ĐẶT VẤN ĐỀ Thoái hoá thực chất là sự già đi của cơ thể con người, đây là một quá trình tự nhiên trong chu trình sinh, lão, bệnh, tử của con người. Càng lớn tuổi, quá trình thoái hoá diễn ra càng nhiều và càng nhanh [42]. Thoái hoá cột sống cổ là một bệnh thường gặp ở người trung, cao tuổi. Tổn thương thoái hoá của sụn khớp gây ra do quá trình sinh tổng hợp chất cơ bản (proteoglycan) bởi các tế bào sụn có sự bất thường.
Đặc trưng của bệnh là quá trình mất sụn khớp của lớp tế bào dưới sụn, tổ chức xương cạnh khớp được tạo mới [7]. Ở thoái hoá cột sống, có sự kết hợp giữa 2 loại tổn thương mang tính định khu đó là thoái hoá đĩa đệm và thoái hoá mỏm liên sau [4], [42]. Nguyên nhân chính là do quá trình thoái hoá và tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài của sụn khớp và đĩa đệm. Biểu hiện lâm sàng của thoái hóa cột sống cổ rất đa dạng và phức tạp.
Đau là một trong những triệu chứng thường xuyên và phổ biến nhất. Đau không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống, chức năng sinh hoạt của người bệnh mà còn ảnh hưởng đến kinh tế, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Mặt khác nếu không được chẩn đoán và điều trị đúng đắn bệnh sẽ tiến triển thành từng đợt nặng dần, có thể dẫn đến chèn ép rễ, tuỷ, gây đau hoặc tàn phế. Vì vậy, thoái hóa cột sống cổ ngày càng trở thành vấn đề quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, là mối quan tâm của nhiều chuyên ngành như nội, thần kinh, phẫu thuật, phục hồi chức năng, chẩn đoán hình ảnh.
Tại Mỹ, hàng năm thoái hóa cột sống cổ tiêu tốn tới 40 tỷ USD, những người trên 55 tuổi có dấu hiệu thoái hóa khớp trên X quang chiếm 80%, trong khi những người từ 15 - 24 tuổi chỉ là 10%, chỉ tính riêng thoái hóa cột sống cổ ở những bệnh nhân đến điều trị tại bệnh viện có khoảng 151. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 http://www.vn 2 Tại Pháp, cũng chi tới 6 tỷ france cho những bệnh nhân thoái hoá [52]. Theo tài liệu của Reuter Health, ở châu Âu, đau mạn tính tiêu tới 34 tỷ Euro mỗi năm, trong đó đau do viêm khớp và thoái hoá khớp chiếm 34% bệnh nhân. Ở Việt Nam, đến nay tuy chưa có thống kê cụ thể về chi phí điều trị cho những bệnh nhân có thoái hoá nhưng đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về điều trị thoái hóa cột sống cổ bằng các phương pháp khác nhau.
Theo y học hiện đại, có thể dùng thuốc chống viêm giảm đau toàn thân hoặc kết hợp giữa vật lý trị liệu và châm cứu, kết hợp giữa vật lý trị liệu và thuốc hoặc chỉ dùng các phương pháp vật lý trị liệu. Tại Thái Nguyên, chưa có đề tài nghiên cứu nào về kéo giãn cột sống cổ ở bệnh nhân thoái hoá cột sống cổ. Bệnh viện Điều dưỡng và Phục hồi chức năng Thái Nguyên đã điều trị thoái hoá cột sống cổ bằng phương pháp kéo giãn cột sống cổ trên máy TM 300 từ năm 2003 nhưng chưa có nghiên cứu nào đánh giá kết quả điều trị sau khi kéo giãn. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm 2 mục tiêu: 1.
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng thoái hoá cột sống cổ. Đánh giá kết quả điều trị thoái hoá cột sống cổ bằng phƣơng pháp kéo giãn cột sống cổ trên máy TM 300. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 http://www.vn 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý cột sống cổ 1.
Đặc điểm giải phẫu 1. Xương cột sống Cột sống cổ có 7 đốt, từ C I đến CVII, có đường cong ưỡn ra trước, đốt C I (đốt đội) không có thân đốt, đốt CVII có mỏm gai dài nhất sờ thấy rõ, lồi ngay dưới da nhất là khi ta cúi cổ, nên được dùng để làm mốc xác định các đốt sống cổ [8], [31]. Đặc điểm của xương cột sống: - Thân đốt sống: đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau, mặt bên có hai phình bên gọi là mỏm móc hay mấu bán nguyệt. Mặt dưới có hai mỏm bên ứng với phần bên của đốt sống dưới, phần trước dầy hơn phần sau.
- Cuống: tròn và dầy, dính ở phần sau mặt bên thân đốt sống. - Mảnh: rộng bề ngang hơn bề cao. - Mỏm ngang: dính vào thân và hai cuống bởi hai rễ, trong đó lỗ ngang cho động mạch đốt sống đi qua (trừ đốt C VII). Đỉnh của mỏm ngang tách làm hai củ: củ trước và củ sau.
- Mỏm khớp: diện khớp phẳng rộng, diện của mỏm trên nhìn lên trên, ra sau, diện của mỏm dưới nhìn xuống dưới, ra trước. - Gai sống: đỉnh của gai sống tách ra làm hai củ, gai sống dài dần từ C II đến CVII. - Lỗ đốt sống: to dần từ đốt C I đến CV và nhỏ dần ở đốt CVI đến CVII. Khi khớp gian đốt sống bị thoái hoá, các gai xương thường làm hẹp lỗ gian đốt sống và chèn ép vào rễ thần kinh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 http://www.vn 4 - Đốt sống cổ 1 (đốt đội): tiếp khớp ở mặt trên với hai lồi cầu xương chẩm, không có gai và thân đốt. Mặt trước của cung trước có mỏm trước cho dây chằng bám, mặt sau của cung trước có diện khớp tiếp khớp với mỏm răng của đốt CII. Lỗ đốt sống rộng, có dây chằng ngang chia lỗ thành hai phần không đều nhau (phần trước nhỏ có mỏm răng, phần sau rộng có tuỷ cổ). Mặt khối bên của đốt trục - đội khuynh hướng xuống dưới, cho phép gấp duỗi trong mặt phẳng trước - sau và hạn chế chuyển động xoay bên.
Mặt dưới của đốt CI cong lõm, tiếp giáp với lồi cầu trên của đốt trục, cho phép quay quanh trục của dạng răng. - Đốt sống cổ 2 (đốt trục): không có thân đốt trung tâm, có hai khối bên chứa cạnh trên và cạnh dưới. Các mỏm bên được tiếp nối bởi cung trước và cung sau (cung trước hình thành một thân, phía trên thân tạo thành mỏm răng, phần thân khớp với thân trung tâm của đốt C III). Khối bên khớp với thân bên của đốt đội trên, mặt dưới khớp với đốt C III.
Giữa các đốt CI và CII không có đĩa đệm gian đốt sống mà chủ yếu là các bao sợi collagen. - Các đốt sống cổ từ C III đến CVII: cũng có những đặc điểm chung của đốt sống cổ (chiều ngang phía trước lớn hơn phía sau, thân đốt có chiều ngang lớn hơn chiều trước - sau). Mỏm ngang giới hạn hai bên của thân đốt sống, chúng được coi như các phát triển xương sườn, giới hạn trong của mỗi mỏm ngang là một lỗ có động mạch đốt sống đi qua. Ngành ngang chứa lỗ mà trong đó thần kinh sống đi qua, lỗ này ở phía trước bên.
- Các đốt sống cổ kể từ C II trở xuống liên kết với nhau bởi 3 khớp: + Khớp đĩa đệm gian đốt: đĩa đệm gian đốt luôn phải chịu áp lực tải trọng lớn, với đoạn cổ dưới khoảng 5,6 kg/cm2 ở tư thế bình thường, và có thể lên tới 40 kg/cm2 nếu không có trương lực cơ. Khi có sự cố định lâu trong một tư thế (do nghề nghiệp) hoặc do áp lực lệch trọng tải, sẽ dễ dẫn đến thoái hóa đĩa đệm và hình thành các gai xương ở các đĩa đệm cổ thấp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 http://www.vn 5 + Khớp sống - sống (còn gọi là khớp mấu lồi đốt sống, khớp nhỏ): tạo nên bởi các mấu sống trên và mấu sống dưới của hai thân đốt kế cận và được nhận biết trên phim chụp tư thế nghiêng. Khớp này có diện khớp thực thụ, có bao hoạt dịch, có chất synovial bôi trơn trong khớp.
+ Khớp bán nguyệt (còn có các tên gọi khác như: khớp mấu móc cột sống, khớp vô danh, khớp gian đốt sống, khớp bên trong thân đốt sống, khớp Luschka), chỉ duy nhất ở cột sống cổ mới có. Mỗi thân đốt sống có 2 mấu bán nguyệt ở góc trên ngoài, hợp với 2 góc dưới ngoài của thân đốt trên để tạo nên 2 khớp bán nguyệt ở mỗi khe gian đốt. Khớp này có liên quan đến cử động quay cổ, không có tổ chức sụn ở diện khớp, không có dịch khớp nên nó là khớp giả, nó rất yếu và rất dễ bị tổn thương và bị thoái hóa. Mấu bán nguyệt bình thường có hình gai hoa hồng dễ nhận biết trên phim X quang tư thế thẳng.
Khi khớp bán nguyệt bị thoái hóa dễ chèn ép vào động mạch đốt sống thân nền. C¸c ®èt sèng cæ trªn ghÐp l¹i [21] - Lỗ tiếp hợp (còn gọi là lỗ ghép): thành trong của lỗ tiếp hợp hình thành bởi phía ngoài là thân đốt sống và khớp Luschka. Khớp mấu lồi đốt sống hình thành bởi diện khớp mấu lồi đốt sống trên và diện khớp mấu lồi đốt sống dưới, khớp được bao bọc bởi bao khớp ở phía ngoài. Dây thần kinh hỗn hợp chạy dọc theo lỗ tiếp hợp và tách ra thành 2 phần cảm giác và vận động riêng biệt.
Phần vận động còn gọi là rễ trước tiếp xúc với khớp Luschka, rễ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 http://www.vn 6 sau nằm ở phía bên trong mỏm khớp và bao khớp. Rễ thần kinh bình thường chỉ chiếm khoảng 1/4 - 1/5 lỗ tiếp hợp. Đĩa đệm Đĩa đệm là bộ phận chính cùng với các dây chằng đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các thân đốt sống và đóng vai trò hấp thu chấn động. - Cấu tạo: đĩa đệm được cấu tạo bởi 3 thành phần là nhân nhầy, vòng sợi và mâm sụn.
- Chiều cao của đĩa đệm ở người trưởng thành bình thường khoảng 3mm. Dây chằng - Dây chằng dọc trước bám ở mặt trước các đốt ống và đĩa đệm. - Dây chằng dọc sau bám vào mặt sau thân đốt (trong ống sống) và đĩa đệm. - Ngoài ra còn các dây chằng vàng, dây chằng liên gai, dây chằng trên gai.
Mạch máu, thần kinh - Từ đốt CVI đến CII có động mạch đốt sống thân nền chạy trong lỗ động mạch ở giữa mỏm ngang của mỗi đốt và ngay bên cạnh mỏm móc, kèm theo động mạch có tĩnh mạch và một số nhánh thần kinh giao cảm cổ. Khi mỏm móc bị thoái hoá các gai xương của nó thường đè vào động mạch đốt sống.