Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tống quan về cây ót 1. Đặc điểm của cây ớt Cây ớt hiện nay được trồng rất nhiều nơi trên thé giới và hiện tại rất phô biến ở Việt Nam như một loại rau, gia vị không thê thiếu trong bữa cơm hằng ngày của gia đình. Ớt là cây trồng có diện tích và sản lượng tiêu thụ lớn nhất trong các loại gia vi.
Với hình thức sử dụng đa dạng như ăn tươi, phơi khô xay làm bột ớt, chế biến tương ớt, các loại sốt, ngâm dam, quả đóng hop,. Cây ớt có tên khoa học Capsicum annuum L., thuộc họ Cà (Solanaceae). Trong ớt chứa nhiều chất dinh dưỡng như vtamin A, vitamin C, axit folic, khoáng chat canxi, magie, sat, kali. Đặc biệt trai ớt chứa capsaicin một hỗn hợp alkaloid có tác dụng giảm dau, kháng khuẩn, chống ung thư.
Ớt thuộc loại cây thân thảo, thân gỗ, chiều cao biến động từ 0,5 — 1,5 m, trên thân cành nhánh phát triển. Lá cây có dạng hình elip hoặc lưỡi mác, phiến lá nhan không có răng cua, gân lá day. Ot thuộc loại hoa lưỡng tính, tự thụ phấn, hoa thường có màu trắng và có 5-7 cánh. Hệ thống rễ thường gồm rễ chùm và rễ cọc, phát triển chủ yếu ở tang đất mặt 0-30 cm, rễ ớt có khả năng chịu hạn nhưng không chịu được úng.
Trái và hạt ớt thường có nhiều hình dạng khác nhau: thuôn, mảnh đẹp, có màu đỏ, xanh, tím tuỳ theo giống. Tình hình phân bố Cay ớt là cây chịu nhiệt thích hợp với khí hậu nhiệt đới, ấm áp, khô ráo. Là loài cây nhỏ có thê sống được vài năm nếu được chăm sóc tốt. Điều đặc biệt là ớt rất dễ mọc, dù không cần gieo trồng nhưng ớt vẫn có thé tự mọc hoang và phát triển như bình thường.
Nhiệt độ thích hợp cho cây ớt sinh trưởng là 18 - 30°C. Ớt chịu đựng được điều kiện che rợp đến 45%, nhưng che rợp nhiều hơn ớt chậm trổ hoa và rụng nụ. Do đó, nước ta ớt được trồng nhiều chủ yếu ở Quỳnh Phụ (Thái Bình) với diện tích 1200 ha, Đại Lộc (Quảng Nam), Phù Mỹ, Phù Cát (Bình Định), B6 Trạch (Quảng Bình), Châu Đốc (An Giang), Thanh Bình (Đồng Tháp), Tiền Giang, Long An, Lâm Đồng, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Nam Định và một số tỉnh thành khác. Tình hình sản xuất tiêu thụ ót trên thế giới và trong nước Theo thống kê của FAO thì hiện nay trên thế giới có khoảng 66 nước trồng ớt.
Tổng sản lượng ớt tăng dần theo từng năm: năm 1961 toàn thế giới có khoảng 5.956 tân ớt tươi, gần đây nhất năm 2021 là 36. Ở Việt Nam, từ năm 1997 — 2000 diện tích từ 48630 ha lên 50000 ha, đến năm 2021 diện tích trông đã tăng lên 67654 ha (FAO, 2021). Năm 2000, các nước có sản lượng ớt khô 20.488 tấn lớn là Ấn Độ, Cambodia, Ethiopia. Đến năm 2021, Việt Nam đã vươn lên đứng đầu trở thành nước có sản lượng lớn nhất thế giới là 90038 tấn ớt khô.
Hiện nay Châu Âu và Châu Mỹ là hai khu vực nhập khẩu ớt tươi và ớt khô lớn nhất thế giới. Các nước nhập khẩu ớt chủ yếu là Mỹ, Đức, Anh, Malaysia và Tây Ba Nha (FAO, 2011). Từ những năm 2015 nhu cầu ớt xuất khẩu sang các nước Châu Á như Ấn Độ, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Trung Quốc tăng mạnh nên giá ớt có nhiều thời điểm rất cao. Đặc biệt là Trung Quốc thị trường xuất khâu chủ yếu ở nước ta, giá ớt phụ thuộc vào Trung Quốc rất nhiều và ngày càng đòi hỏi nghiêm ngặt.
Cây ớt là cây trồng quan trọng, đem lại giá trị kinh tế cao vừa là loại rau vừa là gia vị. Ot không chỉ là rau mà còn là gia vị trong chế biến thực phẩm mà còn là được liệu. Chính vì nhiều lợi ích nên diện tích trồng ớt không ngừng được mở rộng ở nhiều nơi trên cả nước. Nhưng do sự biến đổi khí hậu và các biện pháp canh tác, chăm của nông dân chưa hợp lý là điều kiện thuận lợi dé nắm bệnh, virut, tuyến trùng,.
bùng phát làm ảnh hướng lớn tới năng suất và phâm chất ớt. Đặc biệt là bệnh do chi Phytophthora gây bệnh trên cây ớt, nam xâm nhập vào cây từ khi cây ớt còn nhỏ và biểu hiện gây chết cây khi cây đang giai đoạn mang trái, khi bệnh biéu hiện đã ở giai đoạn không trị được nữa bat buộc phải nhé bỏ. Nên biện pháp tốt nhất là phòng bệnh từ giai đoạn cây con. Triệu chứng bệnh trên ót do Phytophthora gay ra Ở giai đoạn cây con khi bệnh xâm nhập trên thân ở vị trí gần gốc cây xuất hiện một chấm nhỏ mau nâu hoặc đen.
Sau đó vết bệnh lan xuống phía dưới tấn công vào rễ cây làm cây bị thối gốc, rễ cây bị thối đen và mềm dẫn đến cây không hấp thụ được nước và chất dinh dưỡng từ đó cây bị héo rũ và chết gục. Vết bệnh lan rộng lên phía trên làm lá bị vàng úa và rụng. Ở giai đoạn cây lớn, biểu hiện bệnh cảng rõ rệt vết bệnh lớn kéo dài lên trên và xuống dưới, cây có biểu hiện héo nặng và chết rất nhanh. Khi chẻ phần trong thân cây thấy lõi bên trong màu nâu đen, không xuất hiện ở những vị trí cao hơn.
Bệnh năng nhất chết cây vào thời gian cây đang trái nhiều và trên quả bị thối rita vết bệnh hơi ướt, khi cây yếu làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất. Nam Phytophthora lan truyền bệnh thông qua dat và nguồn nước nên bệnh gây hại trên tat cả các bộ phân của cây từ rễ, thân, lá và trái ở tat cả các giai đoạn của cây ké cả giai đoạn vườn ươm khi rễ cây còn yếu làm cây con chết rất nhanh. Tổng quan về Phytophthora sp. Giới thiệu về chi Phytophthora.
Các thành viên của chi Phytophthora de Bary là những “sinh vật giống nam” hoặc “giả nắm” có ảnh hưởng quan trọng về mặt kinh tế đã được nghiên cứu rộng rãi trên khắp thế giới nhưng cách phân loại của chúng vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Phytophthora là tác nhân gây bệnh thực vật ký sinh chuyên tính trên toàn thế giới, thuộc lớp nam trứng (Oomycetes). Tên chi Phytophthora được xuất phat từ tiếng Hy Lap với từ “phyto” là thực vat và “phthora” là kẻ huỷ diệt. Phytophthora có nghĩa là “kẻ huỷ diệt thực vật” (Erwin and Ribeiro, 1996a).
Chúng xâm nhiễm vào các mô chủ khác nhau của cây như rễ, củ, thân cây thân thảo, thân gỗ, tán lá và quả. Các loài Phytophthora sp. tấn công một phạm vi thực vật rất rộng và là tác nhân gây một sé bệnh quan trọng trên thé giới. Trong đó Phytophthora cinnamomi được tim thay ở vùng nhiệt đới thì Phytophthora citrophthora là đặc trưng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Phytophthora infestants, Phytophthora syingae va Phytophthora fragariae xuất hiện phổ biến ở vùng ôn đới (Trinh Thị Phương Vy, 2005). Phytophthora có thé tạo ra nhiều cau trie sinh tồn khác nhau trong tế bảo vat chủ bị xâm nhiễm. Và Phytophthora có thé tan công với sự kết hợp các nam khác nhau như Fusarium, Pythium, Rhizoctonia. Và một số loài nam Phytophthora có thê gây bệnh trên nhiều loài cây như Phytopthora capsici gây hại khoảng 40 loại cây trồng, trong đó ớt bị héo rũ, thối rễ và còn gây hại thối rễ trên tiêu, dua lưới, bí đỏ.
Phytophthora parastitica gây bệnh thối nõn đứa, bệnh mốc sương den thân thuốc lá, bệnh thối rễ cây có múi (Adré Drenth và Barbara Sendall, 2011). Phytophthora heave và Phytophthora capsica gây bệnh rụng lá mùa mưa trên cao su (Adré Drenth, 2011). Như vậy mới thấy sự kinh khủng do Phytophthora tác động rộng lớn lên và làm ảnh hưởng rất nhiều cây trồng. Đặc điểm sinh học Lớp Oomycetes là một lớp nam thật thuộc giới Chromista bao gồm các loài vi sinh vật giống nam, chúng có những đặc điểm sinh học vừa giống và khác với giới Fungi (nam thật).
Việc sắp xếp chúng vào giới Chromista được chứng minh nhiều trong con đường tiêu hoá, sự hiện diện của B — glucans tốt hơn Chitin trong vách tế bào, hình thành động bảo tử và chiếm ưu thế trong giai đoạn lưỡng bội (Erwin và Riberio, 1996). Lớp Oomycetes có đặc điểm là dạng nam đơn bào, sinh sản vô tính bằng bảo tử động và sinh sản hữu tính bằng bảo tử trứng, hầu hết có vách ngăn. Tiêu biểu là chi Phytophthora có thé dé dang được xác định bởi sợi nắm vô khuẩn với sự co thắt nhẹ ở gốc của các nhánh ban đầu có góc vuông; bởi các túi bảo tử hình trứng, hình quả trứng đến hình quả lê hay quả chanh trên đầu có nuốm hoặc không có nuốm, không màu, trong suốt. Bảo tử hình cầu, quả lê hoặc hình oval có hai lông roi, di chuyên rất nhanh trong nước, nhiệt độ thích hợp dé nam sinh trưởng và phát triển từ 25 —30°%C.
Co chế gây bệnh của Phytophthora Túi bao tử tự do được phát tan bởi gió hoặc nước sé nay mam theo 2 hình thức: nảy mâm gián tiép, nảy mâm trực tiép tùy vào điêu kiện môi trường. 6 Nay mam gián tiếp: khi ở điều kiện nhiệt độ thấp và độ âm cao, bào tử động được phát tán cho đến khi gặp được bề mặt của ký chủ. Tại thời điểm này chúng sẽ rụng roi và bao nang (encystment) bam chắc vào bề mặt của thực vật thông qua việc bài tiết các phân tử bám đính. Sau khi xâm nhập vào tế bào chủ, 1 túi hình cầu được tạo ra ở lớp biểu bi, tại đây sợi nắm tiếp tục được hình thành trong khoảng không gian giữa các tế bao của vật chủ.
Khi đó haustoria hay còn gọi là giác mút được hình thành sẽ hap thu chất dinh dưỡng từ tế bào ký chủ. Khi xâm nhập, haustoria làm tăng diện tích bề mặt tiếp xúc với mang tế bào ký chủ giải phóng các enzyme phá vỡ thành tế bào nhưng vẫn giữ nguyên mang dé tạo điều kiện trao đôi chất dinh dưỡng. Nay mam trực tiếp: ở nhiệt độ cao và điều kiện khô ráo (25 — 30 °C), bọc bào tử bắt đầu hoạt động như bào tử riêng lẻ. Bao tử nấm xâm nhập thông qua vết thương cơ giới và nảy choi trực tiếp bằng cách tạo ống mam đa nhân và những bảo tử động không được thành lập ở hình thức này (Trần Thị Yến Ngọc, 2019).
Nắm rễ nội cộng sinh Arbuscular mycorrhiza 1. Sơ lược về nắm rễ cộng sinh Mycorrhiza Nam rễ (Mycorrhiza) được Frank (1885) phát minh ra để chỉ các mối quan hệ cộng sinh không gây bệnh giữa rễ và nắm. Thuật ngữ “Mycorrhiza” đã được Frank đặt tên cùng lúc ông phát minh vào năm 1885 để mô tả sự kết hợp cùng cộng sinh của rễ cây và nam, nguồn gốc từ chữ Hy Lạp: Mykes (nam) và Rhiza (rễ).