CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Mục tiêu của nha khoa hiện đại là phục hồi về đường nét, chức năng, sự thoải mái, thẩm mỹ, giọng nói và sức khỏe răng miệng cho người bệnh. Thông thường, kế hoạch điều trị sẽ giúp loại bỏ quá trình gây bệnh hay thay thế răng đã mất bằng phục hình. Điều làm cho cấy ghép nha khoa trở nên đặc biệt là khả năng đạt được những mục tiêu trên, bất kể tình trạng tiêu xương, bệnh lý hoặc tổn thương của hệ thống xương hàm [82]. Tuy nhiên, bệnh nhân càng mất nhiều răng trong thời gian càng dài thì công việc của bác sĩ càng trở nên khó khăn hơn.
Khi mất răng, bệnh nhân có thể lựa chọn phục hồi bằng phục hình cố định hay phục hình tháo lắp truyền thống. Tuy nhiên, phục hình truyền thống có những hạn chế nhất định không thể khắc phục, dẫn đến ngày càng nhiều người chọn cấy ghép implant cho phục hồi thay thế răng đã mất [11].1 IMPLANT NHA KHOA 1.1 Phân loại implant nha khoa Xét về tương quan vị trí của implant với các mô kế cận, implant được phân thành các loại implant biểu mô, implant trên xương và implant trong xương. Ngày nay, implant trong xương là dạng phổ biến nhất với ba hình dạng cơ bản là dạng trụ, dạng lưỡi dao và dạng vít. Các loại implant nha khoa.
Implant dạng lưỡi cắt (A), implant dạng trụ (B) và implant dạng vít (C). Park and Mayuri Kerr, 2020” [59]. Implant dạng trụ là một loại implant nha khoa trong xương, dạng chân răng, khít bằng ma sát, với các thành song song. Implant dạng lưỡi dao là một loại implant nha khoa trong xương, hình dạng phẳng.
Implant dạng vít là implant có thân với các ren vít xuyên suốt hầu hết hoặc toàn bộ chiều dài, đã trở thành thiết kế implant được sử dụng phổ biến nhất. Các thiết kế hiện tại có tính năng cải thiện độ ổn định ban đầu và các quy trình phẫu thuật được đơn giản hóa đã cho phép các bác sĩ sau khi được đào tạo có thể điều trị thành công cho hàng triệu bệnh nhân trên toàn thế giới [59].2 Thành phần cấu tạo của implant nha khoa dạng vít Implant trong xương dạng vít có hai loại: implant dạng vít một thành phần và implant dạng vít hai thành phần. Thiết kế implant hai thành phần bao gồm: một thân implant, cung cấp chỗ neo chặn trong xương, một bệ chuyển và phần kết nối. Kết nối này được sử dụng để gắn kết implant với các kết cấu và thành phần khác nhau và cuối cùng là trụ phục hình hoặc phục hình.
Implant một thành phần có trụ phục hình gắn liền với thân implant. Implant trong xương dạng vít một thành phần (A) và hai thành phần (B). Park và Mayuri Kerr, 2020” [59]. Qui trình phẫu thuật cấy ghép implant Có ba qui trình phẫu thuật khác nhau đã được sử dụng cho hệ thống implant hai thành phần: phục hồi tức thì, một giai đoạn và hai giai đoạn [59].
Sử dụng qui trình thường qui (qui trình hai giai đoạn) thì thân implant, vít che phủ được đặt trong xương và được phủ bởi mô mềm bên trên cho đến khi lành xương. Trong phẫu thuật giai đoạn hai, mô mềm được bóc tách để gắn trụ lành thương với implant, xuyên qua mô mềm và đi vào khoang miệng. Với phương pháp phẫu thuật một giai đoạn, bác sĩ phẫu thuật cấy thân implant vào xương, kết nối với trụ lành thương xuyên qua mô mềm (không cần phẫu thuật lần hai để kết nối trụ lành thương). Trong quá trình phục hình, trụ lành thương được thay thế bằng trụ phục hình.
Với phương pháp phục hồi tức thì, cả thân implant và trụ phục hình đều được đặt vào khi phẫu thuật. Một phục hồi tạm được gắn vào trụ phục hình. Qui trình phẫu thuật cấy ghép implant: Hai giai đoạn (A), một giai đoạn (B) và phục hình tức thì (C). Tích hợp xương ở Implant nha khoa trong xương Năm 1952, bác sĩ người Thuỵ Điển, Peringvar Brånemark và cs tình cờ phát hiện sự tiếp xúc trực tiếp giữa khoang Titan và mô xương khi nghiên cứu lưu lượng máu ở xương đùi thỏ.
Theo thời gian, các khoang này trở nên gắn chặt vào xương và không thể tháo rời. Một liên kết được tìm thấy giữa xương và bề mặt Titan. Trên cơ sở đó, ông mô tả sự tích hợp xương là sự tiếp xúc trực tiếp giữa mô cấy và xương sống ở cấp độ kính hiển vi quang học [84]. Định nghĩa về sự tích hợp xương này nhằm phân biệt phương pháp điều trị được nhóm Brånemark mô tả với phương pháp cấy ghép được báo cáo trước đây thường dẫn đến giao diện mô mềm giữa implant và xương nâng đỡ.5 Tiêu chí đánh giá sự thành công của implant Albrektsson và cộng sự đã đề xuất các tiêu chí sau để đánh giá cấy ghép implant được coi là thành công [6]: - Implant không có biểu hiện di động trên lâm sàng.
- Trên phim X quang, không thấy thấu quang giữa implant và xương. - Mất xương ở vùng mào dưới 0,2 mm hàng năm,sau lần tái khám đầu tiên. - Không bị đau dai dẳng, khó chịu hoặc nhiễm trùng.6 Sự vững ổn của implant Trên lâm sàng, độ vững ổn implant là một trong các yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của cấy ghép nha khoa. Implant có hai loại vững ổn là nguyên phát và thứ phát.
Độ vững ổn nguyên phát là độ vững ổn của implant tại thời điểm vừa cấy vào xương. Sự vững ổn nguyên phát phụ thuộc vào chất lượng, khối lượng xương, kỹ thuật phẫu thuật và thiết kế của implant. Độ vững ổn thứ phát là độ vững ổn của implant ở thời điểm sau khi phẫu thuật. Sự vững ổn thứ phát phụ thuộc vào quá trình huỷ xướng và tạo xương tại giao diện xương - implant, bề mặt implant và thời gian lành thương.
Đánh giá chính xác độ vững ổn là yếu tố rất quan trọng trong quy trình điều trị phục hình răng bằng implant. Các phương pháp đo độ ổn định của implant bao gồm kiểm tra phản hồi (Periotest), kiểm tra mô men ngược, phân tích tần số cộng hưởng và kinh nghiệm phẫu thuật viên. Trong những ngày đầu của ngành cấy ghép, thử nghiệm phản hồi bằng công cụ sử dụng hệ thống Periotest. Periotest đã được sử dụng để đánh giá độ ổn định ban đầu.
Hệ thống này bao gồm một thanh tạo lực dạng kim loại cầm tay, được dẫn động bằng điện từ và điều khiển bằng điện tử. Các tín hiệu được tạo ra bằng cách tiếp xúc và được chuyển đổi thành các giá trị duy nhất được gọi là giá trị Periotest. Các kết quả này được biểu thị bằng các đơn vị qui ước với các giá trị thấp nhất có thể chấp nhận được trong các khoảng từ −4 đến −2 và −4 đến +2. Trong cấy ghép ngày nay, phương pháp phổ biến hơn để xác định độ ổn định ban đầu là phân tích tần số cộng hưởng.
Phân tích tần số cộng hưởng là một phương pháp kiểm tra cung cấp các phép đo khách quan và đáng tin cậy về khả năng vi chuyển động ở các giai đoạn khác nhau của quá trình điều. 9 trị cấy ghép implant. Phương pháp này phân tích tần số cộng hưởng của một đầu dò nhỏ được gắn vào implant hoặc thân răng giả. Nó có thể được sử dụng để theo dõi những thay đổi về độ cứng và độ vững ổn ở giao diện implant - mô và để phân biệt giữa implant thành công và thất bại trên lâm sàng.
Chỉ số vững ổn implant (ISQ) là thang đo để sử dụng cho phương pháp RFA. Nhiều nghiên cứu đã xác định rằng phạm vi ổn định chấp nhận được nằm trong khoảng từ 55 đến 85 ISQ [18], [44], [71]. Sennerby đã báo cáo về việc phân loại các giá trị ISQ liên quan đến thành công của implant nha khoa. Các giá trị ISQ được phân thành ba vùng dựa trên các phép đo phân tích tần số cộng hưởng tại thời điểm đặt implant.
Các đề xuất bao gồm: độ vững ổn cao có giá trị ISQ từ 70 trở lên. Các giá trị ISQ cao này thường phù hợp với các qui trình tải tức thì. Phân loại thứ hai bao gồm implant có độ vững ổn trung bình cho các giá trị từ 55 - 70 ISQ. Vùng cuối cùng bao gồm các implant có giá trị ISQ nhỏ hơn 55.
Các implant này bị tổn hại và có thể làm tăng tỷ lệ thất bại [48]. Máy đo độ vững ổn của impalant qua phân tích tần số cộng hưởng. “Nguồn: Trang thông tin điện tử https://www. 10 Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra việc sử dụng thành công RFA trong việc đánh giá thành công của implant.
Sjöström et al. [80] đã đánh giá độ ổn định ban đầu của implant hàm trên khi xem xét về thành công và thất bại. ISQ trung bình cho các implant thành công là 62 ISQ và các implant thất bại là 54 ISQ. Turkyilmaz và McGlumphy trong một nghiên cứu hồi cứu trên 300 implant trong ba năm cho thấy những implant không thành công có ISQ trung bình là 46 và những implant thành công có ISQ trung bình là 67.
Trong việc đánh giá đơn vị Hounsfield (HU) và lực chèn, người ta đã tìm thấy những khác biệt có ý nghĩa tương tự [87]. Tóm lại, kỹ thuật phân tích tần số cộng hưởng thông qua các giá trị ISQ cung cấp thông tin có giá trị về tình trạng hiện tại của giao diện xương - implant. Các giá trị ISQ tương quan với khả năng vi chuyển động của implant, liên quan trực tiếp đến các đặc tính cơ sinh học của mô xương xung quanh và chất lượng của giao diện implant - xương. Thông qua các nghiên cứu khác nhau, người ta đã chỉ ra rằng giá trị ISQ thấp hơn có liên quan trực tiếp đến việc implant thất bại.
Do đó, kỹ thuật phân tích tần số cộng hưởng là một phương thức có giá trị trong việc đánh giá sức khỏe của implant nha khoa trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình cấy ghép implant [63].1 Sự mất mô xương khi mất răng Xương nền tạo nên cấu trúc xương răng, chứa hầu hết các cơ bám và bắt đầu hình thành trong bào thai trước khi mọc răng. Xương ổ răng xuất hiện đầu tiên khi bao Hertwig của mầm răng phát triển. Xương ổ răng không hình thành trong trường hợp không phát triển răng sữa hoặc răng vĩnh viễn. Mối quan hệ chặt chẽ giữa răng và quá trình tiêu xương tiếp tục diễn ra trong suốt cuộc đời.
Định luật Wolff (1892) cho rằng xương tái cấu trúc trong mối tương tác với các lực tác dụng. Mỗi khi chức năng của xương bị thay đổi, một sự. 11 thay đổi nhất định xảy ra ở cấu trúc bên trong và hình dạng bên ngoài [58], [92].