Tổng quan nghiên cứu

Theo số liệu thống kê kinh tế - xã hội, huyện Phổ Yên thuộc tỉnh Thái Nguyên có diện tích tự nhiên 257 km² với quy mô dân số 137.198 người, trong đó tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo toàn huyện chiếm tới 26,8%. Sự chênh lệch về mức sống và điều kiện phát triển giữa các vùng nông thôn trung du miền núi đã đặt ra nhiều thách thức gay gắt cho an sinh xã hội. Tại xã Phúc Thuận – một địa bàn miền núi có diện tích 52,55 km² gồm 29 xóm – khảo sát ban đầu năm 2011 ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại xóm Phúc Tài là 19,5% (tương đương 42 hộ) và xóm Tân Ấp 2 là 8,1% (tương đương 13 hộ). Đặc biệt, kết quả điều tra đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) cho thấy tỷ lệ hộ thực tế gặp khó khăn kinh tế tại xóm Phúc Tài lên tới 23% (khoảng 50 hộ) và tại xóm Tân Ấp 2 là 12,5% (khoảng 20 hộ). Cơ sở hạ tầng tại đây vô cùng thiếu thốn khi 60% đến 80% đường giao thông là đường đất lầy lội, hệ thống mương tưới tiêu hư hỏng và cả hai xóm đều thiếu nhà văn hóa sinh hoạt cộng đồng. Đáng lưu ý, có tới 93,7% người dân chưa từng biết đến Pháp lệnh Thực hiện Dân chủ ở xã, phường, thị trấn số 34/2007/PL-UBTVQH11, dẫn đến việc người dân bị gạt ra ngoài lề các tiến trình ra quyết định ở địa phương.

Trước thực trạng đó, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiếu, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Trung Hải tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (2015), tập trung thực hiện đề tài: "Đánh giá hiệu quả mô hình Quản lý cộng đồng của Trung tâm Hỗ trợ Phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em (DWC) tại xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên". Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện tác động của mô hình Quản lý cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách của địa phương, từ giảm nghèo, phát triển hạ tầng đến nâng cao năng lực tự quản và thúc đẩy dân chủ cơ sở. Nghiên cứu được triển khai trong phạm vi không gian tại 02 xóm Phúc Tài và Tân Ấp 2, theo dõi tiến trình dự án kéo dài 3 năm từ tháng 4 năm 2011 đến tháng 3 năm 2014 do tổ chức Bánh mỳ cho Thế giới (BfdW) và Misereor (Cộng hòa Liên bang Đức) tài trợ. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn to lớn, khẳng định phương pháp can thiệp phát triển cộng đồng có sự tham gia là công cụ đột phá giúp tối ưu hóa nguồn lực, cải thiện điều kiện sống và thúc đẩy tiến trình xây dựng nông thôn mới bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý luận đa tầng với 4 lý thuyết cốt lõi của ngành Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng:

Thứ nhất, Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow chia nhu cầu con người thành 5 thang bậc từ thấp đến cao. Trong phát triển cộng đồng, lý thuyết này là công cụ giúp tác viên xã hội cùng người dân đánh giá nhu cầu ưu tiên, bảo đảm các nhu cầu sinh tồn cơ bản (đường giao thông, nước tưới tiêu sản xuất) và nhu cầu an toàn sinh kế được thỏa mãn trước khi tiến tới các nhu cầu tham gia xã hội và tự khẳng định.

Thứ hai, Thuyết trao quyền (Empowerment Theory) của Barbara Solomon, Julian Rappaport và Elisheva Sadan làm sáng tỏ tiến trình giúp cá nhân và cộng đồng yếu thế chuyển đổi từ trạng thái bất lực sang trạng thái chủ động kiểm soát cuộc sống. Trao quyền trong mô hình Quản lý cộng đồng bao gồm việc cung cấp thông tin, chuyển giao nguồn lực tài chính và xây dựng năng lực ra quyết định độc lập cho người dân.

Thứ ba, Thuyết thân chủ trọng tâm (Client-Centred Theory) của Carl Rogers xác lập nguyên tắc xem cộng đồng là nhân vật trung tâm của mọi tiến trình can thiệp. Người dân là người hiểu rõ nhất nan đề của mình, do đó tác viên cộng đồng chỉ đóng vai trò khơi gợi, điều phối và kết nối nguồn lực thay vì áp đặt giải pháp từ bên ngoài.

Thứ tư, Thuyết huy động nguồn lực (Resource Mobilization Theory) của John McCarthy, Mayer Zald và Charles Tilly phân tích các điều kiện để liên kết nội lực sẵn có trong nhân dân với ngoại lực từ các tổ chức tài trợ và chính quyền địa phương, dựa trên nguyên tắc gắn kết chặt chẽ lợi ích thiết thực của người tham gia.

Hệ thống lý thuyết trên được gắn kết thông qua 4 khái niệm nền tảng: Quản lý cộng đồng (tiến trình người dân trực tiếp lập kế hoạch, triển khai, giám sát và đánh giá dự án), Phát triển cộng đồng bền vững, Sự tham gia có ý nghĩa và Trao quyền xã hội, bám sát 8 nguyên tắc kinh điển trong thực hành công tác xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu gồm 100 đại diện hộ gia đình, chiếm 26,7% trên tổng số 375 hộ của 02 xóm nghiên cứu (xóm Phúc Tài có 215 hộ và xóm Tân Ấp 2 có 160 hộ). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm bảo đảm tính đại diện đầy đủ cho các nhóm đối tượng: nam giới, phụ nữ, hộ nghèo, hộ cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm từ 5% đến 7% dân số gồm dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu, Hoa) và các thành viên Nhóm nòng cốt.

Dữ liệu định lượng được thu thập thông qua phiếu hỏi chuẩn hóa gồm 45 câu hỏi đóng và mở. Tác giả trực tiếp phỏng vấn tại hộ gia đình với 100 phiếu phát ra và thu về 100 phiếu hợp lệ. Dữ liệu định tính được thu thập qua 03 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã Phúc Thuận, thành viên Nhóm nòng cốt/Nhóm cộng đồng tại 02 xóm, cùng đại diện Ban Giám đốc và cán bộ chuyên trách của Trung tâm DWC. Ngoài ra, tác giả kết hợp phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp (báo cáo kinh tế - xã hội, hồ sơ dự án) và phương pháp quan sát thực địa.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kết hợp định lượng và định tính là nhằm đo lường chính xác các chỉ số thay đổi về kinh tế, hạ tầng và dân chủ, đồng thời làm sáng tỏ các mối quan hệ xã hội phức tạp trong cộng đồng xuyên suốt giai đoạn 3 năm thực hiện dự án (2011 - 2014) và hoàn thiện tổng kết luận văn vào tháng 01 năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mô hình Quản lý cộng đồng mang lại hiệu quả rõ rệt trong công tác xóa đói giảm nghèo và nâng cao thu nhập. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại xóm Phúc Tài giảm từ 19,5% (42 hộ năm 2011) xuống còn 11,6% (25 hộ năm 2014); tại xóm Tân Ấp 2 giảm từ 8,1% (13 hộ năm 2011) xuống còn 5,6% (9 hộ năm 2014). Thông qua Quỹ sáng kiến cộng đồng (QSK) và các lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh chè, chăn nuôi gia súc, 100% số hộ tham gia khảo sát ghi nhận thu nhập gia đình tăng trưởng ổn định từ năm 2011 đến năm 2014.

Thứ hai, hạ tầng cơ sở và điều kiện phục vụ sản xuất có bước nhảy vọt toàn diện. Trước năm 2011, tỷ lệ đường giao thông nông thôn được bê tông hóa tại Phúc Tài chỉ đạt 40% (60% đường đất) và tại Tân Ấp 2 chỉ đạt 20% (80% đường đất). Sau khi áp dụng cơ chế tự quản, người dân hai xóm đã tự đóng góp ngày công và quản lý nguồn vốn để nâng tỷ lệ bê tông hóa đường làng ngõ xóm lên trên 85%. Bên cạnh đó, hệ thống mương nội đồng nhánh xương cá được kiên cố hóa hoàn toàn, giúp người nông dân tiết kiệm từ 3 đến 4 ngày công lao động nạo vét mỗi vụ canh tác, bảo đảm nguồn nước tưới tiêu đồng đều và nâng cao năng suất cây chè. Đồng thời, 02 nhà văn hóa xóm khang trang đã được xây dựng, tạo không gian hội họp và sinh hoạt văn hóa cho hơn 1.200 nhân khẩu.

Thứ ba, nhận thức pháp luật và năng lực tự quản dân chủ của người dân được nâng cao vượt bậc. Tỷ lệ người dân hiểu biết sâu sắc và thực hành các quyền dân chủ cơ sở theo Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11 tăng vọt từ mức 6,3% trước dự án lên hơn 90% sau can thiệp. Người dân đã trực tiếp bầu ra các Nhóm nòng cốt (NNC), tự chủ trì 100% các cuộc họp thôn để bình chọn ưu tiên công trình, kiểm tra báo cáo tài chính và nghiệm thu chất lượng tiểu dự án một cách công khai.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên sự chuyển biến tích cực tại xã Phúc Thuận là sự thay đổi triệt để phương thức tiếp cận: từ mô hình hỗ trợ áp đặt từ trên xuống (top-down) sang mô hình trao quyền tự quyết từ dưới lên (bottom-up). Khi người dân được đặt vào vị trí chủ thể quản lý và nắm giữ nguồn ngân sách tiểu dự án, tính tự giác và tinh thần trách nhiệm cộng đồng được giải phóng mạnh mẽ.

So với các dự án xây dựng hạ tầng thông thường do nhà thầu bên ngoài thực hiện, các công trình do cộng đồng tự quản lý tiết kiệm được từ 15% đến 20% tổng kinh phí đầu tư nhờ việc tận dụng tối đa ngày công lao động tự nguyện của người dân và cắt giảm các chi phí trung gian. Hơn nữa, chất lượng công trình được bảo đảm bền vững lâu dài do chính người hưởng lợi trực tiếp giám sát từng vật tư xây dựng.

Để minh chứng rõ ràng cho các luận điểm này, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua Biểu đồ cột biểu diễn biến động tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2011 - 2014 tại 02 xóm và Bảng tổng hợp đối chiếu tần suất tham gia họp thôn cũng như mức độ tự quản của người dân trước và sau khi triển khai mô hình.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm duy trì và nhân rộng hiệu quả của mô hình Quản lý cộng đồng, luận văn đưa ra 4 giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, thể chế hóa quy trình Quản lý cộng đồng vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Ủy ban nhân dân huyện Phổ Yên và Ủy ban nhân dân xã Phúc Thuận cần tích hợp quy trình tự quản 6 bước vào Chương trình Mục tiêu Quốc gia Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2015 - 2020, đặt mục tiêu phân cấp quản lý trực tiếp tối thiểu 80% các công trình dân sinh quy mô nhỏ cho Ban phát triển thôn xóm điều hành.

Thứ hai, chuẩn hóa chương trình tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở và Nhóm nòng cốt. Trung tâm DWC phối hợp cùng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện tổ chức định kỳ 4 khóa tập huấn chuyên sâu mỗi năm về phương pháp đánh giá có sự tham gia (PRA), kỹ năng thúc đẩy cộng đồng và quản lý tài chính minh bạch cho 100% cán bộ thôn, xã trong vòng 12 tháng.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế phân bổ và giám sát Quỹ sáng kiến cộng đồng. Các tổ chức phi chính phủ và nguồn vốn ngân sách xã cần duy trì hạn mức cấp vốn trực tiếp tối thiểu 30% kinh phí tiểu dự án cho các Nhóm nòng cốt tự quản, đồng thời thực hiện cơ chế công khai tài chính định kỳ 3 tháng một lần tại các buổi sinh hoạt nhà văn hóa thôn.

Thứ tư, thiết lập cơ chế vận hành, bảo trì công trình và bảo vệ môi trường bền vững. Ban quản lý thôn tại Phúc Tài và Tân Ấp 2 cần xây dựng hương ước tự quản hạ tầng giao thông - thủy lợi, đồng thời thành lập các tổ tự quản môi trường nhằm thu gom và xử lý an toàn 95% lượng rác thải nông nghiệp và bao bì thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn trong giai đoạn 2015 - 2017.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham chiếu thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Thứ nhất, học viên cao học, sinh viên và nghiên cứu sinh ngành Công tác xã hội, Xã hội học và Phát triển cộng đồng. Luận văn cung cấp nguồn tư liệu thực chứng chuẩn mực về tiến trình can thiệp cộng đồng vi mô và trung mô, giúp người học củng cố kỹ năng đánh giá nhu cầu và vận dụng lý thuyết vào thực địa.

Thứ hai, cán bộ quản lý và chuyên gia điều phối dự án tại các tổ chức phi chính phủ (NGOs) trong nước và quốc tế. Nghiên cứu mang đến bộ công cụ chi tiết về phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA), cách thức thành lập Nhóm nòng cốt và kỹ năng thúc đẩy bình đẳng giới trong quản lý nguồn vốn cộng đồng.

Thứ ba, cán bộ lãnh đạo và công chức chuyên trách tại Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện phụ trách lĩnh vực Nông nghiệp, Xóa đói giảm nghèo và Xây dựng Nông thôn mới. Luận văn gợi mở giải pháp cụ thể hóa Quy chế dân chủ cơ sở, giúp huy động hiệu quả nguồn lực đóng góp tự nguyện từ nhân dân.

Thứ tư, giảng viên đại học và các nhà hoạch định chính sách an sinh xã hội. Báo cáo là tài liệu tham khảo giá trị phục vụ công tác biên soạn bài giảng môn Phát triển cộng đồng và cung cấp căn cứ thực tiễn để hoàn thiện khung pháp lý về phân cấp quản lý dự án công cộng cho cấp cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình Quản lý cộng đồng có điểm gì khác biệt so với các dự án viện trợ truyền thống? Mô hình Quản lý cộng đồng chuyển hóa người dân từ đối tượng thụ hưởng thụ động thành chủ thể ra quyết định toàn diện. Thay vì giao khoán cho nhà thầu, 100% người dân tại Phúc Tài và Tân Ấp 2 trực tiếp tham gia từ khâu xác định nhu cầu, lập kế hoạch, quản lý ngân sách tiểu dự án đến trực tiếp thi công và giám sát công trình.

Dự án đã giải quyết bài toán khó khăn về hạ tầng giao thông tại xã Phúc Thuận như thế nào? Dự án đã nâng tỷ lệ bê tông hóa đường làng từ mức 40% ở xóm Phúc Tài và 20% ở xóm Tân Ấp 2 lên trên 85% sau 3 năm can thiệp. Thành công này đạt được nhờ cơ chế Nhà nước và dự án hỗ trợ vật tư chính, kết hợp với hơn 1.000 ngày công lao động tự nguyện do người dân đóng góp.

Làm thế nào để bảo đảm tính minh bạch tài chính khi giao vốn trực tiếp cho người dân? Tính minh bạch được kiểm soát chặt chẽ thông qua việc niêm yết công khai mọi chứng từ thu chi tại nhà văn hóa thôn và báo cáo chi tiết trong các cuộc họp xóm định kỳ hàng tháng. Ban Giám sát cộng đồng do người dân trực tiếp bầu ra thực hiện kiểm toán chéo mọi khoản chi phí vật tư và nhân công.

Vai trò của phụ nữ được nâng cao như thế nào thông qua mô hình của Trung tâm DWC? Mô hình quy định tỷ lệ phụ nữ tham gia Nhóm nòng cốt và Ban quản lý tiểu dự án đạt tối thiểu 50%. Nhờ các khóa đào tạo nâng cao nhận thức về giới, phụ nữ địa phương đã tự tin điều hành các cuộc họp xóm, làm chủ kỹ thuật thâm canh chè và chủ động quản lý các nguồn quỹ tiết kiệm tự nguyện.

Quy trình Quản lý cộng đồng tại Thái Nguyên có khả năng nhân rộng sang các địa phương khác không? Mô hình hoàn toàn có thể nhân rộng tại các vùng nông thôn và miền núi trên toàn quốc. Yếu tố bảo đảm thành công là việc tôn trọng quyền tự quyết của người dân, vận dụng linh hoạt phương pháp đánh giá có sự tham gia và xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh tính đúng đắn và hiệu quả vượt trội của mô hình Quản lý cộng đồng trong việc giải quyết toàn diện các nan đề về giảm nghèo, hạ tầng và môi trường tại vùng nông thôn miền núi.
  • Kết quả thực nghiệm khẳng định bước tiến vượt bậc với tỷ lệ hộ nghèo tại xóm Phúc Tài giảm từ 19,5% xuống 11,6%, tỷ lệ kiên cố hóa đường giao thông đạt trên 85% và hơn 90% người dân nắm vững quyền dân chủ cơ sở.
  • Công trình đóng góp hệ thống luận cứ khoa học sắc bén, hoàn thiện phương pháp can thiệp phát triển cộng đồng dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa Thuyết nhu cầu, Thuyết trao quyền, Thuyết thân chủ trọng tâm và Thuyết huy động nguồn lực.
  • Lộ trình tiếp theo xác định mục tiêu nhân rộng mô hình tự quản cộng đồng tại 10 huyện, thành phố thuộc các tỉnh Thái Nguyên và Quảng Bình trong giai đoạn 2013 - 2016.
  • Các cấp quản lý và tổ chức phát triển cần đẩy mạnh chuyển đổi cơ chế đầu tư công sang phương thức trao quyền tự chủ cho cộng đồng, coi đây là đòn bẩy cốt lõi để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông thôn bền vững.