Đặt vấn đề Cây chuối (Musa spp.) là loại cây ăn trái được trồng phổ biến ở nước ta. Chuối là loại trái cây được ăn phô biến và mang lại giá trị dinh đưỡng cao như cung cấp vitamin B4, C, B3, khoáng chat, chất béo, cacbohydrat,. Hiện nay, ca nước có khoảng 154,000 hecta trồng chuối với sản lượng 2,3 triệu tân/năm. Chuối là loại trái cây cho thu hoạch quanh năm và đã trở thành sản phâm xuất khẩu thế mạnh của ngành rau quả Việt Nam.
Năm 2022, giá trị xuất khẩu chuối tươi của Việt Nam đạt 310,6 triệu USD, tăng 34,5% so với năm 2021. Xuất khâu chuối đã vượt qua xoài dé trở thành loại trái cây có kim ngạch lớn thứ 2, chỉ sau thanh long. Ngoài thị trường Trung Quốc, Việt Nam cũng đang xuất khâu chuối sang Singapore, Malaysia, Trung Đông, Nga (Cục trồng trọt, 2022). Từ những giá trị kinh tế trên có thê thay được hiện nay chuối được xem là loại trái cây quan trọng có tiềm năng xuất khẩu và mang lại giá trị kinh tế khá cao không chỉ ở nước ta mà còn ở các quốc gia khác.
Tuy nhiên, cũng có nhiều loại bệnh trên cây chuối làm ảnh hưởng tới năng xuất và chất lượng của cây cũng như trên trái, nổi bật nhất là bệnh héo rũ Panama trên chuối do nam Fusarium oxysporum ƒ sp. Cubense 4 gây ra. Trong các loại nam đối kháng nam bệnh nam Chaetomium là loại nam đối kháng mạnh có kha năng tiết ra enzyme tấn công va ức chế các loại nam bệnh. Do đó, Chaetomium thích hợp được ứng dụng như tiềm năng tiếp cận dé phòng trừ bệnh hại và nâng cao chất lượng của cây chuối cũng như được áp dụng để thực hiện đề tài “Đánh giá khả năng kiêm soát bệnh héo rũ trên chuôi bang nam Chaetomium “.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu là xác định điều kiện nuôi cây phù hợp cho sự phát triển của nam Chaetomium, đánh gia kha nang đối kháng và kiểm soát mật độ của nam Fusarium oxysporum f, sp. Cubense Race 4 bằng nam Chaetomium, từ đó ứng dụng cho các nghiên cứu tiếp theo. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Khảo sát ảnh hưởng của điêu kiện nuôi cây đôi với sự phat trién của nam Chaetomium. Nội dung 2: Đánh giá tính đối kháng của nấm Chaetomium và nam Fusarium oxysporum ƒ sp.
Cubense_ Race 4 trong phòng thí nghiệm. Nội dung 3: Đánh giá khả năng kiểm soát mật độ nắm Fusarium oxysporum ƒ` sp. Cubense Race 4 trên chuối bằng nắm Chaetomium trong nhà lưới. TONG QUAN TAI LIEU 2.
Tổng quan về cây chuối 2. Phân loại khoa học GIỚI: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Liliopsida Phân lớp: = Zingiberiadae Bộ: Zingiberales Ho: Musacea Chi: Musa (Nelson va ctv, 2006) 2. Phân loại chuối ở Việt Nam 2. Phân loại theo tên gọi thường Chuối tiêu: Chuối tiêu được trồng nhiều ở các vùng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long.
Có ba giống chuối tiêu phân loại theo độ cao của thân. Chuối tiêu lùn: thân cao 1,5 + 2 em. Lá moc sit nhau, cuống ngắn lá màu xanh đậm. Trái hơi cong, dai 14 + 16 em, đường kính trái 2,5 + 3 em.
Mỗi buông chuối tiêu lùn nặng trung bình 14 + 18 em, có buồng nặng trên 20 kg. Thịt chắc, thơm ngọt. Cây sinh trưởng khỏe, chịu gió khá tốt. Chuối tiêu nhỡ: thân cao 2 +3 cm.
Lá dai hơn giống trên. Trái ít cong hơn chuối tiêu lùn, dai 15 + 18 cm, đường kính trái 2,5 + 3 cm. Buồng chuối tiêu nhỡ nặng trung bình 15 + 20 kg, có buồng nặng 25 ~ 30 kg. Thịt có màu nhạt hơn mềm hơn chuối tiêu lùn.
Mùi vị cũng không thơm ngon bằng chuối tiêu lùn. Cây sinh trưởng khỏe, năng suất cao. Chuối tiêu cao: Thân cao 3,5 + 4 m. Lá dài, to, mọc thưa.
Trái to, hơi thang, dai 16 + 20 cm, đường kính 3,5 + 4 cm. Buông chuối tiêu cao nặng trung bình 20 + 25 kg, có buồng nặng 35 ~ 40 kg. Thịt hơi nhão, mùi vị kém nhất trong ba 3 giống chuối tiêu. Cây sinh trưởng khỏe, năng suất cao nhưng chống gió bão kém.
Buồng trái nặng dé gay đô. Chuối sứ (chuối tây, chuối xiêm): Chuối sứ được trồng phổ biến ở nhiều nơi, cây mọc khỏe, cao to, lá dài rộng, cuống lá có phấn trắng. Trái to, ngắn, mập, vỏ mỏng, khi chín vàng tươi, vị ngọt, kém thơm. Buồng nặng 15 + 20 kg.
Chuối sứ không kén đất, không chịu được hạn, úng, đất xấu và chịu rét khá hơn chuối tiêu. Do đó, chuối sứ thường được trồng ở các vùng trung du, miền núi. Khả năng bảo quản, vận chuyền kém. Chuối ngự: Dọc bờ sông Châu Hà Nam, nhiều nơi nổi tiếng về trồng chuối ngự.
Nhưng ngon nhất vẫn là chuối ngự làng chiêm trũng Đại Hoàng (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Cây chuối ngự cao khoảng 2,5 + 3 m, lá xanh mát. Khác với chuối ngự trâu, quả to, ăn nhạt, chuối ngự thóc (hay còn gọi là chuối ngự mít) là loại được tiễn vua. Cây chuối ngự mít thấp, trái nhỏ, cuống thanh, vỏ mỏng màu vàng óng, thịt trái mịn, bên ngoài màu vàng nhạt, trong ruột màu vàng sậm, mùi vị thơm và ngọt hơn cả chuối tiêu lùn.
Chuối mật (chuối lá): Chuối mật được trồng rải rác khắp nơi, cây cao lớn 3,5 +4 m. Trái lớn có ba cạnh, vỏ dày hơi khó bóc. Thịt trái khi chín màu vàng nhạt, nhão, không thơm, hàm lượng đường thấp, vị ngọt pha chua. Cây sinh trưởng khỏe, năng suất thấp thường được dùng để sản xuất chuối khô.
Chuối cau (chuối cơm): Thân cây chuối cau nhỏ, trái ngắn, buồng nhỏ không sai, vỏ dày. Trái chín ăn không ngọt lắm hơi chua. Chuối hột: Cây chuối hột cao lớn 4 + 5 m, mọc khỏe. Trái có cạnh rõ rệt, vỏ dày nhiều hột.
Khi chín vỏ không vàng như các loại chuối khác. Cây sinh trưởng khỏe, chịu được hạn, rét, it sâu bệnh. Vì có nhiều hột nên chuối hột thường chỉ được dùng dé làm rau trong các món ăn hay dùng làm thuốc chữa bệnh. Phân loại dựa theo gen Trước đây theo Carl Linnaeus chuối được chia thành các nhóm: Musa sapentum L: trái chín ngọt, ăn tươi.
Musa paradiaca L: khi chín phải nâu mới ăn được. Musacavendish, Musa nana: chuối già lùn. Từ năm 1948, Cheesman đã phân biệt 2 nguồn góc chính của chuối trồng trọt là: M. Acuminita colla và M.
Trong họ phụ Musoidae có 2 giống Enset va Musa. Từ năm 1995, Simmonds và Shepherd đã dựa vào số điểm đánh giá 15 đặc điểm ngoại hình của chuối để quy định mức độ lai của các giống chuối trồng trọt đối với 2 dòng Acuminita và Balbisiana, trong gen đều có gen A và gen B (Karen Reeds và ctv, 2009). Đặc điểm thực vật học của cây chuối 2. Rễ cây chuối Khác với các loại cây ăn qua khác, chuối không có rễ cọc.
Rễ chuối là dạng rễ chùm, 2 — 5 rễ một chùm. Rễ có hệ thống rễ con phân bố gần phủ kín bề mặt rễ ké từ phần thân giáp thân chính. Rễ được hình thành và sinh trưởng, phát triển ở phần thân ngầm. Ré con rất nhỏ và ngắn so với rễ chính (rễ cấp một).
Đường kính rễ chính khoảng 5 — 10 mm. Rễ chuối mềm, dễ thối khi điều kiện môi trường bat lợi như úng nước, sát thương cơ giới, sâu bệnh hại ré,. Ré bất định mọc từ bề mặt trung tâm của củ chuối (thân ngầm) thành từng nhóm 2 hoặc 5 rễ. Các rễ nằm ở đáy củ thường ăn sâu xuống đất 60 — 70 em, các rễ nằm xung quanh củ có khuynh hướng ăn lan rộng, nếu đất tơi xốp và thoáng khí, nhiều min thì rễ chuối có thé ăn lan rộng 4 — 4,5 m tùy theo giéng.
Một cây chuối trưởng thành có khoảng 500 — 600 rễ. Thân cây chuối Thân cây chuối còn được gọi là: thân thật, thân ngầm hay củ chuối, là bộ phận quan trọng của cây chuối. Thân ngầm chủ yếu nằm dưới đất, là bộ phận phát sinh rễ, bẹ lá (thân giả) và phát hoa, có bản chất là căn hành - thân ngầm (củ chuối). Phát triển theo kiểu cọng trụ (theo bề đứng).
Cau tao thân ngầm có 2 phan: phần vỏ màu sam và phan trung tâm củ màu nhạt hơn. Ngoài mặt củ chuối có vết của bẹ lá tạo thành vòng xoay quanh củ chuối. Bề mặt củ chuối có nhiều mầm, trong đó một số mam phát triển thành chồi, các chồi này về sau có thê hình thành cây con. Khi cây chuối trưởng thành, từ đỉnh sinh trưởng của thân ngầm hình thành bộ phận nằm ở trung tâm của thân giả, có hình trụ tròn (còn được gọi là thân thật), bộ phận này là cơ quan hình thành phát hoa.
Thân giả và lá Thân giả chính là các bẹ lá, được phát triển từ phần trên của thân ngầm. 5 Lá chuối gồm 3 phần: Bẹ lá, cuống lá, phiến lá. Bẹ lá được phát triển từ phần trên của thân ngầm. Các bẹ lá hình lòng máng bó lay nhau hợp thành thân giả của cây chuối.
Mặt ngoài của be lá có màu đặc trưng cho mỗi giống chuối. Khi bẹ lá già dần thì mặt trong của bẹ lá có màu không đồng nhất giữa các vùng của bẹ do ảnh hưởng bởi màu sắc mặt ngoài của bẹ phía trong. Khi bẹ lá còn non phần lớn mặt trong có màu trắng ngà. Phần lớn diện tích mặt trong của bẹ lá là nơi phát triển hình thành cuống lá.
Cuống lá hình lòng máng. Cuống lá dai hay ngắn tùy vào giống chuối. Phién lá lúc non khi mới ra khỏi thân giả hai nửa phiến lá cuộn vào nhau thành hình ống. Phién lá chuối rộng và mỏng, dé bị gió thôi rách.
Phién lá gồm 1 sóng giữa lớn, 2 nửa phiến lá có các gân bên. Phiến lá dài hay ngắn, rộng hay hẹp tùy giống chuối. Trong điều kiện thuận lợi cứ 7 — 10 ngày cây chuối ra một lá. Theo quy luật cứ một lá mới hình thành thì có một lá cũ khô đi.
Thông thường trên cây luôn tồn tại 10 — 15 lá tươi gọi là lá hoạt động 2. Hoa và quả Khi cây chuối đến giai đoạn trưởng thành, từ đỉnh sinh trưởng của thân ngầm hình thành thân thật. Chóp thân thật phát triển dần về phía trên hình thành trụ hoa và hoa. Trụ hoa nằm ở trung tâm của thân giả.
Trong giai đoạn đầu trụ hoa còn bị thân giả bao kín. Khi trụ hoa phát triển, hoa chuối (bắp chuối) được hình thành, di chuyên trong thân giả rồi tré ra ngoài thành buồng chuối. Các hoa mọc xung quanh try hoa, tạo thành cụm hoa. Mỗi bắp chuối là một chùm hoa, gồm các bộ phận.
Mỗi cụm hoa được bao bởi lá mo màu nâu đỏ Hoa chuối thuộc loại hoa có đầy đủ các bộ phận đề hoa, đài hoa, tràng hoa, nhị và nhụy hoa.