Chương I TONG QUAN VE MÔ HÌNH QUAN LÝ CÁC CÔNG TRÌNH CAP NƯỚC SINH HOẠT Ở NÔNG THÔN. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIEN CÔNG TRINH CAP NƯỚC SINH HOẠT. Vai trò và tầm quan trọng của nước sinh hoạt đến sức khỏe cộng đồng. dan cư nông thôn.
Nước sinh hoạt nông thôn có vai tò rất quan trọng đối với sức khỏe cộng. Bảo dim cung cấp đủ nước sinh hoạt và đạt tiêu chuẩn sạch dang trở thành Ấp bách trong việc bảo vệ sức khỏe và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho người dân cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay & nước ta, Đại bộ phân dân cư nông thôn là những người nông dân làm ăn nhỏ, đa số sống trong các thôn xóm, làng bản tương đổi tập trung, có tổ chức hành chính vững chắc và truyền thống cộng đồng lau đời với cơ edu hạt nhân là hộ gia đình bình quân khoảng 5 người. Nhưng mức sống côn thấp, một bộ phận đáng kể dân ‘cu nông thôn thuộc diện nghèo, thu nhập chỉ đủ cho nhu cầu tối thiểu về ăn mặc, không còn kinh phí cho các nhu cầu khác, nhận thức về cấp nước và vệ sinh mai trường còn rất hạn chế, Hiện nay, vẫn còn hơn 70% dân số nông thôn sử dụng nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh và một nửa số hộ ở nông thôn không có nhà vệ sinh. Các bệnh có liên quan tới nước và vệ sinh như tiêu chảy, giun, đường ruột rất phổ và chiếm tỷ lẽ ao nhất trong các bệnh thường gặp ở người.
Vấn đề xây CTCNSHNT trở thành yêu cầu cấp bách trong những năm tới. ‘ang và Chính phủ đang tập trung vào phát triển nông thôn, coi phát t nông thôn là tu tiên quốc gia, triển khai nghiên cứu Chién lược phát triển nông nghiệp - nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá. Chính phủ cũng. wu tiên cho phát triển cấp nước sạch & Vệ sinh nông thôn, đưa việc giải quyết vấn đề này trở thành một trong những CTMTQG quan trọng nhất từ nay đến năm 2020.
Cp nước sinh hoạt nông thôn gắn liền với sự nghiệp xoá đói giảm nghèo và xây dựng cơ sở hạ ting, nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn. “Thiếu nước sạch và thói quen sống thiểu vệ sinh đã làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế tại khu vực nông thôn và tạo thành “gánh nặng quá tải” đề lên hệ thống y tế, Các CTCNSHNT đã đóng góp vai trò quan trong để giảm thiểu bênh tật nhờ: ~ Công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn giúp nắng cao chất lượng nước cấp, từng bước đạt tiêu chuẩn nước sạch thông qua hệ thống kiểm soát, xứ lý để bảo dam vệ sinh. CTCNSHNT giúp cộng đồng tránh được các bệnh truyền nhiễm do muỗi gây ra (sốt rét, sốt xuất huyết, giun chỉ. -Hí ống cấp nước sinh hoạt nông thôn là một “kénh” phủ hợp nha "Nhà nước hỗ trợ công đồng dân cư nông thôn, đảm bảo các nguy én tắc “ t ca moi người đều được bình ding tiếp cận đến dịch vụ công chất lượng cao”, rút ngắn sự chênh ch, cách biệt điều kiện sống giữa thành thị và nông thôn; xoá di mặc cảm và khoảng cách giảu nghèo giữa các hộ din sống trong cing một cộng đồng, Nước sạch gắn với vấn đề vệ sinh và sức khoẻ; không có nước sạch.
sẽ ảnh hưởng đến các thé hệ tương lai trong từng gia đình và cả xã hội. nghèo, thiếu nước sạch sẽ rit khó thoát nghèo và dễ tái nghèo do thiểu sức khoẻ. - Các CTCNSHNT còn giúp giảm gánh nặng của phụ nữ, giải phóng sức lao động nông thôn, đặc biệt những hộ chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông. Phụ nữ luôn là lao động chính trong gia đình, là người chịu trách nhiệm chim sóc gia đình, con cái và cũng là người di lấy nước, sử dụng nước nhiều nhất cho sinh hoạt.
Vi vậy, nếu thời gian đành cho lấy nước nhiều thi thời gian tham gia lao động sản xuất sẽ thấp đi và thu nhập của hộ sẽ giảm tương ứng. VỀ mặt xã hội, có công tinh cấp nước, đưa nước về tới từng hộ gia định, sẽ giảm đáng kế khối lượng công việc tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia các hoạt động văn hoá xã hội, góp phần đem lại bình đẳng giới ở nông thôn. Quá trình xây dựng và phát triển các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn ở nước tả. lai đoạn trước năm 1982 Dit nước vừa trái qua nhiều năm chiến tranh ác liệt, gian khổ, điều kiện kinh tế Việt Nam nói chung và của người dân nông thôn nói riêng còn hết sức nghèo nan, lạc hậu.
Các hộ nông thôn. tự tim cách để cung cấp nước sinh hoạt cho gia đỉnh trong đời sống hang ngày. Các loại hình công trình chủ yéu còn rất đơn giản, thô sơ như giếng làng, giếng hộ gia đỉnh, chum hoặc vai Về quy mô: chủ yếu cấp nước. đơn lẻ cho từng hộ hoặc từng nhóm hộ.
Hầu hết các hộ dân miễn bắc đều = có bélchum/vgi chứa. Ở những noi không có nước họ hứng nước mưa. Nước được lấy từ mái nhà sau đó thu gom bằng các ống tre đưa vào bề chứa. Về quan lý: Trong gia đoạn này chưa hình thành mô hình quan lý, CTCNSHNT chủ yếu do các hộ gia định tự quản lý.
Các giếng làng, ao làng phục vụ cho một thôn, một xóm thị theo hương ước của làng, xóm. Giai đoạn tie năm 1982 đẫn năm 2000. "Năm 1982, Quỹ nhỉ đồng của Liên hợp quốc (Unicef) tải trợ triển khai có tính thir nghiệm cấp nước sinh hoạt nông thôn tại 3 tỉnh mà đang nhiều khó khăn về nước sinh hoạt: Minh Hải, Kiên Giang, Long An nhằm giải quyết khẩn cấp. nhu cầu cho dân tại một số vùng kinh tế mới.
Trong thời điềm đó, sự hỗ trợ này mang tính khẩn cấp hơn là mang tính chiến lược lâu dài. Nhờ các kết quả dat được rất khả quan mà đến năm 1984, dự án được mé rộng thêm 3 tỉnh phía Bắc là: Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh và Hà Nam Ninh (Hà Nam), én năm 1987 có mở. rộng ra 14 tỉnh và đến năm 1990 có 27 tỉnh tham gia dự án.1: Giéng đào lắp bom tay “Trong giai đoạn đầu của dự án, do giải quyết nhu cầu cap bách nên dự án chủ yếu hỗ trợ xây dựng, sửa chữa các công trình truyền thống như Bé/chum/vai, giếng đảo, giếng khoan, cải tạo giếng làng đã có sin để giảm chỉ phi đầu tư ban đầu. Chỉ có iéng khoan đường kính 49mm lắp bom tay là loi hình mới, được Unicef' đưa về áp dụng tại Việt Nam.
Cie giếng đào được cải tạo, sửa chữa bước đầu đã đáp ứng được tiêu chuẩn vệ sinh như có tang giếng (bi giếng); lớp day được đỗ cát; sản giếng và rãnh thoát nước thải; nước giếng được lấy lên bằng bom tay hoặc bằng gầu mite tuỷ thuộc vào độ sâu mực nước và điều kiện kinh tế. Đối với giếng khoan sử dụng bơm tay, Unicef đã chuyển giao công nghệ tự tổ chức sản xuất bơm tay, ống PVC tại Việt Nam; Cải tiến kỹ thuật đảm bảo thuận lợi cho việc sử dụng và duy tu bảo dưỡng giếng. Bước đột phá này đã giúp giải quyết được tinh trạng thiểu nước tram trọng.2: Giéng khoan ‘bom tay Về quy mô trong giai đoạn đầu chủ yếu vẫn là công trình nhỏ lẻ có thể cung cấp nước cho từ 5 + 10 hộ gia đình. Từ năm 1993 trở về sau đã bất đầu xây dựng một số CTCNSHNT quy mô lớn hơn đặc biệt khi dự án cấp nước sinh hoạt nông thôn ra đời, dự án mở rộng địa bàn tới 53 tinh thành (nay là 64 tỉnh, Thành phố).
Đến năm 1999 CTMTQG cùng với sự try giúp của các tổ chức quốc tế khác như: Ngân hàng Thể giớ (WB), DANIDA, JICA. thúc di inh vực cấp nước đa dạng hóa vẻ loại hình, quy mô như giếng đào, giếng khoan lắp bơm. điện; Mó nước và hệ cắp nước nỗi mạng; CTCNSHNT (Hệ cắp nước tự chảy, hệ ip nước hiện đại đã được áp dung là một 10 thành tựu nỗi bật trong giai đoạn nảy, CTCNSHNT được coi là bước đột phá trong khai thác sử dụng nguồn nước nhờ đó tăng số lượng hộ gia đình được tiếp cận tới nguồn nước sạch dé sinh hoạt. Cấp nước tập trung (Hệ cấp nước tự chảy, bom dẫn) có quy mô cấp nước từ 150 người đến 500 người = Go =h=| Hình 1.3: Sơ đồ công trình cắp nước sinh hoạt nông thon 'Về quản lý: Giai đoạn đầu chưa hình thành tổ chức quản lý, đến khi có 'CTMTQGNS mới bắt đầu hình thành nhưng vẫn chưa có một hệ thống quản lý nhà nước đồng bộ trong lĩnh vực cắp nước.
Vi vậy công tác quản lý vận hành bảo dưỡng giếng khoan đối với cộng đồng là rất khó khăn. Vì người dân chưa đủ trình độ đ im rõ quy trinh vận hành, sửa chữa. Một số giếng khoan chi hing van da trên máy bơm mà phải bỏ cả công trình. Vi vậy việc xây dựng và cing cố hệ thống bộ máy quản lý từ Trung ương (TW) đến địa phương, nẵng cao năng lực quản lý, điều hành, tổ chức tiếp nhận và thực hiện dự án là hết sức cấp bách trong giai đoạn này, 1.
Giai đoạn từ năm 2000 đến nay Nhận rõ tằm quan trọng của nước sạch nông thôn, nhất thiết phải có một én lược dài hạn, phủ hợp với những cam kết quốc tế và thực tế phát triển của đất nước. Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 104/2000-TTg ngày 25/8/2000 phê duyệt Chiến lược quốc gia nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020. Đồng thời xác định CTMTQGNS là công cụ chủ yêu để thực hiện “Chiến lược. CTMTQGNS đã tập trung đây mạnh các nghiên cứu và áp dung tiến bộ khoa học kỹ thuật vào cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn theo nguyên tắc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn nước (nước mặt, nước ngằm, nước mưa, nước từ các công trình thuỷ lợi) bằng các loại hình công nghệ phù hợp, bao gồm từ cấp nước tập trung (tự chảy, cấp nước bằng bơm din.
nước nhỏ lẻ (bé, giếng đào, giếng khoan. Nhưng trọng tâm tụ tiên phát triển Sng cấp nước tập trung, hạn chế phát triển các hi ông cả các hệ nước nhỏ lẻ, đồng thời áp dung nhiều công nghệ mới trong xây đựng như Bơm va, Bơm thuỷ luân (trong khai thác nước); Hồ vải địa kỹ thu , hảo thu nước, giếng tia, trạm cấp nước nổi Floadtawa (đối với công nghệ nguồn); Lọc nổi, lọc áp lực, công nghệ xử ly Asen, xứ lý nước nhiễm phén, xử lý Amoni, Mangan, xử lý bằng vật liêu lọc như than hoạt tính (đối với công nghệ xử lý nước).