Đánh Giá Hiệu Quả và Độc Tính của Phác Đồ Điều Kiện Hóa Diệt Tủy Trước Ghép ở Bệnh Nhân Bạch Cầu Cấp

Đánh giá hiệu quả và độc tính của phác đồ điều kiện hóa diệt tủy trước ghép cho bệnh nhân bạch cầu cấp dòng tủy tại bệnh viện truyền máu huyết học.

Chuyên ngành

Truyền Máu Huyết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Chuyên Khoa Cấp II

2020

128
11
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. DỊCH TỂ HỌC

1.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

1.3. ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG

1.4. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.3. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

2.4. PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU

3.2. ĐÁNH GIÁ MỌC MẢNH GHÉP

3.3. BIẾN CHỨNG TRONG QUÁ TRÌNH GHÉP

3.4. TỶ LỆ TÁI PHÁT VÀ THỜI GIAN SỐNG

4. CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU

4.2. ĐÁNH GIÁ MỌC MẢNH GHÉP

4.3. BIẾN CHỨNG TRONG QUÁ TRÌNH GHÉP

4.4. TỶ LỆ TÁI PHÁT VÀ THỜI GIAN SỐNG

4.5. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phác Đồ Điều Kiện Hóa Diệt Tủy Trước Ghép

Bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (BCCDT) là một rối loạn phức tạp, đơn dòng của tế bào tiền thân tạo máu. Các tế bào này mất khả năng biệt hóa bình thường và không đáp ứng với sự điều hòa phát triển. Ở bệnh nhân trẻ tuổi, tỷ lệ mắc bệnh là 2 – 3/100.000. Tuổi trung bình mắc bệnh là 69, nhưng phần lớn số liệu bệnh nhân BCCDT được điều trị đề cập đến bệnh nhân trẻ tuổi (< 60 tuổi). Ghép tế bào gốc tạo máu đóng vai trò quan trọng trong điều trị bệnh này. Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng ghép tế bào gốc là phương pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa bệnh tái phát, cho dù đó là do dùng biện pháp điều trị diệt tủy hoặc do tác động của mảnh ghép chống leukemia, hoặc là cả hai. Tại bệnh viện Truyền máu huyết học thành phố Hồ Chí Minh, ghép tế bào gốc đã được thực hiện từ năm 1995. Đối với BCCDT người lớn ghép tế bào gốc đồng huyết thống, phác đồ điều kiện hóa diệt tủy được dùng là Busulfan kết hợp với Cyclophosphomide (Bu/Cy). Từ năm 2016, bệnh viện áp dụng thêm phác đồ điều kiện hóa diệt tủy Busulfan kết hợp với Fludarabin (Bu/Flu).

1.1. Lịch Sử Phát Triển Các Phác Đồ Điều Trị Bạch Cầu Cấp

Từ weisses blut (máu trắng) và leukhemia (bệnh bạch cầu) lần đầu tiên được Virchow sử dụng vào năm 1845 và 1847, “bạch cầu cấp” lần đầu tiên được mô tả vào năm 1857. Nhiều bất thường tế bào học, cả cấu trúc và số lượng, được xác định ở BCCDT, ban đầu là t(8;21) và t(15;17) vào năm 1973 và 1977. Nhóm Pháp – Mỹ - Anh (FAB) đã bắt đầu phân loại BCCDT vào năm 1976 dựa trên hình thái học tế bào và sau đó mở rộng ra kết hợp với dấu ấn miễn dịch. Phân loại theo tổ chức y tế thế giới (WHO), xuất bản lần đầu vào năm 1997 và cập nhật mới nhất vào năm 2016, kết hợp dữ liệu lâm sàng, di truyền tế bào và sinh học phân tử. Lui bệnh sau hóa trị liệu tấn công “7 + 3” cytosine arabinoside và anthracycline được báo cáo lần đầu vào năm 1973.

1.2. Dịch Tễ Học Bệnh Bạch Cầu Cấp Dòng Tủy BCCDT

Ở người lớn, BCCDT chiếm tỷ lệ cao nhất trong tất cả các loại bạch cầu cấp và chiếm 80% – 90% các trường hợp bạch cầu cấp. Ước tính 21.380 bệnh nhân (11.960 nam và 9.420 nữ) được chẩn đoán BCCDT và 10.590 tử vong vì BCCDT tại Mỹ năm 2017. BCCDT chiếm 1,3% các trường hợp ung thư mới và 1,8% các trường hợp tử vong vì ung thư tại Mỹ. Tỷ lệ BCCDT gia tăng theo tuổi, với tuổi trung bình của bệnh nhân lúc chẩn đoán là 67. Tỷ lệ BCCDT ở người lớn tuổi gia tăng theo thời gian có thể do cải tiến trong việc chẩn đoán, chẩn đoán BCCDT sau loạn sinh tủy, thời gian sống kéo dài ở những bệnh nhân được hóa trị hay xạ trị cho ung thư tạng đặc hay bệnh máu ác tính khác, và vòng đời dài hơn.

II. Thách Thức Điều Trị Bạch Cầu Cấp Vai Trò Ghép Tủy

Hiện nay, thời gian lui bệnh trung bình sau hóa trị liệu củng cố ở bệnh nhân BCCDT là 12 đến 18 tháng, với tỷ lệ sống không bệnh 5 năm dưới 30%. Việc điều trị sau lui bệnh là cần thiết để ngăn ngừa tái phát ở đa số bệnh nhân BCCDT. Vì thế, vấn đề chính là làm sao để ngăn ngừa bệnh tái phát. Vai trò của ghép tế bào gốc là ngăn ngừa bệnh tái phát. Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng ghép tế bào gốc là phương pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa bệnh tái phát, cho dù đó là do dùng biện pháp điều trị diệt tủy hoặc do tác động của mảnh ghép chống leukemia, hoặc là cả hai. BCCDT là chỉ định thường gặp nhất trong ghép tế bào gốc đồng loài. Tác động mảnh ghép chống leukemia qua trung gian miễn dịch góp phần rất lớn trong hiệu quả làm giảm tái phát bệnh của ghép tế bào gốc đồng loài.

2.1. Các Yếu Tố Nguy Cơ Gây Bệnh Bạch Cầu Cấp Dòng Tủy

Nguyên nhân gây bệnh BCCDT chưa được biết rõ. Cơ chế sinh lý bệnh phức tạp, phối hợp và có lẽ khác nhau giữa các loại BCCDT. Di truyền và những đột biến gây ra do môi trường như tia xạ, thuốc và những độc tố khác đóng vai trò quan trọng trong việc làm gia tăng BCCDT. Các yếu tố nguy cơ được biết đến của BCCDT bao gồm: Môi trường (Benzen và các dẫn xuất của nó, ethylen oxit và thuốc diệt cỏ), Bức xạ ion, Hội chứng Down, Hội chứng Bloom, Hội chứng Fanconi, Hội chứng Klinefelter, Loạn sinh tủy, Hội chứng tủy tăng sinh, Tiểu hemoglobin kịch phát về đêm, Đã được điều trị với: tác nhân alkyl hóa, ức chế topoisomerase II, xạ trị đơn độc hay kèm theo hóa trị.

2.2. Đặc Điểm Lâm Sàng Thường Gặp Ở Bệnh Nhân Bạch Cầu Cấp

BCCDT thường có suy tủy xương nên gây ra triệu chứng thiếu máu, chảy máu do giảm tiểu cầu (TC) và nhiễm trùng do giảm bạch cầu hạt (BCH). Tế bào non thâm nhiễm các mô như nướu răng, da, màng não thường gặp ở nhóm M4 và M5. Bầm da và xuất huyết đe dọa tính mạng nên nghĩ nhiều đến đông máu nội mạch lan tỏa, thường gặp ở nhóm M3. Tuy nhiên, đông máu nội mạch lan tỏa có thể xảy ra ở bất kỳ nhóm nào. Tình trạng ứ đọng bạch cầu và tăng độ nhớt máu có thể xảy ra khi tế bào non trên 100.000. Bệnh nhân thường biểu hiện lơ mơ, giảm thị lực và thở nông, tình trạng ứ đọng bạch cầu có thể dẫn đến xuất huyết ở võng mạc, não, phổi và các cơ quan khác.

III. Phương Pháp Đánh Giá Hiệu Quả Phác Đồ Điều Kiện Hóa

Để đánh giá hiệu quả và độc tính của các phác đồ điều kiện hóa diệt tủy trước ghép ở bệnh nhân BCCDT, cần xác định tỷ lệ mọc mảnh ghép, tỷ lệ các biến chứng xảy ra trong và sau ghép, thời gian sống không bệnh (DFS), thời gian sống toàn bộ (OS) và tỷ lệ tái phát (RR). Các tiêu chuẩn đánh giá này giúp so sánh hiệu quả giữa các phác đồ khác nhau, ví dụ như Bu/Cy và Bu/Flu. Việc đánh giá này cần dựa trên các nghiên cứu khoa học và phân tích thống kê để đưa ra kết luận chính xác.

3.1. Các Xét Nghiệm Cận Lâm Sàng Quan Trọng Trong Chẩn Đoán BCCDT

Thiếu máu là triệu chứng hằng định. Đời sống hồng cầu rút ngắn lại, nhưng nguyên nhân chính của thiếu máu là giảm sản xuất hồng cầu. Hồng cầu lưới khoảng 0,5 – 2%. Giảm TC gần như luôn xảy ra lúc chẩn đoán. Hơn một nửa trường hợp có số lượng TC dưới 50 x 109/L lúc chẩn đoán. Bạch cầu tổng dưới 5 x 109/L và BCH dưới 1 x 109/L trong một nửa trường hợp lúc chẩn đoán. Tế bào non hầu như luôn hiện diện ở máu ngoại vi nhưng cũng có thể không thấy do bạch cầu thấp. Tủy luôn chứa các tế bào non. Có từ 3 – 90% tế bào tủy là tế bào non lúc chẩn đoán hay tái phát. Để chẩn đoán BCCDT đòi hỏi phải có 20% tế bào non.

3.2. Vai Trò Của Di Truyền Tế Bào Và Sinh Học Phân Tử

Tất cả bệnh nhân nghi ngờ BCCDT nên được phân tích di truyền tế bào mẫu tủy. Khoảng 50% bệnh nhân mới chẩn đoán BCCDT sẽ có bất thường về di truyền tế bào. Kết hợp phân tích nhiễm sắc thể đồ cổ điển với RT-PCR hay FISH cho những mẫu bất thường có thể giúp chẩn đoán, điều trị, theo dõi sau điều trị ở những bệnh nhân BCCDT. Bất thường ở một số gen nhất định, như đột biến FLT3, NPM1, KIT, CEBPA hay RUNX1 cũng như biểu hiện gen mang ý nghĩa tiên lượng ở bệnh nhân BCCDT người lớn. Bệnh nhân BCCDT mới chẩn đoán, đặc biệt bệnh nhân trẻ tuổi, nên được phân tích sinh học phân tử vì chúng quan trọng trong tiên lượng, có ý nghĩa trong việc lựa chọn liệu pháp điều sau lui bệnh (ghép tủy hay hóa trị liệu), và có thể trở thành mục tiêu của các thuốc đang phát triển và nghiên cứu.

IV. So Sánh Hiệu Quả Độc Tính Phác Đồ Bu Cy và Bu Flu

Tại bệnh viện Truyền máu huyết học thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2016, phác đồ điều kiện hóa diệt tủy Busulfan kết hợp với Fludarabin (Bu/Flu) được áp dụng thêm bên cạnh phác đồ Busulfan kết hợp với Cyclophosphomide (Bu/Cy). Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả và độc tính của các phác đồ này trên bệnh nhân BCCDT được ghép tế bào gốc đồng huyết thống. Việc so sánh hiệu quả và độc tính giữa hai phác đồ này là cần thiết để lựa chọn phác đồ tối ưu cho từng bệnh nhân.

4.1. Tiêu Chuẩn Chẩn Đoán Bệnh Bạch Cầu Cấp Dòng Tủy BCCDT

Chẩn đoán BCCDT cần phải thỏa cả hai đặc điểm sau: Tủy đồ: số lượng tế bào non chiếm ít nhất 20% trong tổng số tế bào tủy xương (đếm từ trên 500 tế bào). Có xác định được tỷ lệ tế bào non trong tủy hay không, tế bào non hiện diện trên 20% trong máu ngoại vi cũng được chẩn đoán BCCDT. Tế bào bạch cầu phải có nguồn gốc của dòng tủy, được chứng minh bằng sự hiện diện của thể Auer, hóa mô tế bào dương tính với myeloperoxidase, hay sự hiện diện đầy đủ các dấu ấn của tế bào dòng tủy hay dòng mono trên dấu ấm miễn dịch.

4.2. Chẩn Đoán Phân Biệt Bệnh Bạch Cầu Cấp Với Các Bệnh Khác

BCCDT cần được chẩn đoán phân biệt trong các trường hợp: Số lượng tế bào non ở ngay ngưỡng 20% (như trong loạn sinh tủy hay hội chứng tủy tăng sinh); tế bào non có thể tăng trong hồi phục tủy sau hóa trị liệu hay do yếu tố tăng trưởng. Tế bào non khó xác định là dòng tủy hay dòng lympho. Bệnh nhân có tiền sử bệnh tủy xương trước đó. Bệnh nhân có các bệnh lý khác gây suy tủy.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Kết Quả Nghiên Cứu Ghép Tế Bào Gốc

Việc đánh giá hiệu quả và độc tính của các phác đồ điều kiện hóa diệt tủy trước ghép có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân BCCDT. Kết quả nghiên cứu có thể giúp các bác sĩ lựa chọn phác đồ phù hợp nhất cho từng bệnh nhân, giảm thiểu biến chứng và tăng tỷ lệ sống sót. Nghiên cứu này cũng cung cấp dữ liệu quan trọng cho việc xây dựng các hướng dẫn điều trị và cập nhật phác đồ trong tương lai.

5.1. Chỉ Định Ghép Tế Bào Gốc Ở Bệnh Nhân Bạch Cầu Cấp Dòng Tủy

BCCDT là chỉ định thường gặp nhất trong ghép tế bào gốc đồng loài. Tác động mảnh ghép chống leukemia qua trung gian miễn dịch góp phần rất lớn trong hiệu quả làm giảm tái phát bệnh của ghép tế bào gốc đồng loài. Tuy nhiên, hiệu quả của ghép tế bào gốc đồng loài bị ảnh hưởng bởi các biến chứng của nó. Vì thế, bệnh nhân lớn tuổi – chiếm tỷ lệ cao trong BCCDT – hiếm đạt hiệu quả cao khi ghép tế bào gốc đồng loài với phác đồ điều kiện hóa diệt tủy chuẩn vì các biến chứng của điều trị.

5.2. Các Biến Chứng Sớm Thường Gặp Sau Ghép Tế Bào Gốc

Các biến chứng sớm thường gặp sau ghép tế bào gốc bao gồm: Nhiễm trùng, Bệnh mảnh ghép chống ký chủ (GvHD), Viêm tắc tĩnh mạch trong gan (VOD), Suy thận, Suy hô hấp. Việc phòng ngừa và điều trị các biến chứng này là rất quan trọng để cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

VI. Kết Luận Hướng Nghiên Cứu Phát Triển Phác Đồ Mới

Nghiên cứu về hiệu quả và độc tính của các phác đồ điều kiện hóa diệt tủy trước ghép ở bệnh nhân BCCDT là một lĩnh vực quan trọng và liên tục phát triển. Các nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc tìm kiếm các phác đồ mới, ít độc tính hơn và hiệu quả hơn trong việc ngăn ngừa tái phát bệnh. Việc cá nhân hóa điều trị, dựa trên các yếu tố di truyền và sinh học phân tử của từng bệnh nhân, cũng là một hướng đi đầy hứa hẹn.

6.1. Dự Phòng Bệnh Mảnh Ghép Chống Ký Chủ GvHD Sau Ghép Tủy

Dự phòng bệnh mảnh ghép chống ký chủ (GvHD) là một phần quan trọng trong quá trình ghép tế bào gốc. Các phương pháp dự phòng GvHD bao gồm: Sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, Lựa chọn người cho tế bào gốc phù hợp, Loại bỏ tế bào T khỏi mảnh ghép. Việc lựa chọn phương pháp dự phòng GvHD phù hợp cần dựa trên các yếu tố như: Loại ghép (đồng loài hay tự thân), Mức độ tương đồng HLA giữa người cho và người nhận, Tình trạng bệnh của bệnh nhân.

6.2. Theo Dõi Và Điều Trị Hỗ Trợ Sau Ghép Tế Bào Gốc

Theo dõi và điều trị hỗ trợ sau ghép tế bào gốc là rất quan trọng để phát hiện sớm và điều trị các biến chứng, cũng như để đảm bảo bệnh nhân có chất lượng cuộc sống tốt nhất. Các biện pháp theo dõi và điều trị hỗ trợ bao gồm: Khám sức khỏe định kỳ, Xét nghiệm máu, Chụp X-quang, Siêu âm, Điều trị nhiễm trùng, Điều trị GvHD, Hỗ trợ dinh dưỡng, Hỗ trợ tâm lý.

07/06/2025
Đánh giá hiệu quả và độc tính của các phác đồ điều kiện hóa diệt tủy trước ghép ở bệnh nhân bạch cầu cấp dòng tủy tại bệnh viện truyền máu huyết học

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bạch cầu cấp dòng tuỷ (BCCDT) là một rối loạn đơn dòng phức tạp của tế tào tiền thân tạo máu, chúng mất khả năng biệt hoá bình thƣờng và mất khả năng đáp ứng với sự điều hoà phát triển bình thƣờng. Ở những bệnh nhân (BN) trẻ tuổi, tỷ lệ mắc bệnh là 2 – 3/100 000. Tuổi trung bình mắc bệnh là 69 tuổi nhƣng phần lớn số liệu BN BCCDT đƣợc điều trị đề cập đến BN trẻ tuổi (< 60 tuổi). Trong vài năm qua, sự hiểu biết về sinh lý bệnh của BCCDT ngƣời lớn đã đƣợc tích luỹ đáng kể, nó đã đƣợc chứng tỏ là một bệnh rất phức tạp về bất thƣờng phenotype, di truyền tế bào và sinh học phân tử.

Thực sự gần đây có những phát triển trong việc tiên lƣợng BCCDT, dẫn đến sự phát triển của các mục tiêu điều trị mới [79]. Hiện nay, thời gian lui bệnh trung bình sau hoá trị liệu củng cố ở BN BCCDT là 12 đến 18 tháng, với tỷ lệ sống không bệnh 5 năm dƣới 30%. Việc điều trị sau lui bệnh là cần thiết để ngăn ngừa tái phát ở đa số BN BCCDT [111]. Vì thế, vấn đề chính là làm sao để ngăn ngừa bệnh tái phát.

Vai trò của ghép tế bào gốc là ngăn ngừa bệnh tái phát. Nhiều nghiên cứu đã kết luận rằng ghép tế bào gốc là phƣơng pháp hiệu quả nhất để ngăn ngừa bệnh tái phát, cho dù đó là do dùng biện pháp điều trị diệt tuỷ hoặc do tác động của mảnh ghép chống leukemia, hoặc là cả hai [25]. BCCDT là chỉ định thƣờng gặp nhất trong ghép tế bào gốc đồng loài. Tác động mảnh ghép chống leukemia qua trung gian miễn dịch góp phần rất lớn trong hiệu quả làm giảm tái phát bệnh của ghép tế bào gốc đồng loài.

Tuy nhiên, hiệu quả của ghép tế bào gốc đồng loài bị ảnh hƣởng bởi các biến chứng của nó. Vì thế, BN lớn tuổi – chiếm tỷ lệ cao trong BCCDT – hiếm đạt hiệu quả cao khi ghép tế bào gốc đồng loài với phác đồ điều kiện hoá diệt tuỷ chuẩn vì các biến chứng của điều trị [79]. Tại bệnh viện Truyền máu huyết học thành phố Hồ Chí Minh, ghép tế bào gốc đã đƣợc thực hiện từ năm 1995. Trong đó, BCCDT chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các BN đƣợc ghép tuỷ.

Đối với BCCDT ngƣời lớn ghép tế bào gốc đồng huyết. 2 thống, phác đồ điều kiện hoá diệt tuỷ đƣợc dùng là Busulfan kết hợp với Cyclophosphomide (Bu/Cy). Từ năm 2016, tại bệnh viện áp dụng thêm phác đồ điều kiện hoá diệt tuỷ Busulfan kết hợp với Fludarabin (Bu/Flu). Tuy nhiên, tại bệnh viện chƣa có nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả và độc tính của các phác đồ điều kiện hoá diệt tuỷ này trên BN BCCDT đƣợc ghép tế bào gốc đồng huyết thống.

Do vậy, nhằm đánh giá hiệu quả và độc tính của các phác đồ điều kiện hoá diệt tuỷ trƣớc ghép ở BN BCCDT từ năm 2005 đến năm 2019, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu này với mục tiêu:  Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiệu quả và độc tính của các phác đồ điều kiện hoá diệt tuỷ ở BN BCCDT đƣợc ghép tế bào gốc đồng loài từ năm 2005 đến năm 2019, tại bệnh viện Truyền máu huyết học thành phố Hồ Chí Minh.  Mục tiêu chuyên biệt: Để thực hiện đề tài nghiên cứu này chúng tôi cần giải quyết các mục tiêu chuyên biệt sau của BN BCCDT đƣợc sử dụng các phác đồ điều kiện hoá diệt tuỷ: 1. Xác định tỷ lệ mọc mảnh ghép. Xác định tỷ lệ các biến chứng xảy ra trong và sau ghép.

Xác định thời gian sống không bệnh (DFS), thời gian sống toàn bộ (OS) và tỷ lệ tái phát (RR). 3 CHƢƠNG I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU BCCDT là bệnh lý ác tính dòng tuỷ với nhiều đặc điểm phổ biến nhƣng có những đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng khác nhau. Vì đa số BN không đáp ứng với hoá trị liệu thông thƣờng, nên ghép tế gốc tạo máu đóng vai trò quan trọng đối với bệnh này. Tuy nhiên, có nhiều cách ghép (ghép tế bào gốc từ ngƣời cho đồng huyết thống, ghép tế bào gốc từ ngƣời cho không đồng huyết thống, tự ghép, ghép giảm cƣờng độ,.) tƣơng ứng với các dạng BCCDT, nên đánh giá và lên kế hoạch cẩn thận để lựa chọn cách ghép tối ƣu cho từng BN [11].

LỊCH SỬ Từ weisses blut (máu trắng) và leukhemia (bệnh bạch cầu) lần đầu tiên đƣợc Virchow sử dụng vào năm 1845 và 1847, “bạch cầu cấp” lần đầu tiên đƣợc mô tả vào năm 1857; và bệnh bạch cầu đƣợc chia thành “dòng tuỷ” và “dòng lympho” bởi Naegeli vào năm 1900 [85]. Bạch cầu cấp dòng mono đƣợc mô tả vào năm 1913, bạch cầu cấp dòng hồng cầu vào năm 1917, bạch cầu cấp dòng tiểu cầu vào năm 1931 và bạch cầu cấp tiền tuỷ bào vào năm 1947 [41]. Nhiều bất thƣờng tế bào học, cả cấu trúc và số lƣợng, đƣợc xác định ở BCCDT, ban đầu là t(8;21) và t(15;17) vào năm 1973 và 1977 [41]. Inv(16) đƣợc mô tả vào năm 1983, kết hợp bất thƣờng của eosinophil và có tiên lƣợng tốt.

Số lƣợng gen đột biến ngày càng tăng cũng đƣợc mô tả ở BCCDT. FLT3 lần đầu tiên đƣợc mô tả vào năm 1996 và NPM1 vào năm 2005 [43]. Nhóm Pháp – Mỹ - Anh (FAB) đã bắt đầu phân loại BCCDT vào năm 1976 dựa trên hình thái học tế bào và sau đó mở rộng ra kết hợp với dấu ấn miễn dịch, đáng chú ý là bao gồm bệnh phân biệt tối thiểu với biểu hiện kháng nguyên dòng tuỷ. Phân loại theo tổ chức y tế thế giới (WHO), xuất bản lần đầu vào năm 1997 và cập nhật mới nhất vào năm 2016 [14], kết hợp dữ liệu lâm sàng, di truyền tế bào và sinh học phân tử; phân biệt bệnh ác tính của tuỷ xảy ra sau điều trị (t-MNs) và BCCDT với những thay đổi liên quan đến loạn sinh tuỷ từ BCCDT mới; sử dụng một số bất thƣờng về di truyền tế bào và sinh học phân tử để xác định dƣới nhóm.

European LeukemiaNet phát triển và cập nhật phân loại tiên lƣợng BCCDT kết hợp dữ liệu di truyền tế bào và sinh học phân tử [36]. Lui bệnh sau hoá trị liệu tấn công “7 + 3” cytosine arabinoside và anthracycline đƣợc báo cáo lần đầu vào năm 1973, và điều trị củng cố với cytosine arabinoside liều cao đƣợc công bố lần đầu vào năm 1989. Những phác đồ này vẫn là phác đồ điều trị chính của BCCDT, trong khi những cải thiện trong hiệu quả điều trị đã phản ánh phần lớn việc chăm sóc nâng đỡ đƣợc cải thiện, lựa chọn điều trị dựa trên di truyền tế bào và sinh học phân tử, sự ra đời và cải tiến trong ghép tế bào gốc tạo máu. Tuy nhiên, sau nhiều thập kỷ không có thuốc nào mới đƣợc chấp thuận cho BCCDT, bốn thuốc mới đƣợc chấp thuận vào năm 2017, trong đó có hai thuốc là liệu pháp trúng đích [16].

DỊCH TỂ HỌC Ở ngƣời lớn, BCCDT chiếm tỷ lệ cao nhất trong tất cả các loại bạch cầu cấp và chiếm 80% – 90% các trƣờng hợp bạch cầu cấp [16]. Ƣớc tính 21 380 BN (11 960 nam và 9 420 nữ) đƣợc chẩn đoán BCCDT và 10 590 tử vong vì BCCDT tại Mỹ năm 2017 [101]. BCCDT chiếm 1,3% các trƣờng hợp ung thƣ mới và 1,8% các trƣờng hợp tử vong vì ung thƣ tại Mỹ. Nguy cơ trọn đời của BCCDT dựa trên tỷ lệ từ năm 2012 đến năm 2014 là khoảng 0,5 ở cả nam và nữ [16].

Tỷ lệ BCCDT gia tăng theo tuổi, với tuổi trung bình của BN lúc chẩn đoán là 67. Tỷ lệ BCCDT ở ngƣời lớn tuổi gia tăng theo thời gian có thể do cải tiến trong việc chẩn đoán, chẩn đoán BCCDT sau loạn sinh tuỷ, thời gian sống kéo dài ở những BN đƣợc hoá trị hay xạ trị cho ung thƣ tạng đặc hay bệnh máu ác tính khác, và vòng đời dài hơn [40]. NGUYÊN NHÂN Nguyên nhân gây bệnh BCCDT chƣa đƣợc biết rõ. Cơ chế sinh lý bệnh phức tạp, phối hợp và có lẽ khác nhau giữa các loại BCCDT.

Di truyền và những đột biến gây ra do môi trƣờng nhƣ tia xạ, thuốc và những độc tố khác đóng vai trò quan trọng trong việc làm gia tăng BCCDT. Nguyên nhân di truyền đƣợc nghĩ đến do sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh BCCDT ở những cặp sinh đôi và sự kết hợp BCCDT với. 5 các rối loạn bẩm sinh khác. BCCDT phát sinh từ những rối loạn huyết học có từ trƣớc, thƣờng gặp là loạn sinh tuỷ và tiên lƣợng xấu.

Kháng trị và thời gian sống rút ngắn lại là đặc trƣng của BCCDT sau hoá trị và xạ trị [102]. Các yếu tố nguy cơ đƣợc biết đến của BCCDT bao gồm:  Môi trƣờng  Benzen và các dẫn xuất của nó, ethylen oxit và thuốc diệt cỏ  Bức xạ ion  Hội chứng Down  Hội chứng Bloom  Hội chứng Fanconi  Hội chứng Klinefelter  Loạn sinh tuỷ  Hội chứng tuỷ tăng sinh  Tiểu hemoglobin kịch phát về đêm  Đã đƣợc điều trị với: tác nhân alkyl hoá, ức chế topoisomerase II, xạ trị đơn độc hay kèm theo hoá trị [102]. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG BCCDT thƣờng có suy tuỷ xƣơng nên gây ra triệu chứng thiếu máu, chảy máu do giảm tiểu cầu (TC) và nhiễm trùng do giảm bạch cầu hạt (BCH). Tế bào non thâm nhiễm các mô nhƣ nƣớu răng, da, màng não thƣờng gặp ở nhóm M4 và M5.

Bầm da và xuất huyết đe doạ tính mạng nên nghĩ nhiều đến đông máu nội mạch lan toả, thƣờng gặp ở nhóm M3. Tuy nhiên, đông máu nội mạch lan toả có thể xảy ra ở bất kỳ nhóm nào. Tình trạng ứ đọng bạch cầu và tăng độ nhớt máu có thể xảy ra khi tế bào non trên 100 000. BN thƣờng biểu hiện lơ mơ, giảm thị lực và thở nông, tình trạng ứ đọng bạch cầu có thể dẫn đến xuất huyết ở võng mạc, não, phổi và các cơ quan khác.

Các biểu hiện hiếm gặp nhƣ hội chứng sweet, sang thƣơng da thâm nhiễm bạch cầu ở hạ bì và cloroma, u của tế bào non [102]. Các triệu chứng lâm sàng bao gồm:  Suy tuỷ xƣơng:. 6  Thiếu máu: mệt, thở nhanh, hội hộp, ngất.  Nhiễm trùng: thƣờng gặp ở phổi, miệng, hậu môn, da.

Biểu hiện: sốt, ớn lạnh, vã mồ hôi.  Xuất huyết: chấm xuất huyết, bầm da, chảy máu răng và đƣờng tiêu hoá [86], [102].  Tổn thƣơng xâm lấn mô:  Đau xƣơng  Lách to nhẹ  Tăng sinh nƣớu  Xâm lấn thần kinh trung ƣơng và tổn thƣơng dây thần kinh ngoại biên  Thay đổi thị giác (do xuất huyết võng mạc, phù gai thị) [86], [102].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Đánh Giá Hiệu Quả và Độc Tính của Phác Đồ Điều Kiện Hóa Diệt Tủy Trước Ghép ở Bệnh Nhân Bạch Cầu Cấp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả và tính an toàn của các phác đồ điều trị hóa chất trước khi ghép tủy cho bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu cấp. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị mà còn đánh giá độc tính của các phương pháp điều trị, từ đó đưa ra những khuyến nghị quan trọng cho lâm sàng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp điều trị liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận án đánh giá kết quả hoá xạ trị đồng thời phác đồ paclitaxel carboplatin trong ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn iiib", nơi nghiên cứu về hiệu quả của hóa xạ trị trong điều trị ung thư phổi.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ y khoa một số đặc điểm lâm sàng và huyết học của bệnh lơxêmi kinh dòng hạt giai đoạn tăng tốc", tài liệu này cung cấp thông tin chi tiết về lâm sàng và huyết học của bệnh lơxêmi, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về bệnh lý này.

Cuối cùng, tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số chỉ số dinh dưỡng trên bệnh nhân ung thư đại trực tràng trước và sau phẫu thuật tại bv trường đại học y dược cần thơ" cũng là một nguồn tài liệu quý giá, giúp bạn hiểu rõ hơn về tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân ung thư.

Những tài liệu này không chỉ cung cấp thông tin bổ ích mà còn mở ra cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của điều trị bệnh lý trong lĩnh vực y học.