ĐẶT VẤN ĐỀ Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, rừng có vai trò đặc biệt quan trọng không gì thay thế đƣợc trong việc đáp ứng các nhu cầu của con ngƣời. Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, bởi những lợi ích mà rừng đem lại cho con ngƣời rất lớn, không những đem lại hiệu quả về mặt kinh tế thông qua việc cung cấp gỗ và lâm sản ngoài gỗ, mà rừng còn có tác dụng phòng hộ, bảo vệ đất chống sói mòn, điều tiết nƣớc trong hoạt động sản xuất, duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trƣờng trong sạch hơn. Bên cạnh đó rừng còn là nơi tham quan, du lịch giảỉ trí và nghiên cứu khoa học. Trong những năm gần đây, cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội đã làm cho đời sống của ngƣời dân ngày một đƣợc nâng cao, chất lƣợng cuộc sống ngày càng đƣợc cải thiện.
Tuy nhiên, kéo theo đó chất lƣợng môi trƣờng cũng đang ngày một suy giảm nghiêm trọng. Đặc biệt là rừng tự nhiên đã và đang bị suy giảm nhanh chóng cả về số lƣợng cũng nhƣ về chất lƣợng. Trƣớc thực trạng đó, các địa phƣơng ở nƣớc ta đã quan tâm và đẩy mạnh kinh doanh trồng rừng góp phần xóa đói giảm nghèo, làm thay đổi bộ mặt nông thông mới. Trong đó việc trồng các loài cây mọc nhanh, có năng suất cao góp phần tăng nhanh độ che phủ đất trống đồi núi trọc ngày càng đƣợc chú trọng nghiên cứu, đáp ứng yêu cầu về gỗ, giải quyết việc làm cho cộng đồng dân cƣ, nâng cao nhận thức cho ngƣời dân nhất là đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa đang là một trong những mục tiêu cơ bản mà nƣớc ta đang hƣớng tới.22 ha) là một xã của huyện Sơn Dƣơng, tỉnh Tuyên Quang.
Là một xã nằm tiếp giáp với xã Vụ Quang, huyện Đoan Hùng Tỉnh Phú Thọ. Do tiếp giáp với sông Lô nên mƣa gió ở nơi đây ôn hòa đã tạo điều kiên tự nhiên thuận lợi cho hoạt động nông nghiệp (791,1 ha). Chính vì nông nghiệp phát triển mà các hoạt động lâm nghiệp chƣa đƣợc ngƣời dân chú 1 trọng đầu tƣ. Xã Hồng Lạc với điều kiên dân trí chƣa cao, kinh tế chƣa ổn định nên việc xây dựng dự án hỗ trợ trồng rừng là cần thiết để tạo ra công ăn việc làm cho ngƣời dân, phát huy tiềm năng của đất tạo nên của cải cho xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Để có thể đi đến mục thoát nghèo từ nghề trồng rừng thì công tác chọn loại cây phù hợp là không thể thiếu. Các mô hình trồng rừng phải thực sự mang lại hiệu quả kinh tế, môi trƣờng cao, đồng thời phù hợp với nhu cầu của ngƣời dân. Chính vì nhu cầu nhu cầu thực tiễn nên tôi tiến hành thực hiện khóa luân này. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên Thế Giới Trên thế giới, việc nghiên cứu đánh giá hiệu đã đƣợc chú ý từ những năm 1960. Vấn đề này đƣợc quan tâm nhằm đảm bảo an toàn lƣơng thực, đồng thời bảo vệ môi trƣờng sinh thái thông qua ngăn chặn nạn phá rừng. Nhiều phƣơng thức canh tác ra đời nhằm sử dụng rừng và đất rừng có hiệu quả nhƣ: Nông lâm kết hợp, Phƣơng thức canh tác trên đất dốc (SATL 1, SATL 2, …). Vào những năm 1970 - 1980 ở những nƣớc đang phát triển nhƣ Thái lan, Singapore, Philippines và nhiều tổ chức quốc tế khác cũng dành những quan tâm thích đáng đến đánh giá tác động môi trƣờng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh (dẫn theo Đoàn Thị Mai, 1997).
Gunter trƣờng đại học tổng hợp thuộc bang Michigan - Mỹ đã xuất bản giáo trình: “Những vấn đề cơ bản trong đánh giá đầu tƣ lâm nghiệp”. Trong đó, chủ yếu tác giả đƣa ra các cơ sở để đánh giá hiệu quả rừng trồng nhƣ các công thức tính lãi, giá trị thu nhập trên chi phí, tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ,… Đây là một giáo trình tƣơng đối hoàn chỉnh để giới thiệu hệ thống chi tiêu và cơ sở để đánh giá hiệu quả từ đơn giản đến phức tạp, các chỉ tiêu cho phép đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng trồng về mặt kinh tế - xã hội và môi trƣờng, một số chỉ tiêu đơn giản đã và đang đƣợc vận dụng trong đánh giá hiệu quả kinh doanh (dẫn theo Trần Hữu Đào, 2001). Năm 1979, Tổ chức nông nghiệp và lƣơng thực thế giới (FAO) đã xuất bản giáo trình: “Phân tích các dự án lâm nghiệp”, do Hans - Maregersen và Amoldo H. Contresal biên soạn.
Tài liệu này đƣợc FAO dùng để giảng dạy tại các nƣớc có đầu tƣ dự án trồng rừng và phát triển lâm nghiệp. Giáo trình đã đề cập đến các nội dung sau: Tiếp cận các phân tích dự án lâm nghiệp, Phƣơng pháp xác định chi phí đầu tƣ vào dự án, Phƣơng pháp đánh giá hiệu quả của dự án. Đây là một tài liệu tƣơng đối đầy đủ và phù hợp với điều kiện đánh giá hiệu quả của dự án lâm nghiệp của nhiều nƣớc trên thế giới. Hiệu 3 quả của dự án thể hiện trên hai mặt: Phân tích tài chính là sự đánh giá, mô tả tính sinh lời thƣơng mại tự động của dự án.
Phân tích kinh tế và phân tích xã hội thu đƣợc từ vốn đầu tƣ các nguồn lực cho dự án. Ở đây hiệu quả kinh tế đƣợc hiểu theo nghĩa bao hàm cả hiệu quả về mặt xã hội và môi trƣờng (dẫn theo Trần Hữu Đào, 2001). Với quan điểm phát triển bền vững và ổn định rừng trồng kinh tế, giải pháp đƣa ra ngoài mục tiêu chủ yếu là hiệu quả về mặt kinh tế còn phải đáp ứng đƣợc cả yêu cầu về mặt môi trƣờng, xã hội. Chính vì vậy, bên cạnh việc đánh giá hiệu quả kinh tế thì đánh giá hiệu quả về môi trƣờng, xã hội là một yêu cầu tất yếu khách quan vì sự phát triển bền vững, giúp con ngƣời nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của môi trƣờng bên cạnh hiệu quả kinh tế mà con ngƣời nhận đƣợc, cho phép con ngƣời xác định đƣợc ngƣỡng tác động có thể vào môi trƣờng để vừa đảm bảo đƣợc nhu cầu cần thiết mà không ảnh hƣởng đến môi trƣờng.
Việc đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trƣờng hay chính là tác động của con ngƣời đến tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng đã hình thành và phát triển ở nhiều nƣớc trên thế giới. Đến những năm 1980, khái niệm về phát triển bền vững đã đƣợc nêu ra và đến nay khái niệm này đã trở nên phổ biến. Phát triển bền vững có thể hiểu là một sự phát triển mà việc thỏa mãn những yêu cầu hiện không làm ảnh hƣởng đến việc đáp ứng các yêu cầu của tƣơng lai. Điều đó có nghĩa là sự phát triển kinh tế - xã hội để đáp ứng nhu cầu của con ngƣời trong hiện tại phải đảm bảo duy trì và phát triển các nguồn tài nguyên và môi trƣờng cho các thế hệ mai sau.
Mọi hoạt động của con ngƣời đều nhằm đạt đƣợc hiệu quả kinh tế cao nhất đƣợc ngƣời dân đồng tình và tham gia tích cực, hiệu quả đồng thời các hoạt động này phải đảm bảo không làm tổn hại đến môi trƣờng (dẫn theo Nông Phƣơng Nhung, 2005). Từ những khái niệm và quan điểm trên có thể hiểu về phát triển bền vũng một các đơn giản là: “Phát triển bền vững sự phát triển toàn diện và tổng hợp về các mặt kinh tế - xã hội và mô trƣờng trong hiện tại và tƣơng lai”. 4 Năm 1992, hội nghị quốc tế về môi trƣờng ở Rio - Dejanerio đã đi tới tiếng nói chung: Phải kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trƣờng, hƣớng tới phát triển bền vững phạm vi quốc gia và trên thế giới”. Cũng vào năm này, R.Rhoadr đã vận dụng phƣơng pháp PRA để xây dựng phƣơng pháp “từ nông dân đến nông dân”, phƣơng pháp này đã có nhiều ƣu điểm.
Các thông tin đƣợc kiểm tra chéo nhiều lần qua đánh giá của ngƣời dân. Vì vậy, hiệu quả trong đánh giá tƣơng đối chính xác. Hiện nay phƣơng pháp này đang đƣợc sử dụng để điều tra đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trƣờng ở nhiều nƣớc trên thế giới. Năm 1994, Walifrad Raqued Rola đã đƣa ra mô phỏng về các phƣơng thức canh tác.
Theo mô phỏng này hiệu quả đƣợc đánh giá theo quan điểm tổng hợp. Các ảnh hƣởng tác động trên các mặt của một phƣơng thức canh tác đƣợc tóm tắt theo sơ đồ sau: Phƣơng thức canh tác Tác động về kinh tế Tác động về xã hôi Tác động về sinh thái - Chi phí - Việc làm - Xói mòn đất - Thu nhập - Nhận thức - Độ phì của đất - Sản xuất - Tiếp thu kỹ - Độ ẩm của đất - Thị trƣờng - Nhu cầu cuộc sống - Độ tàn che Tăng trƣởng kinh tế Phát triển xã hội Cân bằng sinh thái Ổn định và phát triển toàn diện kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trƣờng sinh thái Sơ đồ 1. Sơ đồ tác động của phƣơng thức canh tác (mô phỏng theo sơ đồ của W. 5 Từ sơ đồ trên cho thấy: Hiệu quả của một phƣơng thức canh tác đƣợc nghiên cứu đánh giá trên cả ba mặt: Kinh tế - xã hội và môi trƣờng sinh thái.
Tất cả các ảnh hƣởng, tác động đó đều nhằm mục tiêu cuối cùng là ổn định và phát triển toàn diện kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Nhƣ vậy, đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng trồng về mặt phƣơng pháp luận, cho tới nay đã tƣơng đối hoàn chỉnh và ngày càng đƣợc phổ cập rộng rãi trên thế giới. Nhiều quốc gia đã và đang vận dụng các phƣơng pháp kỹ thuật trên đây trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng trồng nhƣ: Philippines (1974) đã tiến hành đánh giá hiệu quả dự án trồng rừng nguyên liệu giấy của các hộ gia đình cho loài cây mọc nhanh Albizzia Balcataria, thuộc công ty công nghiệp giấy Philippines. Hiệu quả của dự án đƣợc đánh giá theo hai mặt: Hiệu quả của dự án đƣợc đánh giá theo hai mặt là hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế.
Ở đây ngƣời ta mới chỉ quan tâm đánh giá hiệu quả kinh doanh về mặt tài chính của các hộ gia đình, còn hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trƣờng sinh thái chƣa đƣợc quan tâm đánh giá đầy đủ. Nhƣ vậy trên thế giới việc đánh giá hiệu quả các mô hình rừng trồng đã đƣợc chú ý rất nhiều và phổ cập rộng rãi và nhiều quốc gia vận dụng.