Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Giải pháp phát triển mô hình trồng khoai tây tại xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Tài liệu tham khảo. 5 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Khái niệm kinh tế hộ Bản thân mỗi hộ là một tế bào của xã hội, là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng. Là đơn vị sản xuất cơ bản trong nông nghiệp, hộ có mục đích tối đa hóa nguồn thu trên cơ sở sử dụng tối đa các nguồn lực và nâng cao phúc lợi gia đình.
Kinh tế hộ là hình thức kinh tế cơ sở của xã hội trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh đều tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận và tạo điều kiện phát triển.[13] Hộ là đơn vị tiêu dùng. Các sản phẩm tạo ra nhằm đáp ứng cho nhu cầu của hộ, nếu còn dư họ sẽ mang ra thị trường trao đổi hoặc buôn bán. Cũng có một số hộ chuyên sản xuất để cung cấp ra thị trường. Hộ nông dân là đơn vị sản xuất nhưng với quy mô nhỏ với các nguồn lực sẵn có như lao động, đất đai, vốn, công cụ…Do sản xuất với quy mô nhỏ nên số lượng sản phẩm làm ra không nhiều và chất lượng sản phẩm làm ra cũng chưa cao.
Trong quá trình đổi mới đất nước, các hộ nông dân cũng đã có bước đổi mới khá quan trọng. Họ đã tiến hành sản xuất chuyên canh để cung cấp sản phẩm cho xã hội. Điều đó có nghĩa là họ phải tự hoàn thiện tư liệu sản xuất để tăng năng suất lao động và nâng cao hiệu quả kinh tế.[13] Các hộ nông dân đã sử dụng những điều kiện có sẵn để sản xuất. Điều đó cũng giải quyết được một số lượng lớn lao động nhàn rỗi ở nông thôn.
Ngoài việc tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của gia đình và xã hội, kinh tế hộ còn đóng vai trò trong việc cung cấp nguyên liệu, hàng hóa cho các 6 doanh nghiệp sản xuất. Mô hình kinh tế hộ rất phù hợp với nông hộ ít vốn, chưa có nhiều kinh nghiệm sản xuất, tư liệu sản xuất còn hạn chế. Khái niệm mô hình Theo các cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có các cách hiểu riêng. Về mặt lý học thì mô hình là vật cùng hình dạng nhưng thu nhỏ lại.
Khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô phỏng cấu tạo của một vật để trình bày và nhiên cứu. Mô hình còn được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu và còn là kiểu mẫu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế. Như vậy mô hình có thể có các quan niệm khác nhau tùy vào góc độ nghiên cứu nhưng khi sử dụng mô hình người ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu.[17] Mô hình canh tác là hình mẫu trong canh tác, thể hiện sự kết hợp của các nguồn lực trong điều kiện cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm và mục đích kinh tế. Khái niệm hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh chất, lượng của các hoạt động kinh tế.
Theo định nghĩa của ngành thống kê thì hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, biểu hiện sự tập trung phát triển theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực kinh tế và chi phí các nguồn lực trong quá trình sản xuất. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một tất yếu của mọi nên sản xuất xã hội. Nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phát triển theo hai chiều rộng và sâu, phát triển theo chiều rộng là huy động mọi nguồn lực sản xuất, tăng đầu tư chi phí vật chất, lao động, kỹ thuật, mở mang thêm nhiều ngành nghề. Phát triển theo chiều sâu là đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tiến hành hiện đại hóa, tăng cường chuyên môn hóa và hợp tác hóa, nâng cao trình độ sử dụng các nguồn lực,chú trọng chất lượng sản phẩm và dịch vụ.
Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các tổ chức kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.[17] 7 Các quan điểm hiệu quả kinh tế đều thống nhất bản chất của nó là muốn thu được kết quả phải bỏ ra chi phí về tiền vốn, lao động. So sánh kết quả sản xuất với chi phí đầu tư sẽ có được hiệu quả kinh tế. Chênh lệch này càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn. Ta có thể nói hiệu quả kinh tế là mối tương quan giữa lực lượng kết quả đạt được với chi phí bỏ ra, biểu hiện thuần túy bằng những chỉ tiêu kinh tế như giá trị tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận…tính trên lượng chi phí đầu tư.
Hiệu quả kinh tế xã hội là mối tương quan so sánh giữa đầu tư chi phí với kết quả thu được trên cả hai phương diện kinh tế và xã hội. Thực chất của hiệu quả kinh tế là vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực sản xuất kinh doanh và tiết kiệm chi phí các nguồn lực. Nói cách khác bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Việc làm rõ bản chất của hiệu quả kinh tế để phân định rõ sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả.
Kết quả phản ánh mặt định lượng mục tiêu đạt được bằng hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch đề ra, không đề cập đến cách thức, chi phí bỏ ra để đạt được mục tiêu đó, bản thân kết quả không thể hiện được chất lượng. Hiệu quả thể hiện một cách toàn diện về cả mặt định lượng và định tính. Về định lượng hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa chi phí và kết quả. Về mặt định tính hiệu quả không chỉ thể hiện qua các con số cụ thể mà còn thể hiện nguyên nhân mang tính định tính để đạt được con số đó, phản ánh được sự nhất trí và khả năng đóng góp của các mục tiêu trên vào mục tiêu chung.
Giới thiệu chung về cây khoai tây 2. Nguồn gốc và lịch sử phát triển Khoai tây thuộc họ cà có nguồn gốc xuất xứ ở dãy núi Andes. Năm 1536 Tây Ban Nha là nước đầu tiên ở châu Âu trồng khoai tây. Từ năm 1570 đến 1580, khoai tây được phát triển ra nhiều vùng ở Tây Ban Nha.
Khoai tây được 8 truyền vào Ấn Độ năm 1615, vào Trung Quốc năm 1700, vào Bangladesh giữa thế kỷ XVII. Người Hà Lan đưa khoai tây và Indonexia giữa thế kỷ XVIII và Nhật Bản năm 1766. Những nhà truyền giáo đem khoai tây vào châu Phi cuối thế kỷ XIX. Năm 1971, trung tâm khoai tây quốc tế (CIP) được thành lập, nhiệm vụ là nghiên cứu, phát triển khoai tây trên thế giới, đặc biệt ở vùng nhiệt đới.
Đến cuối thế kỷ XX, nhiều nước vùng Châu Á – Thái Bình Dương đã phát triển khoai tây đáng kể, trong đó Trung Quốc là nước dẫn đầu thế giới về sản lượng khoai tây.[2] Ở Việt Nam, khoai tây được đưa vào năm 1890 do những nhà truyền giáo người Pháp đem đến. Những năm 1970, các nhà khoa học đã nghiên cứu và phát triển giống lúa ngắn ngày năng suất cao từ đó đưa ra hệ thống canh tác mới 3 vụ: Lúa xuân – Lúa mùa – Cây vụ đông. Trong số những cây vụ đông thì khoai tây được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhiều. Giá trị dinh dưỡng của khoai tây Tài liệu nghiên cứu của Burton năm 1974 công bố: 100g khoai tây đã gọt vỏ, cung cấp khoảng 8% lượng protein tối thiểu yêu cầu hàng ngày (tương đương 10g trứng), 10% Fe, 20 – 25% vitamin C, 10% vitamin B1 và khoảng 3% năng lượng yêu cầu hàng ngày.
Tính riêng phần tinh bột thì 100g khoai tây sẽ cung cấp khoảng 335 KJ tương đương 80 Kcalo. Toma năm 1978 đã phân tích các giống khoai tây trồng phổ biến ở Bắc Mỹ thấy rằng lượng năng lượng của 100g khoai tây cung cấp từ 264 đến 444 KJ, tương đương từ 63 đến 106 Kcalo tùy theo giống khoai.[2] Tinh bột chiếm tỉ lệ cao nhất trong hàm lượng chất khô. Ở ruột củ, lượng tinh bột ít hơn phần phía giáp vỏ củ; ở đầu củ, lượng tinh bột ít hơn phần đuôi củ.[2] Schuimmer năm 1954 phân tích thành phần đường trong khoai tây chủ yếu là đường sacarozo, fructozo và glucozo.[2] 9 Khoai tây là lương thực cung cấp nguồn đạm quan trọng. Methionine và cysteine là hai amino axit chủ yếu, một nguồn đạm rất hữu hiệu trong củ khoai tây.[2] Khoai tây được coi là lương thực có giá trị còn do có nhiều vitamin.
Vitamin C trong củ khoai tươi khi thu hoạch có hàm lượng từ 20 -50mg/100g khoai. Hàm lượng vitamin C phụ thuộc nhiều vào giống khoai, ít phụ thuộc vào cỡ củ to nhỏ, bón phân và đất trồng. Hàm lượng vitamin B1 khoảng 0,07 – 0,1mg/100g khoai tây, vitamin B2 khoảng 0,05 – 0,07mg/100g khoai tây,vitamin B5 khoảng 0,5 – 1mg/100g khoai tây, vitamin B6 khoảng 0,2mg/100g khoai tây.1: Thành phần dinh dưỡng của một số thực phẩm trong 100g Năng lượng Nước Đạm Béo Bột Xơ Loại cây (kcal) (g) (g) (g) (g) (g) Khoai tây 92 74,5 2 0 21 1 Khoai lang 110 67,7 0,8 0,2 28.4 (Nguồn: Viện dinh dưỡng quốc gia Việt Nam) Khoai tây là lương thực có giá trị, nhưng có một số độc tố chủ yếu là glycoalkaloid. Các nhà dinh dưỡng khuyên không nên ăn hoặc làm thức ăn chăn nuôi những củ khoai vỏ có màu xanh hoặc đã mọc mầm, không sử dụng thân lá khoai tây làm thức ăn xanh để chăn nuôi.
Khi chế biến thức ăn trong gia đình, gọt vỏ khoai là loại bỏ được 30 – 35% hàm lượng glycoalkaloid trong củ. Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của sản xuất khoai tây. Đặc điểm kinh tế Khoai tây là một trong 5 cây lương thực trên thế giới sau lúa, ngô, mì, mạch. Khoai tây là cây lương thực quan trọng của nhiều nước, là nguồn cung cấp năng lương chính cho bữa ăn hằng ngày của người châu Âu và một số nước khác.
Khoai tây là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước. Ở nước ta khoai tây vừa là thực phẩm vừa là cây lương thực. Gọi là cây kiêm dùng.