Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Chất ma túy: Theo Luật phòng, chống ma túy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống ma túy, “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành” [22]. Chất gây nghiện: Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng Chất dạng thuốc phiện (CDTP): CDTP (opiats, opioid) là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc phiện, Morphine, Heroin, Methadone, Buprenorphine, Pethidine, Fentanyle là những chất gây nghiện mạnh (gây khoái cảm mạnh), có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não [3, 37]. Nghiện ma túy: Theo tổ chức Y tế Thế giới, nghiện ma tuý là tình trạng lệ thuộc về mặt tâm thần hoặc thể chất hoặc cả hai, khi một người sử dụng ma túy lặp đi lặp lại theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma túy và tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm thấy sự bức bách phải dùng ma túy để có được những hiệu ứng về mặt tâm thần của ma túy và thoát khỏi sự khó chịu, vật vã do thiếu ma túy [43], [44].
Methadone: Methadone là một chất dạng thuốc phiện (CDTP) tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như các CDTP khác, nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán hủy dài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai. Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài [3]. Điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc methadone: là một điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, viêm gan C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập cộng đồng [3]. Nhóm n hiện hí h m tuý và nhữn yếu tố n uy ơ Trên thế giới, hiện nay ước tính có từ 167 đến 315 triệu người nghiện ma túy các loại [41].
Theo báo cáo nghiên cứu của tổ chức Phòng, chống ma túy và tội phạm Liên Hợp Quốc, vùng Đông và Đông Nam Á có tỷ lệ người nghiện chích ma túy lớn nhất thế giới (chiếm 27% tổng số người nghiện chích toàn thế giới). Tiếp theo là những nước thuộc vùng Đông và Đông Nam châu Âu (chiếm 21% tổng số người nghiện chích toàn thế giới, chiếm 1,3% số người trong độ tuổi từ 15-64 của vùng) [41]. Trung Quốc, Liên bang Nga và Hoa Kỳ là những nước có số lượng người nghiện chích ma túy lớn nhất (chiếm 46% tổng số người nghiện ma túy) [41]. Sử dụng ma túy bất hợp pháp gây ra 4 nhóm ảnh hưởng chính đối với sức khỏe là: Các ảnh hưởng cấp tính, bao gồm cả sốc quá liều; Các hậu quả tức thì do sử dụng ma túy như là chấn thương do tai nạn, hành vi bạo lực; Tình trạng lệ thuộc ma túy hay còn gọi là nghiện ma túy; Các ảnh hưởng mãn tính do sử dụng ma túy thường xuyên như là các bệnh mãn tính (bệnh mạch vành, xơ gan.), các bệnh lây truyền qua đường máu do vi rút (HIV, viêm gan B, viêm gan C.) và các rối loạn tâm thần [49].
Ước tính của UNODC có khoảng từ 102.000 trường hợp bị tử vong năm 2011 có liên quan đến ma túy, tương ứng với tỷ lệ từ 22,3 đến 55,4 ca tử vong trên một triệu dân trong độ tuổi từ 15 - 64 [52]. Theo UNODC, trong 14 triệu người TCMT, có khoảng 1,6 triệu người (từ 1,2 đến 3,9 triệu người) nhiễm HIV, chiếm khoảng 11,5% số người TCMT trên toàn cầu. Ngoài tình trạng nhiễm HIV thì tình trạng nhiễm vi rút viêm gan B và viêm gan C trong nhóm TCMT cũng rất cao: ước tính tỷ lệ nhiễm viêm gan C trong nhóm tiêm chích ma túy trên toàn cầu là 51,0%, tương đương với 7,2 triệu người tiêm chích ma túy đang sống chung với viêm gan C vào cuối năm 2011, tỷ lệ nhiễm viêm gan B trong nhóm TCMT thấp hơn rất nhiều tỷ lệ nhiễm viêm gan C, tỷ lệ nhiễm viêm gan B là 8,4%, tương ứng với 1,2 triệu người [52]. Báo cáo mới nhất năm 2016 của UNAIDS cho biết, trong năm 2014, tỷ lệ mắc mới HIV trong nhóm TCMT tại Châu Á Thái Bình Dương chiếm 13% tổng số ca mắc mới trong vùng này.
Tỷ lệ này tại các vùng như Trung Á, Tây-Trung Phi, Châu Mỹ La tinh, Bắc Phi, Đông-Nam Phi và Châu Âu-Mỹ lần lượt là 51%; 2%; 2%; 28%; 2% và 15% [51]. Dùng chung bơm kim tiêm và quan hệ tình dục không an toàn được xem là hai nguyên nhân chính dẫn tới lây nhiễm HIV/AIDS trong nhóm đối tượng TCMT.Dùng chung dụng cụ 13 tiêm chích với từ hai người bạn chích trở lên trong vòng 6 tháng là yếu tố nguy cơ có ý nghĩa thống kê trong nhiễm HIV tại Bangkok [29]. Tại Trung Quốc, khoảng 1/2 số người sống với HIV tại Trung Quốc năm 2006 bị lây nhiễm qua dùng chung dụng cụ TCMT [50]. Tại Ấn Độ, tỷ lệ nhiễm HIV đang tăng trong nhóm TCMT và sử dụng chung BKT là yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV phổ biến nhất ở Đông Bắc Ấn Độ [50].
Người NCMT lại thường xuyên có hành vi tình dục không an toàn và thường có nhiều bạn tình, HIV lan truyền qua đường tình dục từ những người NCMT bị nhiễm HIV sang các bạn tình của họ cũng đã trở thành một đường lây truyền quan trọng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa TCMT, mại dâm và các hành vi tình dục có nguy cơ dẫn đến tỷ lệ nhiễm HIV cao trong số những người mại dâm đồng thời có sử dụng ma tuý [48]. Một số kết quả các nghiên cứu cho thấy: ở Trung Quốc khoảng 56% phụ nữ bán dâm có TCMT và nhiều người nam giới tiêm chích mua dâm và họ thường không sử dụng BCS. Sự chồng chéo giữa TCMT và QHTD cũng là một hiện tượng đáng lo ngại làm gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV [50].
Tại Việt Nam, nghiệm ma tuý vẫn đang diễn biến phức tạp với chiều hướng ngày càng gia tăng. Số người nghiện ma túy năm 1994 là 55.445 người, đến năm 1996 số người nghiện là 69. Tính đến 30/12/2013, cả nước có trên 180.000 người nghiện ma túy. Số người nghiện đang ở cộng đồng chiếm tỷ lệ 64,5%; số người đang cai nghiện trong các cơ sở Chữa bệnh, Giáo dục, Lao động xã hội: 22,4%; số đang trong các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ: 13,1% [1, 19].
Tại Việt Nam, lây nhiễm HIV phổ biến qua nhóm người NCMT và có xu hướng gia tăng trong những năm tới. Nguyên nhân chính của tình trạng trên là người nhiễm HIV vẫn tiếp tục TCMT và sử dụng chung BKT. Hành vi dùng chung BKT khi tiêm chích trở thành hành vi phổ biến ở nhóm quần thể NCMT trong vòng 15 năm trở lại đây, tỷ lệ dùng chung BKT trong 6 tháng qua ở người NCMT là 14 - 50%. Các nghiên cứu này cũng đã chỉ ra, trong số những người NCMT có 87% đối tượng dùng chung BKT, trong đó thường xuyên dùng chung BKT là 40%.
Việc làm sạch BKT khi chích chung rất tùy tiện và không đảm bảo tiệt khuẩn cũng là yếu tố nguy cơ làm lây nhiễm HIV trong nhóm TCMT [2]. Kết quả điều tra giám sát hành vi (IBBS) năm 2012 cho thấy, tỷ lệ dùng chung BKT ở nhóm nghiện chích ma tuý (NCMT) trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra rất cao tại Đà Nẵng (37%) và trên 20% tại nhiều tỉnh, thành phố như Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An, Yên Bái, Đồng Nai và TP Hồ Chí Minh. Dịch HIV tại các tỉnh có tỷ lệ dùng chung BKT cao vẫn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch 14 cao [5].Nghiên cứu tỷ lệ hiện nhiễm HIV và yếu tố hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong người NCMT của Nguyễn Thanh Long tại Thị xã Lai Châu và 3 huyện của tỉnh Lai Châu được tiến hành năm 2007 trên 330 người NCMT. Kết quả cho thấy: có 40,3% người NCMT nhiễm HIV; 87,3% người NCMT không bao giờ dùng lại BKT.
Trong tổng số 43 người NCMT có sử dụng lại BKT thì chỉ có 27,9% là luôn luôn làm sạch BKT [18]. 1: Tỷ lệ nhiễm HIV tron á nhóm n uy ơ o qu á năm *Nguồn: Theo báo cáo Cục Phòng, chống HIV/AIDS-Bộ Y tế Một nghiên cứu hành vi kết hợp với các chỉ số sinh học tại 10 tỉnh/ thành phố tại Việt Nam năm 2009 cho thấy, tỷ lệ những người nghiện chích ma túy có quan hệ tình dục trong 12 tháng qua khá cao. Tỷ lệ này là 31 - 72% có QHTD với bạn tình thường xuyên và 11 - 48% có QHTD với PNBD. Bên cạnh đó, tỷ lệ người NCMT có sử dụng BCS thường xuyên khi QHTD với PNMD vẫn ở mức thấp, dao động từ 38 - 74% ở mỗi tỉnh, tỷ lệ này là một trong những chỉ số cảnh báo nguy cơ lây truyền HIV từ nhóm NCMT sang nhóm PNMD và ngược lại [5], [26].
Năm 2012, kết quả điều tra giám sát trọng điểm về quan hệ tình dục trong nhóm nghiện chích ma túy cho thấy: 67,4% người NCMT tham gia nghiên cứu trả lời có QHTD với phụ nữ bán dâm trong 12 tháng qua, trong đó chỉ có 67,5% người NCMT thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD với phụ nữ bán dâm trong 1 tháng qua. Tỷ lệ người NCMT thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD với phụ nữ bán dâm khác nhau ở các tỉnh. Tỷ lệ này ở tỉnh Hà Tĩnh (88,5%), 15 Thái Nguyên (85,7%), Đà Nẵng là 66,7%, Nghệ An 79,1%, Quảng Trị 73,7%, An Giang 44,4%, TP Hồ Chí Minh (36,5%), Bà Rịa - Vũng Tàu (31,3%) [5], [8], [28]. Thự trạn điều trị n hiện á hất dạn thuố phiện bằn thuố Meth done trên thế iới và Việt N m 1.
Tình hình điều trị n hiện á CDTP bằn thuố meth done trên thế iới Tại New York, bác sỹ Marie Nyswander và Vincent Dole tìm thuốc điều trị cho những người nghiện Heroin vào năm 1964, họ phát hiện ra Methadone giúp người bệnh của họ ngừng sử dụng Heroin và dùng trong thời gian dài hầu như không bị tăng liều, do đó liệu pháp điều trị thay thế bằng Methadone ra đời [35]. Trong thời gian từ 1964 đến 1972, hai bác sỹ đã điều trị cho hơn 22.000 người nghiện Heroin ở thành phố New York và các khu vực lân cận.