CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT CỦA NGÀNH THỦY SẢN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1 Những vấn đề chung về hiệu quả tài chính của công ty niêm yết 1.1 Khái niệm về CTCP niêm yết Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số tối đa; cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty niêm yết là công ty có chứng khoán được niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung sau khi đáp ứng đủ các tiêu chuẩn niêm yết. Ở Việt Nam, theo Điều 8, nghị định số 14/2007/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật chứng khán và Nghị định số 84/2010/NĐ-CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2007/NĐ-CP, điều kiện niêm yết cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh như sau: a) Là CTCP có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 80 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán. Căn cứ vào tình hình phát triển thị trường, mức vốn có thể được Bộ Tài chính điều chỉnh tăng hoặc giảm trong phạm vi tối đa 30% sau khi xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ; b) Hoạt động kinh doanh hai năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi và không có lỗ luỹ kế tính đến năm đăng ký niêm yết; c) Không có các khoản nợ quá hạn chưa được dự phòng theo quy định của pháp luật; công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng, cổ đông lớn và những người có liên quan; d) Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắm giữ; đ) Cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng của công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 -2- tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ; e) Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ 1.2 Khái niệm về hiệu quả tài chính của công ty niêm yết Khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì các doanh nghiệp đều phải quan tâm đến vấn đề tài chính.
Doanh nghiệp quản lý tài chính hiệu quả thì quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mới diễn ra liên tục, doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển. Hiệu quả tài chính hay còn gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một doanh nghiệp. Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế. Để đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, ROE vẫn là một trong các chỉ số tốt nhất.
ROE là viết tắt của cụm từ tiếng Anh: return on equity, có nghĩa là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. ROE được tính bằng cách lấy lãi ròng sau thuế chia cho tổng giá trị vốn chủ sở hữu dựa vào bảng cân đối tài sản cuối kỳ. Tỷ số này thể hiện được mức sinh lời trên 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ ra. Đây cũng là một chỉ số đáng tin cậy về khả năng sinh lời trong tương lai của một công ty.
ROE thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào. Thông thường, ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Đây là một chỉ tiêu hiệu quả tài chính không chỉ quan trọng với chính những người quản trị công ty mà còn quan trọng đối với nhà đầu tư. Vì vậy, tác giả sử dụng chỉ tiêu ROE để đánh giá hiệu quả tài chính của các Công ty niêm yết của ngành thủy sản .3 Tầm quan trọng của việc đánh giá hiệu quả tài chính của công ty niêm yết Đánh giá hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết không chỉ quan trọng đối với người quản lý mà còn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư, để thấy được hiệu quả kinh doanh của công ty, những điểm mạnh, yếu của công ty.
Từ đó, -3- các nhà quản lý sẽ có những điều chỉnh kịp thời, phù hợp để hoạt động kinh doanh được hiệu quả hơn. Đối với nhà đầu tư thì dựa vào việc đánh giá hiệu quả tài chính này để ra quyết định có nên đầu tư vào công ty đó hay không. Đánh giá hiệu quả tài chính để biết được sức khỏe của từng công ty niêm yết, tạo cơ sở để các nhà quản lý vĩ mô, các cơ quan nhà nước sẽ có những chấn chỉnh kịp thời để hỗ trợ cho các công ty trong điều kiện công ty đó hoạt động không hiệu quả, nhằm tránh trường hợp doanh nghiệp bị thua lỗ dẫn đến phá sản, ảnh hưởng dây chuyền gây trì trệ đối với nền kinh tế.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính các công ty niêm yết của ngành thủy sản Việc đánh giá hiệu quả tài chính của một công ty niêm yết cũng tương tự như các doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, do đặc điểm là các công ty có chứng khoán được niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung và các chứng khoán này được mua bán tự do trên thị trường nên các doanh nghiệp niêm yết luôn chịu sức ép rất lớn trong việc đạt được chỉ tiêu lợi nhuận kế hoạch để giữ giá cổ phiếu, tránh sức ép của cổ đông và thu hút thêm nhiều cổ đông để tăng nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh.
Với các nhà đầu tư, đối với các công ty niêm yết thì ngoài việc đánh giá các chỉ tiêu tài chính như đối với các doanh nghiệp thông thường thì các chỉ tiêu về tỷ số giá thị trường (EPS, P/E, P/B) cũng được đánh giá kỹ lưỡng để giúp nhà đầu tư lựa chọn được những cổ phiếu tốt, an toàn. Trong phạm vi của luận văn, tác giả phân tích các chỉ tiêu tài chính thông thường và chỉ tiêu EPS để đánh giá hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết của ngành thủy sản vì trong các chỉ tiêu về tỷ số giá thị trường thì EPS thể hiện được khả năng tạo lợi nhuận của doanh nghiệp và khi kết hợp đánh giá với các chỉ tiêu tài chính thông thường thì các nhà đầu tư cũng như nhà quản lý có thể đánh giá tổng thể hiệu quả tài chính của một công ty niêm yết. Việc đánh giá hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết ngành thủy sản cũng giống như với những doanh nghiệp niêm yết khác. Điểm khác biệt là do ảnh hưởng của yếu tố ngành nghề nên từng chỉ tiêu đánh giá sẽ có mức trung bình ngành yêu cầu khác biệt so với những ngành nghề khác.
Các công ty ngành thủy sản có một số đặc điểm cơ bản sau: -4- + Trong ngành thủy sản, nguồn nguyên liệu đầu vào (tôm, cá tra, basa, cá ngừ, cua, nghêu,…) rất quan trọng, những mặt hàng này được nuôi trồng trong tự nhiên nên lệ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. + Thị trường tiêu thụ chính của công ty trong ngành là xuất khẩu sang các nước EU, Mỹ, Nhật…nên giá cả phụ thuộc nhiều vào thị trường xuất khẩu. + Các sản phẩm thủy sản được xuất khẩu vào các thị trường rất khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa (EU, Mỹ, Nhật…) nên đòi hỏi công nghệ máy móc thiết bị hiện đại và đảm bảo chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của các thị trường nhập khẩu. + Đặc thù của ngành thuỷ sản là bán hàng trả chậm nên các khoản phải thu chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản.
Kế tiếp là khoản mục hàng tồn kho do tính thời vụ của ngành, các doanh nghiệp thường phải dự trữ nguồn nguyên liệu đầu vào để chủ động cho việc chế biến. + Chính vì vốn lưu động chậm luân chuyển do khoản mục khoản phải thu và hàng tồn kho cao nên các doanh nghiệp này đa số huy động vốn lưu động từ các ngân hàng, chính vì thế và hệ số nợ của các công ty trong ngành khá cao. + Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi phí của các công ty ngành thủy sản (80% - 90%). Ngoài ra, do hầu hết các công ty đều sử dụng nợ vay cao nên chi phí lãi vay khá lớn, thường chiếm khoảng 3% - 4% doanh thu thuần.
Lợi nhuận ròng của ngành đạt khoảng 5% doanh thu. + Ngoài ra, các công ty ngành thủy sản có ROE cao chủ yếu là do sử dụng nợ vay cao. Đặc trưng của ngành đòi hỏi vốn lưu động lớn trong khi nguồn vốn của các doanh nghiệp còn hạn chế nên hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng vốn vay ngắn hạn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh.1 Chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, phản ánh mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ. Theo từ điển quản lý tài chính ngân hàng, khả năng thanh toán là khả năng của một tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền.
Thông số khả năng thanh toán đo lường khả năng của doanh nghiệp trong việc sử dụng các tài sản nhanh chuyển -5- hóa thành tiền để đối phó các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn. Với ý nghĩa đó, ta so sánh các nghĩa vụ nợ ngắn hạn với các nguồn lực ngắn hạn đang sẵn sàng cho việc đáp ứng các nghĩa vụ này.