ĐẶT VẤN ĐỀ Truyền máu là một liệu pháp điều trị quan trọng và cho đến nay chƣa có một phƣơng pháp nào có thể thay thế đƣợc, bên cạnh các lợi ích thì các tai biến của việc sử dụng máu trong điều trị cũng rất nghiêm trọng, nhất là các tai biến do bất đồng miễn dịch giữa ngƣời nhận máu và các chế phẩm máu đƣợc cung cấp; các tai biến này có thể do các kháng thể loại IgM (chủ yếu là các kháng thể tự nhiên của hệ nhóm máu ABO) và các kháng thể miễn dịch loại IgG (các kháng thể này thƣờng là những kháng thể bất thƣờng miễn dịch xuất hiện chủ yếu do truyền máu trƣớc đó). Mặt khác, sự đa dạng về kháng nguyên của các hệ thống nhóm máu hồng cầu và bạch cầu càng làm cho việc truyền máu trở nên phức tạp hơn [16], [36] [38]. Theo công bố của Hội Truyền máu quốc tế đến nay ngƣời ta đã nghiên cứu và phát hiện đƣợc trên 30 hệ nhóm máu hồng cầu với khoảng 325 kháng nguyên quan trọng khác nhau [15], [19], [26], [68]. Do vậy, để lựa chọn đƣợc một đơn vị hồng cầu lắng hoàn toàn phù hợp với ngƣời bệnh về tất cả các hệ nhóm máu là việc hầu nhƣ không thể thực hiện.
Trên thực tế, chúng ta vẫn gặp những tai biến truyền máu cấp hoặc muộn mà nguyên nhân là do xuất hiện các kháng thể miễn dịch khi truyền máu chƣa phù hợp các hệ nhóm máu cho ngƣời bệnh từ đó đã có thể tạo kháng thể ở ngƣời nhận máu chống hồng cầu truyền vào. Để hạn chế đến mức tối đa những tai biến truyền máu này, hiện nay trên thế giới đã triển khai và thực hiện một cách triệt để các xét nghiệm đảm bảo an toàn truyền máu về mặt miễn dịch nhƣ: định nhóm máu hệ ABO, Rh(D) và một số hệ nhóm máu khác của cả ngƣời cho và ngƣời nhận, xét nghiệm hòa hợp miễn dịch… và đặc biệt có một số quốc gia đã truyền máu. phù hợp phenotype cho ngƣời bệnh cần truyền máu nhiều lần nhƣ Mỹ, Đức, Thái Lan … [18], [28], [54]. Thực tế tại Việt Nam, trong vấn đề thực hành truyền máu hiện nay, chỉ có một vài Bệnh viện lớn nhƣ Viện Huyết học Truyền máu Trung ƣơng, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Truyền máu Huyết học Thành phố Hồ Chí Minh là có thể sử dụng hồng cầu lắng phenotype, bên cạnh đó thƣờng đa số các bác sĩ vẫn cho rằng chỉ cần truyền máu cùng nhóm với bệnh nhân trong hệ nhóm máu ABO và thêm kháng nguyên Rh(D) là đủ mà ít chú ý đến các hệ thống nhóm máu khác, điển hình là các nhóm máu nhƣ hệ Rhesus, hệ Duffy, hệ Kidd, hệ MNSs … vốn cũng là các hệ nhóm máu có tính sinh kháng mạnh; do đó đã có những tai biến truyền máu xảy ra do tính sinh miễn dịch tạo kháng thể ở ngƣời nhận máu chống hồng cầu truyền vào, mà kháng thể này phần nhiều có bản chất là IgG [3], [4], [8], [14], [15].
Tại BV Truyền máu - Huyết học Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm lớn và đầu ngành về điều trị các bệnh lý huyết học, trong số đó thì thalassemia là một trong các bệnh lý phụ thuộc truyền máu, cần phải truyền máu thƣờng kỳ, lâu dài và đây có thể là một yếu tố nguy cơ trong việc sinh kháng thể, chúng tôi đã tiến hành truyền máu phenotype cho một số bệnh nhân thalassemia và vẫn có một số bệnh nhân thalassemia chỉ truyền phù hợp hệ nhóm máu ABO-Rh(D); tuy nhiên trong khoảng 10 năm gần đây thì không có công trình nghiên cứu để xem xét về vấn đề này; vì lý do để phòng tránh tối đa các nguy cơ bất đồng do miễn dịch truyền máu cũng nhƣ khảo sát cụ thể hơn về hiệu quả truyền máu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích ―Đánh giá hiệu quả truyền hồng cầu lắng phù hợp phenotype trên bệnh nhân thalassemia phụ thuộc truyền máu tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học Thành phố Hồ Chí Minh từ 01/2018 đến 12/2019‖ với mục tiêu chuyên biệt nhƣ sau:. MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT: 1. Mô tả đặc điểm bệnh nhân thalassemia phụ thuộc truyền máu. Xác định tỷ lệ sinh kháng thể miễn dịch chống kháng nguyên hồng cầu theo số lần truyền máu, số túi máu đƣợc truyền; tần suất xuất hiện của các kháng thể miễn dịch.
Khảo sát các yếu tố ảnh hƣởng đến sự xuất hiện kháng thể bất thƣờng trên bệnh nhân thalassemia phụ thuộc truyền máu. Với nghiên cứu này chúng tôi mong muốn làm rõ hơn về các đặc tính sinh kháng thể miễn dịch và hiệu quả khi truyền hồng cầu lắng phù hợp phenotype, từ đó góp phần đƣa ra các giải pháp phù hợp, đảm bảo an toàn truyền máu hơn cho các bệnh nhân thalassemia phụ thuộc truyền máu. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1. ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI CÁC HỆ NHÓM MÁU HỒNG CẦU 1.
Hồng cầu lắng phenotype Hồng cầu lắng phenotype (hệ nhóm máu hồng cầu) đƣợc phân loại dựa trên sự hiện diện và sự vắng mặt của các kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu; những kháng nguyên có thể là protein, carbohydrate, glycoprotein, hoặc glycolipid, tùy thuộc vào hệ thống nhóm máu. Tùy thuộc vào mỗi chủng tộc khác nhau mà mỗi quốc gia xác định các kháng nguyên hồng cầu kháng nhau dựa trên tính sinh miễn dịch của các kháng nguyên. Tổng cộng có khoảng 35 hệ thống nhóm máu với hơn 300 kháng nguyên máu nhóm khác nhau của con ngƣời đã đƣợc công nhận bởi Hiệp hội Quốc tế về Truyền máu (ISBT) [16], [19], [26]. Dựa trên tính sinh miễn dịch của các kháng nguyên, hiện nay bệnh viện Truyền máu Huyết học cung cấp hồng cầu lắng phenotype gồm các hệ nhóm máu ABO, Rhesus, Kidd, Duffy, MNSs tƣơng đối phù hợp theo tỷ lệ kháng nguyên ngƣời Việt Nam.
Các hệ nhóm máu hồng cầu 1. Các hệ nhóm máu đã đƣợc Hội Truyền máu quốc tế công nhận Cho đến hiện nay, đã có khoảng 35 hệ nhóm máu khác nhau đã đƣợc ISBT chính thức công nhận (Bảng 1.1) [19], [26], [65], [68] và các nhà khoa học vẫn không ngừng tìm kiếm thêm các hệ nhóm máu hồng cầu mới. Các hệ nhóm máu đã được ISBT công nhận. Nhóm máu hệ ABO Lịch sử phát hiện: Năm 1900, nhà bác học Karl Landstainer và cộng sự đã làm thực nghiệm và phát hiện ra hệ thống nhóm máu đầu tiên ở ngƣời, đó là hệ nhóm máu ABO với 3 nhóm máu là: Nhóm A, nhóm B, nhóm O.
Năm 1902, Decastello và Sturli đã lặp lại thí nghiệm của Landstainer và phát hiện thêm nhóm máu AB [16], [36]. Đặc điểm của nhóm máu hệ ABO: Hệ nhóm máu ABO có bốn nhóm chính là nhóm A, nhóm B, nhóm AB và nhóm O. Bốn nhóm máu này đƣợc nhận biết dựa vào sự có mặt hoặc không có mặt của kháng nguyên A, B trên bề mặt hồng cầu và sự có mặt hoặc không có mặt của kháng thể chống A, kháng thể chống B trong huyết thanh (bảng 2). Kháng nguyên của hệ nhóm máu ABO thƣờng xuất hiện sớm vào khoảng tuần thứ năm sau khi thụ thai.
Kháng thể chống A và kháng thể chống B thƣờng là kháng thể tự nhiên có bản chất là IgM, thích hợp hoạt động ở 4°C, xuất hiện sau khi sinh, tăng dần hiệu giá và đạt cực đại vào 5-10 tuổi, không qua đƣợc hàng rào nhau thai, không bao giờ có trong huyết thanh của cá thể có kháng nguyên tƣơng ứng trên bề mặt hồng cầu. Kháng thể chống A và chống B cũng có thể là kháng thể miễn dịch, có bản chất là IgG, thích hợp hoạt động ở 37°C, đƣợc hình thành qua một quá trình đáp ứng miễn dịch do tiếp xúc với kháng nguyên của hệ ABO gặp trong trƣờng hợp bất đồng nhóm máu giữa mẹ và con, truyền máu không hoà hợp hệ ABO, các kháng thể này có thể lọt qua hàng rào nhau thai, có khả năng kết hợp với bổ thể và gây tan máu trong lòng mạch [16], [36], [44], [59], [60]. Cấu trúc kháng nguyên nhóm máu A, B, O [36] (Immunologic Concepts in Transfusion Medicine. 1st Edition, 2019) Hệ nhóm máu ABO là hệ nhóm máu có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hành truyền máu; truyền máu không hoà hợp hệ ABO có thể gây tai biến truyền máu nghiêm trọng do hồng cầu (HC) của ngƣời cho bị ngƣng kết trực tiếp bởi các KT tƣơng ứng có sẵn trong huyết thanh của ngƣời nhận và với sự có mặt của bổ thể sẽ gây tan máu cấp trong lòng mạch, nếu không xử trí, cấp cứu kịp thời tính mạng của ngƣời bệnh có thể bị đe dọa [36].
Tán huyết cấp trong lòng mạch có gắn kết bổ thể [36] (Immunologic Concepts in Transfusion Medicine. Nhóm máu hệ Rhesus (Rh) Lịch sử phát hiện: + Năm 1939, Levine và Stetson đã phát hiện một kháng thể bất thƣờng trong huyết thanh của một sản phụ có con bị bệnh vàng da tan máu, kháng thể này ngƣng kết với hồng cầu của cha và con nhƣng không làm ngƣng kết hồng cầu của mẹ. + Năm 1940, Karl Lansteiner và Wiener miễn dịch lợn và thỏ bằng hồng cầu khỉ Rhesus và đã thu đƣợc một kháng thể mà gây ngƣng kết với khoảng 85% hồng cầu ngƣời và họ đã gọi tên yếu tố đó là Rh, Wiener và Peters cũng đã nhận xét có sự xuất hiện kháng thể Rh(D) ở những bệnh nhân Rh(D) âm mà đã nhận máu Rh(D) dƣơng. Tuy nhiên ngƣời đƣợc công nhận phát hiện ra kháng nguyên D là Levine và cộng sự (1939-1940).
Năm 1941, thêm ba kháng nguyên của hệ Rh đƣợc phát hiện là C, E, c bởi Wiener, Race và Levine. Năm 1945, Mourant phát hiện thêm kháng nguyên e của hệ Rh [16], [36]. Đặc điểm của hệ nhóm máu Rhesus: + Cho đến nay đã có hơn 50 kháng nguyên của hệ Rhesus đƣợc phát hiện, tuy nhiên 5 kháng nguyên quan trọng nhất của hệ Rhesus vẫn là D, C, c, E, e tƣơng ứng với hai gen quy định tổng hợp r a các kháng nguyên D, C, c, E, e của hệ Rh là RHD và RHCE, cả hai gen này đều nằm trên NST số 1. Các kiểu phối hợp gen của hệ Rhesus ở các chủng tộc, vùng và nƣớc khác nhau thì rất khác nhau, kiểu gen DCe/DCe chiếm tỷ lệ khá cao ở ngƣời Việt Nam (50- 57%), trong khi đó kiểu gen này chỉ gặp 19 % ở ngƣời da trắng và 3% ở ngƣời da đen [15], [16], [36].
+ Kháng thể của hệ Rhesus hầu hết là kháng thể miễn dịch có bản chất là IgG, chúng có thể lọt qua đƣờng hàng rào nhau thai. Kháng thể của Rh(D) đƣợc sinh ra do quá trình miễn dịch bởi các kháng nguyên của Rh(D) thƣờng do .