Kiên Giang, phía Đông - Nam giáp Biển Đông của Việt Nam và tỉnh Bạc Liêu. Diện tích rừng ngập mặn của Cà Mau tập trung chủ yếu ở các huyện Ngọc Hiển (81,04%), Đầm Dơi (9,93%), các huyện khác như Cái Nước, Trần Văn Thời, U Minh chiếm 9,02%. Rừng ngập mặn huyện Ngọc Hiển phân bố theo tọa độ địa lý từ 8o30’ - 8o52’ độ Vĩ Bắc; 104o8’- 105o19’ độ kinh Đông, với diện tích 92.797 ha, kéo dài từ rạch Hố Gùi giáp với huyện Đầm Dơi đến cửa sông Bảy Háp giáp huyện Cái Nước (Nguyễn Ngọc Trân, 2006).
3 R Thủy Biển R Hình 1.1 Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu 1.2 Khí hậu Khí hậu Cà Mau thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Một năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 26,5oC. Số giờ nắng trung bình trong năm đạt 2.500 giờ, tổng nhiệt độ hàng năm từ 9.
Độ ẩm trung bình năm khoảng 85,6%. Lượng mưa trung bình năm ở Cà Mau cao nhất so với các nơi khác trong khu vực. Trung bình có 165 ngày mưa/năm, lượng mưa đạt khoảng 2. Lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa cả năm.
Từ tháng 8 đến tháng 10 là khoảng thời gian mưa nhiều nhất ở Cà Mau. Lượng mưa phân bố không đều theo không gian, giảm dần từ Tây sang Đông. Thời gian mùa mưa, số ngày mưa và số giờ mưa cũng giảm dần từ Tây sang Đông. Chế độ gió không bị chi phối bởi địa hình.
Hoàn lưu khí quyển tầng thấp đã xác lập chế độ gió của tỉnh. Chế độ hoàn lưu mùa đã quyết định chế độ gió. Mùa khô, hướng gió chủ yếu là hướng Đông và Đông Bắc, vận tốc trung bình là 1,6 - 2,8 m/s. Mùa mưa, hướng gió chủ yếu là hướng Tây hoặc Tây Nam, vận tốc trung bình từ 1,8 - 4,5 m/s (Nguyễn Văn Hiệp, 2008).3 Yếu tố thủy văn Thủy văn chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều biển Đông và chế độ nhật triều vùng vịnh Thái Lan bị chi phối bởi các con sông ở Cà Mau như sông Cửa Lớn, Sông Đầm Dơi, Sông Gành Hào, sông Ông Đốc (Nguyễn Ngọc Trân, 2006).
4 Chế độ thủy triều của tỉnh chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ bán nhật triều không đều ở biển Đông và chế độ nhật triều ở biển Tây. Biên độ triều ở biển Đông khá lớn, khoảng 300 - 350 cm vào các ngày triều mạnh và từ 180 - 220 cm vào các ngày triều yếu. Triều biển Tây yếu hơn, biên độ mạnh nhất chỉ khoảng 100 cm. Do chế độ thủy triều chênh lệch của hai vùng biển, nên gây khó khăn cho việc tiêu thoát nước vào mùa mưa ở các "vùng giáp nước".
Mùa gió chướng có thể gây ra hiện tượng nước mặn tràn sông vào nội đồng, ảnh hưởng đến sinh hoạt, sản xuất và giao thông (Nguyễn Ngọc Trân, 2006).4 Địa hình Theo Nguyễn Ngọc Trân (2006) tỉnh Cà Mau có 3 mặt giáp biển, một mặt giáp sông, địa thế cô lập hoàn toàn. Địa hình bằng phẳng, cao trung bình từ 0,5 – 0,7 m, thường xuyên ngập triều biển, riêng vùng ven biển Đông có địa hình cao hơn (từ 1,2 – 1,5 m). Bề mặt địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông rạch tự nhiên và kênh mương chằng chịt. Do hình thành từ các trầm tích biển trẻ nên nhìn chung nền đất yếu, lớp bùn hữu cơ và sét hữu cơ dày từ 0,7- 1,7 m, lớp bùn sét dày 1,3 – 1,4 m.
TỔNG QUAN VỀ RỪNG NGẬP MẶN 1.1 Khái niệm về hệ sinh thái rừng ngập mặn Theo FAO (1994) “Rừng ngập mặn là những quần xã thực vật hình thành ở vùng ven biển và cửa sông những nơi bị tác động của thủy triểu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Rừng ngập mặn gồm những loài cây gỗ, hoặc cây bụi mọc dưới điều kiện ngập bởi thủy triều khi dâng cao. Do đó, hệ rễ của chúng thường bị ngập bởi nước mặn, mặc dầu nước mặn có thể được pha loãng bởi các dòng nước mặt hoặc ngập lũ một hoặc hai lần trong năm. Rừng ngập mặn phụ thuộc vào các quá trình sinh hóa của thủy triều, nước ngọt, quá trình bồi tụ phù sa do xói mòn bề mặt đất từ phía thượng nguồn đưa lại.
Thủy triều nuôi dưỡng rừng ngập mặn và trầm tích từ các dòng sông đem theo khoáng chất làm giàu thêm cho các đầm rừng. Do đó, rừng ngập mặn được hình thành và phát triển dưới ảnh hưởng của các quá trình sinh thái từ đại dương và cả phía đất liền”. Rừng ngập mặn là những cây mọc trên vùng chuyển tiếp giữa đất liền và biển ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, nơi đó cây tồn tại trong các điều kiện có độ mặn cao, ngập triều, gió mạnh, nhiệt độ cao, đất bùn và yếm khí. Rừng ngập mặn bao gồm những cây thân gỗ, cây bụi và cây thân thảo thuộc nhiều họ cây khác nhau nhưng có đặc điểm chung là cây thường xanh, đặc điểm sinh lý giống nhau và thích nghi trong điều kiện sống ảnh hưởng bởi chế độ thủy triều và yếm khí (Viên Ngọc Nam, 2000).2 Hệ sinh thái rừng ngập mặn Cà Mau (Nguồn: Phan Nguyên Hồng, 2006) 1.2 Vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn Theo Phan Nguyên Hồng (1999) Rừng ngập mặn là một trong những hệ sinh thái tự nhiên có năng suất sinh học cao nhất.
Vai trò quan trọng của rừng ngập mặn trong việc đóng góp vào năng suất vùng cửa sông ven biển đã được biết đến từ những năm 1960. Rừng ngập mặn cung cấp một lượng lớn sinh khối cơ bản duy trì sự tồn tại của hệ sinh thái cả về ý nghĩa môi trường và kinh tế. Rừng ngập mặn có vai trò bảo vệ bờ biển, chống lại xói mòn, chống lại gió bão. Rừng ngập mặn còn là nơi cung cấp thức ăn và là nơi cư trú của nhiều loài thủy sản quan trọng có giá trị thương mại cao.
Từ lâu rừng ngập mặn đã đem lại nhiều lợi ích về kinh tế xã hội cho cư dân vùng ven biển Việt Nam (Nguyễn Hoàng Trí, 1999). - Vai trò cung cấp chất dinh dưỡng của rừng ngập mặn Hệ sinh thái rừng ngập mặn là sản phẩm đặc trưng vùng ven biển nhiệt đới, với nhiều loài cây rừng đa dạng, sống ở vùng triều ưa độ muối thấp. Đây là môi trường thích hợp cho nhiều loài động thực vật vùng triều, đặc biệt là các loài thủy sản, chúng tạo nên hệ sinh thái độc đáo và giàu có về mặt năng suất sinh học so với các hệ sinh thái tự nhiên khác. Rừng ngập mặn cung cấp mùn bã hữu cơ khoảng 10,6 tấn/ha/năm, lượng chất hữu cơ này đã tạo nên thức ăn chủ yếu cho các nhóm tiêu thụ như cua, tôm, các loài nhuyễn thể 2 vỏ, giun nhiều tơ và các loài cá ăn mùn bã hữu cơ (Nguyễn Hoàng Trí, 1999).3 Rừng ngập mặn – nuôi dưỡng các loài tôm, cua (Nguồn: Bùi Thị Nga, 2008) Nghiên cứu của Vazquez et al.
(2000) chỉ ra rằng hệ sinh thái rừng ngập mặn giàu chất hữu cơ nhưng thiếu chất dinh dưỡng nhất là đạm, lân. Mặc dù vậy, rừng ngập mặn vẫn có năng suất cao do sự tuần hoàn của chất dinh dưỡng ở đây rất hiệu quả, do đó những chất dinh dưỡng khan hiếm vẫn được duy trì và tái tạo từ quá trình phân hủy của lá cây ngập mặn. Xác cây ngập mặn khi bị phân hủy trở nên giàu chất dinh dưỡng, chúng được nước triều mang ra các vùng cửa sông ven biển làm phong phú thêm nguồn thức ăn cho các sinh vật ở hệ sinh thái kế cận (Lê Huy Bá, 2000). Sự phân hủy vật rụng của cây ngập mặn đã cung cấp lượng cacbon và nitơ đáng kể cho đất rừng.
Lượng cacbon và nitơ trong đất phụ thuộc vào tuổi rừng, rừng càng nhiều tuổi thì lượng cacbon và nitơ trong đất càng nhiều, nơi đất trống không có rừng lượng cacbon và nitơ rất thấp, hầu như không đáng kể. Đối với các mẫu lá phân hủy, tỷ lệ phần trăm cacbon hữu cơ trong mẫu lá giảm dần qua các tháng phân hủy, ngược lại tỷ lệ phần trăm nitơ lại tăng lên. Tỷ lệ nitơ trong mẫu phân hủy được tích lũy ngày càng cao chính là nguồn thức ăn giàu chất đạm cho các loài động vật đáy cư trú trong rừng ngập mặn (Nguyễn Thị Hồng Hạnh và Mai Sỹ Tuấn, 2005). Năng suất lượng rơi càng nhiều thì khi phân hủy sẽ cung cấp lượng cacbon hữu cơ và nitơ cho đất càng cao.
Lượng cacbon, nitơ trả lại cho đất thông qua sự phân hủy vật rụng phụ thuộc vào tuổi rừng và lượng rơi của rừng, rừng càng nhiều tuổi lượng rơi càng nhiều và sự tích tụ cacbon, nitơ trong đất càng lớn.