ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, bởi những lợi ích mà rừng mang lại là rất lớn. Ngoài đem lại hiệu quả kinh tế từ việc cung cấp gỗ và các lâm sản ngoài gỗ, rừng còn có tác dụng phòng hộ, khả năng điều hòa khí hậu, bảo vệ và hình thành đất, điều hòa nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan văn hóa xã hội như nghỉ ngơi, nghỉ mát… Chính vì giá trị lớn mà rừng đem lại, cùng với sự thiếu hiểu biết của con người mà tài nguyên rừngở nước ta đã và đang bị suy thoái. Trong vài thập niên gần đây, do sức ép về gia tăng dân số cùng với sự phát triển công nghiệp, thúc đẩy quá trình đô thị hóa mà diện tích rừng tự nhiên đang giảm dần về số lượng và cả về chất lượng. Môi trường cũng bị suy thoái nghiêm trọng, cùng với sự xuất hiện nhiều hơn của các hiện tượng thiên tai cực đoan xảy ra liên tục đe dọa sinh hoạt và sản xuất của con người.
Vì vậy mà hiện nay Nhà nước đã hạn chế mở cửa rừng tự nhiên. Nhiều tỉnh phải đóng cửa rừng tự nhiên trong thời gian dài và chuyển hướng sang kinh doanh rừng trồng. Bên cạnh đó có nhiều chương trình dự án trồng rừng đã được thực hiện nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tăng khả năng phòng hộ và sức sản xuất của rừng. Tuy nhiên việc lựa chọn đúng những mô hình rừng trồng phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao và môi trường là không hề dễ dàng.
Cần phải có những xem xét đánh giá cơ bản để nâng cao chất lượng rừng trồng nhằm thu hút người dân trong việc trồng và bảo về và phát triển rừng. Xã Thành Long là một xã vùng xa của huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Điều kiện dân trí tại đây chưa cao, kinh tế chưa ổn định. Do vậy, việc xây dựng dự án hỗ trợ trồng rừng sản xuất là việc làm cần thiết, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động, phát huy tiềm năng của đất tạo ra của cải cho xã hội, giảm đi tệ nạn xã hội.
Để có thể đi đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo từ nghề rừng thì công tác chọn loài cây phù hợp là không thể thiếu. Các mô hình rừng trồng phải thật sự mang lại hiệu quả kinh tế, môi trường cao, đồng thời phù hợp 1 với nhu cầu của nhân dân. Từ nhu cầu thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “ Đánh giá hiệu quả tổng hợp của một số mô hình rừng trồng tại xã Thành Long, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa” 2 Chƣơng I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nhận thức chung về vấn đề nghiên cứu Hệ sinh thái rừng có một vai trò và tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại của nhân loại.
Nó không chỉ mang lại những hiệu quả về mặt kinh tế mà nó còn mang lại hiệu quả về mặt xã hội – môi trường sinh thái. Trước đây khi xét tới những giá trị của rừng con người chỉ chú ý đến những lợi ích kinh tế do rừng mang lại, mà đã bỏ qua nhiều lợi ích quan trọng khác. Chính vì những lợi ích kinh tế đó, con người đã khai thác tài nguyên rừng quá mức dẫn đến cạn kiệt làm cho môi trường sinh thái bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngày nay, con người đã nhận thức được giá trị nhiều mặt mà rừng đem lại cho họ, từ đó tầm quan trọng của rừng được đánh giá một cách đầy đủ và đúng đắn hơn.
Chính vì vậy, ý thức và trách nhiệm của mỗi quốc gia về vấn đề bảo vệ và phát triển rừng được nâng lên, đảm bảo hài hòa các lợi ích kinh tế – xã hội – môi trường sinh thái, tất cả đều phải tuân thủ nguyên tắc: “Các hoạt động kinh tế khai thác được từ rừng không làm tổn hại đến môi trường sinh thái”. Những nghiên cứu trên thế giới: Đánh giá hiệu quả kinh tế, sinh thái và xã hội của các mô hình rừng trồng là việc làm quan trọng và cần thiết trong hoạt động sản xuất và kinh doanh rừng trồng. Ở trên thế giới việc nghiên cứu và đánh giá hiệu quả tổng hợp kinh tế - xã hội – môi trường sinh thái của các mô hình rừng trồng được từ những năm 1960. Nhằm đảm bảo an toàn lương thực trên thế giới, nhiều phương thức canh tác ra đời hướng đến sử dụng rừng và đất rừng có hiệu quả như : Mô hình Nông lâm kết hợp, phương thức canh tác trên đất dốc (SALT 1, SALT2, SALT 3…) Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các phương thức canh tác, các Dự án Lâm nghiệp của một số tổ chức quốc tế và các nhà khoa học.
3 Năm 1974, giáo sư John E Gunter [1] của trường đại học tổng hợp Michigan_Mỹ đã xuất bản tài liệu “ Những vấn đề cơ bản trong đánh giá đầu tư lâm nghiệp”. Trong đó tác giả đưa ra những cơ sở để đánh giá hiệu quả của trồng rừng. Đây là một giáo trình tương đối hoàn chỉnh đã hệ thống chỉ tiêu và cơ sở đánh giá hiệu quả từ đơn giản đến phức tạp, các chỉ tiêu này cho phép đánh giá hiệu quả kinh doanh rwufng trồng về mặt kinh tế và môi trường sinh thái. Năm 1979, tổ chức Nông lương trên thế giới (FAO) đã xuất bản tài liệu: “ Phân tích các dự án lâm nghiệp” do Hans M.Gregersen và Amolo H.Contresal biên soạn[1].
Đây là tài liệu khá đầy đủ và phù hợp với các điều kiện đánh giá hiệu quả các dự án lâm nghiệp ở các nước đang phát triển. Ở đây hiệu quả kinh tế được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả hiệu quả về mặt xã hội và môi trường sinh thái. Như vậy, vấn đề đánh giá hiệu quả kinh tế đã được quan tâm và phát triển từ rất sớm, cho tới nay thì nó đã gần như hoàn chỉnh và được phổ cập rộng rãi trên thế giới. Nhiều quốc gia đã và đang vận dụng trồng như: Philipin (1974) đã tiến hành đánh giá hiệu quả dự án được tính theo hai mặt: hiệu quả kinh tế tài chính và hiệu quả kinh tế.
Ở đây người ta mới chỉ quan tâm đánh giá hiệu quả kinh doanh về tài chính của các hộ gia đình, còn hiệu quả xã hội môi trường sinh thái thì chưa được quan tâm đánh giá đầy đủ. Năm 1994, Walifed Raquel Rola đã đưa ra một mô phỏng về tác động của phương thức canh tác. Theo mô phỏng này, hiệu quả được đánh giá theo quan điểm tổng hợp trên nguyên lý cơ bản là sử dụng phương pháp nhân tích đa diện Nijikam (1987). Tháng 10 năm 1997, đại hội Nông lâm thế giới đã tổ chức tại Antdya (Turkey) với chủ đề chính là : “Lâm nghiệp phục vụ cho sự phát triển bền vững”.
Qua việc đó tổng hợp sơ bộ một số công trình nghiên cứu, đánh giá hiệu quả tổng hợp các mô hình canh tác cho thấy hầu hết các công trình tập trung vào 4 đánh giá hiệu quả kinh tế còn ít quan tâm đến hiệu quả xã hộ và ảnh hưởng của môi trường. HansM – Gregersen và AmldoH.Contresal ( 1997 )[8], trong cuốn “Phân tích kinh tế Dự án trong Lâm nghiệp” đã đưa ra các phương án tính hiệu quả kinh tế rừng trồng với các nội dung cơ bản về lãi suất, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế. Như vậy, việc đánh giá là việc làm không thể thiếu trong kinh doanh rừng trồng. Những nghiên cứu ở Việt Nam Trồng rừng ở Việt Nam bắt đầu từ thời Pháp thuộc, tuy nhiên diện tích rừng trồng còn rất hạn chế.
Nhiều thập kỷ trôi qua, chúng ta đi vào kinh doanh rừng trồng trên diện tích rộng và phổ biến nhiều phương thức canh tác và loài cây trồng khác nhau. Hiệu quả kinh tế của mô hình rừng trồng là mục tiêu được các đơn vị kinh doanh quan tâm rất nhiều từ trước tới nay, dưới đây là những công trình tiêu biểu: Năm 1989, trong chương trình hợp tác Lâm nghiệp giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Thụy Điển, cố vấn kinh tế Heine Krekula đã soạn thảo một chương trình đánh giá hiệu quả kinh tế trồng rừng nguyên liệu giấy, tài liệu này được giảng dạy sau các năm đó. Năm 1990, cố vấn trường lâm sinh Per H.Stahl cùng với cố vấn kinh tế Heine Krekula đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế cho hoạt động kinh doanh trồng rừng Bạch đàn nguyên liệu giấy. Ngoài các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế, bước đầu các tác giả cũng đã đề cập đến một số hiệu quả gián tiếp về môi trường sinh thái.
Năm 1994 Đặng Duy Thuấn, Trương Quang Hải và đồng sự đã thực hiện công trình: “ Nghiên cứu và đề xuất mô hình phát triển kinh tế - môi trường tại 1 số vùng sinh thái điển hình”. Đề tài tiến hành nghiên cứu vấn đề này khá tỉ mỉ, trên cả ba mặt kinh tế - xã hội – môi trường. 5 Năm 1995, Nguyễn Hải Tuất đã nghiên cứu và ứng dụng phương pháp hệ số đường ảnh hưởng đề đánh giá hiệu quả tổng hợp. hiệu quả kinh tế, sinh thái của một số mô hình canh tác, đã mở ra con đường mới cho việc đánh giá hiệu quả tổng hợp của các mô hình rừng trồng.
Tiếp theo đó Nguyễn Thị Thanh An, Cao Danh Thịnh và một loạt tác giả khác cũng đã sử dụng phương pháp này để đánh giá hiệu quả tổng hợp của các mô hình rừng trồng. Các tác giả như: Trần Hữu Dào (1995) đã đánh giá hiệu quả kinh doanh trồng quế của các hộ gia đình tại Văn Yên – Yên Bái. Trần Thế Liêm đã đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường của các mô hình của các xã lân cận đập thủy điện Hòa Bình. Vương Văn Quỳnh đã nghiên cứu hiệu quả kinh tế - môi trường của một số mô hình canh tác rừng của người Dao ở Tuyên Quang.
Nghiên cứu và đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội của việc trồng Keo lai làm nguyên liệu giấy ở Đăk Lăk và Đăk Nông, Đăng Văn Dung (2008) cho thấy lượng tăng trưởng bình quân đạt 21,39 – 30,77 /ha/năm. Sau 6 năm trữ lượng Keo lai đạt bình quân từ 128,36 – 184,66 /năm, cho lợi nhuận từ 14. Từ những năm 1990 trở lại đây cũng đã có nhiều đề tài đề cập đến việc đánh giá hiệu quả trồng rừng.