Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm an ninh lương thực và giải quyết việc làm tại Việt Nam. Theo Niên giám Thống kê năm 2019, khu vực nông thôn chiếm gần 70% dân số và thu hút khoảng 50% lực lượng lao động cả nước. Cùng với lúa, lúa mì, sắn và khoai tây, cây ngô là một trong năm loại cây lương thực chủ yếu trên thế giới và là cây trồng đóng góp lớn vào công tác giảm nghèo tại các vùng cao, miền núi nước ta. Về mặt dinh dưỡng và y học, hạt ngô cung cấp nhiều khoáng chất, vitamin (A, B, E) cùng các hợp chất như beta-cryptoxanthin, carotenoid và chất xơ hòa tan/không hòa tan hỗ trợ tiêu hóa, tim mạch, mắt và não bộ.

Xã Xá Nhè là một xã vùng cao thuộc huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, nằm ở độ cao trung bình khoảng 769 m so với mực nước biển, có khí hậu cận nhiệt đới ẩm thích hợp cho cây trồng cạn ngắn ngày. Dù ngô là cây trồng chủ lực của địa phương, thực tiễn sản xuất tại xã vẫn đối mặt với nhiều rào cản:

  • Địa hình đồi núi dốc gây khó khăn cho công tác quy hoạch vùng thâm canh tập trung và vận chuyển nông sản;
  • Phương thức canh tác chủ yếu theo kinh nghiệm truyền thống quy mô hộ gia đình, trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật còn hạn chế;
  • Đất đai chịu ảnh hưởng của xói mòn, rửa trôi, lũ lụt và suy thoái do canh tác lâu năm không gắn với cải tạo;
  • Nguồn giống chưa đồng đều, sản xuất còn phụ thuộc vào nước trời và thời tiết;
  • Tỷ lệ hộ nghèo của xã còn ở mức cao (70,8% năm 2020 theo rà soát hộ nghèo, tỷ lệ thống kê kinh tế - xã hội lên đến 80,5%).

Xuất phát từ thực tế trên, tác giả Sùng A Cương đã thực hiện chuyên đề khóa luận tốt nghiệp ngành Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn với mục tiêu và phạm vi xác định:

  1. Mục tiêu nghiên cứu:

    • Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng sản xuất, tiềm năng, hiệu quả kinh tế và tình hình tiêu thụ ngô tại xã Xá Nhè, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất ngô ổn định, bền vững.
    • Mục tiêu cụ thể:
      1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất, hiệu quả kinh tế của cây ngô.
      2. Phân tích thực trạng sản xuất ngô và xác định các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất ngô tại xã Xá Nhè giai đoạn 2015–2019.
      3. Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế và đẩy mạnh sản xuất ngô tại địa bàn xã trong giai đoạn tiếp theo.
  2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động sản xuất, hiệu quả kinh tế và chuỗi tiêu thụ ngô của các hộ nông dân; ý kiến và công tác chỉ đạo của cán bộ khuyến nông, lãnh đạo chính quyền xã Xá Nhè.
    • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Xá Nhè, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên (bao gồm 10/12 thôn, bản tham gia trồng ngô).
    • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thứ cấp đánh giá thực trạng giai đoạn 2015–2019; thời gian khảo sát, thu thập dữ liệu sơ cấp thực địa từ ngày 24/8/2020 đến ngày 22/11/2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận kinh tế nông nghiệp kết hợp các phương pháp thống kê mô tả và điều tra kinh tế học:

1. Khung lý thuyết và khái niệm cơ bản

  • Nông nghiệp và phân loại: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản sử dụng đất đai, cây trồng và vật nuôi để cung cấp lương thực, thực phẩm và nguyên liệu công nghiệp. Tác giả phân định ba cấp độ sản xuất: nông nghiệp sinh nhai (tự cung tự cấp, kỹ thuật thô sơ), nông nghiệp chuyên sâu (chuyên môn hóa cao, đầu tư vật tư hóa học và cơ giới) và nông nghiệp công nghệ cao / nông nghiệp 4.0 (ứng dụng số hóa, trí tuệ nhân tạo và mô phỏng tối ưu quy trình).
  • Sản xuất và các yếu tố cấu thành: Hoạt động kết hợp sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động thông qua hàm sản xuất để tạo ra sản phẩm. Phương thức sản xuất được phân chia thành tự cung tự cấp và sản xuất hàng hóa phục vụ thị trường.
  • Năng suất và hiệu quả kinh tế: Năng suất phản ánh hiệu quả đầu ra trên một đơn vị nguồn lực; hiệu quả kinh tế biểu hiện tương quan so sánh giữa kết quả thu được (giá trị sản lượng, doanh thu, lợi nhuận) với toàn bộ chi phí nguồn lực đã bỏ ra.
  • Đặc tính sinh thái cây ngô: Phân tích nhu cầu về nhiệt độ (24–30°C tối ưu; ngưỡng dưới 8–14°C, ngưỡng trên 38°C gây hại và 45°C làm chết hạt phấn), nhu cầu ánh sáng và chế độ nước qua các thời kỳ sinh trưởng (giai đoạn 7–9 lá đến trổ cờ chiếm 21% tổng lượng nước; giai đoạn nở hoa đến kết hạt là thời kỳ khủng hoảng nước, cần 24–28% lượng nước với độ ẩm đất 75–80%).
  • Chính sách phát triển nông nghiệp: Các chính sách cấp quốc gia áp dụng trên địa bàn được hệ thống hóa, bao gồm: Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP; Chương trình 135 theo Quyết định 03/2019/QĐ-TTg; Nghị quyết Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; và Nghị quyết 120/2020/QH14 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030.

2. Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo thống kê định kỳ về tình hình kinh tế - xã hội giai đoạn 2015–2019 của UBND xã Xá Nhè; số liệu Niên giám Thống kê tỉnh Điện Biên và Tổng cục Thống kê; báo cáo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tủa Chùa; dữ liệu từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Điện Biên và Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA).
  • Phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu sơ cấp: Tiến hành chọn mẫu đại diện từ các nhóm hộ nông dân trồng ngô theo quy mô sản xuất (hộ quy mô nhỏ, hộ quy mô vừa, hộ quy mô lớn) tại các thôn, bản của xã Xá Nhè; kết hợp điều tra trực tiếp, phỏng vấn cán bộ chuyên môn và quan sát thực địa trong thời gian từ 24/8/2020 đến 22/11/2020.
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian (2015–2019), tổng hợp bảng biểu, lập biểu đồ phân tích tương quan giữa diện tích, năng suất, sản lượng và tính toán cấu trúc chi phí đầu tư.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây ngô

Chương này tập trung trình bày nguồn gốc lịch sử cây ngô từ khu vực Trung Mỹ (thuần dưỡng từ cỏ dại Teosinte khoảng 5500–10000 năm TCN), du nhập qua châu Âu năm 1494 và lan tỏa sang châu Á, Việt Nam. Tác giả tổng hợp danh mục giống ngô phổ biến trên thế giới (ngô nếp, ngô lõm, ngô đá, ngô ngọt, ngô bột) và các giống lai tại Việt Nam (LVN10, LVN4, LVN99, LVN145, LVN885, VN8960, NK54, CP 888, NK4300...).

Về nhu cầu tài nguyên nước, tác giả trích dẫn số liệu so sánh nhu cầu nước để tạo 1 kg chất khô giữa các loại cây trồng:

Loại cây trồng Lượng nước cần thiết cho 1 kg chất khô (kg)
Cỏ ba lá 844
Đậu tương 646
Khoai tây 575
Lúa mì 545
Ngô 349
Cao lương 305

Nguồn: Aldrich S.G (1986)

Về mặt thực tiễn, chương I phân tích tình hình sản xuất ngô toàn cầu niên vụ 2019–2020 (Mỹ chiếm 31% sản lượng toàn cầu, Brazil 9%, Argentina 5%; 4 nước xuất khẩu hàng đầu gồm Mỹ đạt 46,99 triệu tấn, Brazil 36 triệu tấn, Argentina 33,5 triệu tấn, Ukraine 30 triệu tấn). Tại Việt Nam, vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ có diện tích lớn nhất cả nước năm 2017 với 490,1 nghìn ha (sản lượng 1.896,2 nghìn tấn, năng suất 38,7 tạ/ha), trong khi vùng Đông Nam Bộ đạt năng suất cao nhất cả nước (66,5 tạ/ha). Tại tỉnh Điện Biên, năng suất ngô trung bình các huyện đạt 28–35 tạ/ha; năm 2019 toàn tỉnh có hơn 3.300 ha ngô bị sâu keo mùa thu phá hoại, trong đó huyện Tủa Chùa là địa bàn bị ảnh hưởng nặng nhất. Tại huyện Tủa Chùa, diện tích ngô năm 2018 đạt gần 5.000 ha với hơn 90% sử dụng giống ngô lai (LVN10, 9698, DK888).

Tác giả chỉ rõ các nhóm yếu tố tác động đến sản xuất ngô tại Xá Nhè: điều kiện tự nhiên (đất feralit vùng cao, nguồn nước tưới khó khăn, nhiệt độ mùa hạ 24–38°C); kinh tế - xã hội (lợi thế chợ phiên Xá Nhè, trục giao thông liên xã kết nối huyện lỵ ~15 km); phong tục tập quán; biến động thị trường cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản; chất lượng nguồn nhân lực; sự hỗ trợ từ chính sách công và mức độ ứng dụng cơ giới hóa (máy cày, máy bừa, máy tách hạt).


CHƯƠNG II: Thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của ngô tại xã Xá Nhè, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên

Chương II đánh giá tổng thể điều kiện tự nhiên và hiện trạng kinh tế - xã hội xã Xá Nhè:

  • Hiện trạng đất đai và cơ cấu sản xuất nông nghiệp năm 2019: Tổng diện tích tự nhiên là 6.082 ha; diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 1.175 ha (gồm 510 ha quy hoạch ngô vụ mùa, 300 ha lúa nương, 275 ha lúa ruộng, 80 ha lúa chiêm xuân, 10 ha khoai); đất lâm nghiệp có 1.325,48 ha rừng (1.270,08 ha rừng tự nhiên, 55,4 ha rừng trồng). Địa phương có danh lam thắng cảnh cấp quốc gia là hang động Karst Khó Chua La và Khó Xo (được công nhận ngày 13/03/2014).
  • Kết quả ngành trồng trọt xã Xá Nhè năm 2019:
Cây trồng Diện tích (ha) Tổng sản lượng (tấn/năm)
Lúa ruộng vụ mùa 265 1.272
Lúa nương vụ mùa 275 440
Ngô vụ mùa 450 1.350
Lúa chiêm xuân 80 544
  • Diễn biến sản xuất ngô vụ mùa xã Xá Nhè giai đoạn 2015–2019:
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn/năm)
2015 462 16,8 776,00
2016 462 18,7 863,94
2017 498 17,9 891,42
2018 500 17,5 875,00
2019 450 30,0 1.350,00

Nguồn: Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội xã Xá Nhè 2015–2019

Giai đoạn 2015–2018, năng suất ngô dao động ở mức thấp (16,8–18,7 tạ/ha). Đến năm 2019, dù diện tích thực tế giảm xuống 450 ha (so với 500 ha kế hoạch), năng suất tăng vọt lên 30 tạ/ha nhờ áp dụng các giống ngô lai mới (CP 888, LVN 885 với tiềm năng năng suất 8–12 tấn/ha) kết hợp quy trình bón phân NPK 3 giai đoạn (bón lót và 3 lần bón thúc), nâng tổng sản lượng đạt 1.350 tấn/năm.

  • Phân bố diện tích trồng ngô tại các thôn/bản năm 2019: Có 10/12 thôn tham gia trồng ngô với tổng quy mô 450 ha. Pàng Dề A có diện tích lớn nhất (54 ha, chiếm 12,0%), tiếp đến là Trung Dù (52 ha, chiếm 11,6%), Sín Sủ 1 (51 ha), Pàng Nhang (44 ha), Tỉnh B (43 ha), Pàng Dề B (42 ha), Sông A (42 ha), Bản Lịch (42 ha), Bản Hẹ (40 ha, chiếm 8,9%) và Sín Sủ 2 (40 ha, chiếm 8,9%).
  • Chi phí sản xuất và tiêu thụ của hộ nông dân: Khảo sát chi phí đầu tư năm 2019 theo quy mô hộ:
Khoản mục chi phí Hộ sản xuất nhỏ (đồng) Hộ sản xuất vừa (đồng) Hộ sản xuất lớn (đồng)
Phân bón 450.000 3.150.000 6.000.000
Giống 560.000 3.000.000 6.000.000
Thuốc trừ cỏ 380.000 1.000.000 2.000.000
Thuốc trừ sâu 80.000 1.000.000 1.300.000
Tổng chi phí vật tư 1.470.000 8.150.000 15.300.000

Giá bán hạt ngô phơi khô trên địa bàn dao động từ 3.500 đến 4.000 đồng/kg (thời điểm rớt giá xuống dưới 3.000 đồng/kg). Bình quân mỗi hộ thu được 8–10 tấn/vụ; thu nhập ròng sau khi trừ chi phí đạt khoảng 10–30 triệu đồng/vụ. Khảo sát thực tế tại bản Tỉnh B năm 2019 ghi nhận 2 hộ thu hoạch 10 tấn ngô/vụ, đạt doanh thu 29 triệu đồng (chưa trừ chi phí). Khoảng 90% sản lượng ngô được bán cho thương lái vận chuyển ra thị trường phục vụ chế biến thức ăn chăn nuôi, phần còn lại lưu giữ làm thức ăn cho gia súc, gia cầm tại hộ.


CHƯƠNG III: Phương hướng và giải pháp phát triển sản xuất ngô tại xã Xá Nhè

Trên cơ sở phân tích thực trạng và các bài học rút ra, chương III xác định phương hướng chuyển dịch sản xuất ngô từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa tập trung, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Tác giả định hình các nhóm giải pháp:

  1. Giải pháp quy hoạch và đất đai: Hoàn thiện quy hoạch các vùng đất nông nghiệp chuyên canh ngô trên đất dốc; áp dụng biện pháp canh tác bền vững (trồng ngô xen dải cây cải tạo đất, hạn chế xói mòn rửa trôi).
  2. Giải pháp giống và kỹ thuật canh tác: Mở rộng cung ứng các giống ngô lai có năng suất cao, chịu hạn và kháng sâu bệnh (như LVN885, CP 888, LVN10); tuân thủ lịch thời vụ, mật độ gieo trồng (6–8 vạn cây/ha đối với giống ngắn ngày) và kỹ thuật bón phân NPK cân đối theo 3 đợt.
  3. Giải pháp bảo vệ thực vật và môi trường: Tăng cường dự tính dự báo phòng trừ sâu bệnh (đặc biệt là sâu keo mùa thu, sâu đục thân); khuyến khích sử dụng phân chuồng, ủ phân hữu cơ vi sinh thay thế dần việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc trừ cỏ.
  4. Giải pháp thị trường, vốn và khuyến nông: Tăng cường vai trò cán bộ khuyến nông cơ sở trong chuyển giao kỹ thuật; lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn hỗ trợ từ Chương trình 30a, Chương trình 135 và Nghị quyết 120/2020/QH14; thiết lập các liên kết tiêu thụ sản phẩm ổn định với thương lái và doanh nghiệp chế biến nhằm hạn chế tình trạng ép giá.

Kết quả và đóng góp

1. Kết quả nghiên cứu chính

  • Khóa luận đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về sản xuất ngô tại xã Xá Nhè trong chuỗi dữ liệu 5 năm (2015–2019), ghi nhận bước chuyển biến về năng suất (từ 16,8 tạ/ha năm 2015 lên 30,0 tạ/ha năm 2019) và sản lượng (từ 776 tấn lên 1.350 tấn/năm).
  • Làm rõ cơ cấu phân bố diện tích trồng ngô tại 10 thôn, bản (trong đó Pàng Dề A và Trung Dù là hai vùng sản xuất lớn nhất, chiếm lần lượt 12,0% và 11,6% diện tích toàn xã).
  • Định lượng chi phí đầu tư trực tiếp của hộ nông dân theo 3 quy mô (nhỏ, vừa, lớn) và xác định tỷ lệ thương phẩm hóa đạt khoảng 90% tổng sản lượng ngô toàn xã, mang lại nguồn thu ròng từ 10 đến 30 triệu đồng/hộ/vụ mùa.

2. Đóng góp của đề tài

  • Đề tài là công trình nghiên cứu chuyên biệt về kinh tế nông nghiệp tại địa bàn xã Xá Nhè, huyện Tủa Chùa; cung cấp nguồn tư liệu và số liệu thực tế về thực trạng canh tác ngô trên đất dốc vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.
  • Đánh giá được tiềm năng, lợi thế tự nhiên cũng như các khó khăn đặc thù (chi phí vật tư cao, sâu bệnh hại, thị trường đầu ra phụ thuộc thương lái), từ đó xây dựng hệ thống giải pháp gắn liền với các chương trình mục tiêu quốc gia đang triển khai trên địa bàn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát sơ cấp tập trung chủ yếu vào vụ mùa năm 2019 tại một số nhóm hộ điển hình và các thôn đại diện; dung lượng phân tích chuỗi giá trị và kênh phân phối trung gian ngoài địa bàn huyện còn ở mức độ tổng hợp sơ bộ do hạn chế về thời gian khảo sát thực địa (từ tháng 8 đến tháng 11 năm 2020).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường theo chuỗi giá trị ngô khép kín (từ cung ứng vật tư, sản xuất, sơ chế, bảo quản sau thu hoạch đến các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp); đánh giá chi tiết mức độ tác động của các chính sách tín dụng ưu đãi và chương trình khuyến nông đối với thu nhập bền vững của từng nhóm hộ dân tộc thiểu số tại huyện Tủa Chùa.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu thực tế hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý tài nguyên: Tham khảo phương pháp xây dựng báo cáo thực tập tốt nghiệp, cấu trúc bảng biểu thống kê kinh tế nông hộ và kỹ thuật phân tích thực trạng sản xuất nông nghiệp cấp xã.
  • Cán bộ quản lý kinh tế, khuyến nông cấp cơ sở tại các huyện miền núi: Tham khảo số liệu thực chứng về mô hình canh tác ngô lai trên đất dốc, định mức chi phí đầu tư nông hộ và các đề xuất giải pháp chính sách phát triển cây lương thực gắn với công tác giảm nghèo.

Câu hỏi thường gặp

1. Năng suất và sản lượng ngô vụ mùa tại xã Xá Nhè biến động như thế nào trong giai đoạn 2015–2019?

Giai đoạn 2015–2018, năng suất ngô duy trì trong khoảng 16,8–18,7 tạ/ha, sản lượng đạt từ 776 đến 891,42 tấn/năm. Năm 2019, năng suất ngô tăng lên 30 tạ/ha, giúp sản lượng đạt 1.350 tấn/năm dù diện tích gieo trồng giảm từ 500 ha (năm 2018) xuống 450 ha.

2. Chi phí đầu tư vật tư sản xuất ngô của các hộ nông dân tại Xá Nhè năm 2019 là bao nhiêu?

Theo khảo sát tại khóa luận:

  • Hộ sản xuất nhỏ đầu tư 1.470.000 đồng (phân bón: 450.000 đồng, giống: 560.000 đồng, thuốc trừ cỏ: 380.000 đồng, thuốc trừ sâu: 80.000 đồng).
  • Hộ sản xuất vừa đầu tư 8.150.000 đồng (phân bón: 3.150.000 đồng, giống: 3.000.000 đồng, thuốc trừ cỏ: 1.000.000 đồng, thuốc trừ sâu: 1.000.000 đồng).
  • Hộ sản xuất lớn đầu tư 15.300.000 đồng (phân bón: 6.000.000 đồng, giống: 6.000.000 đồng, thuốc trừ cỏ: 2.000.000 đồng, thuốc trừ sâu: 1.300.000 đồng).

3. Tình hình tiêu thụ sản phẩm ngô tại địa bàn xã Xá Nhè diễn ra như thế nào?

Khoảng 90% sản lượng ngô sau thu hoạch được các hộ dân bán trực tiếp cho thương lái dưới dạng hạt phơi khô để vận chuyển đi chế biến thức ăn chăn nuôi; 10% còn lại giữ lại phục vụ chăn nuôi nông hộ. Giá bán dao động từ 3.500 đến 4.000 đồng/kg, giúp các hộ thu về lợi nhuận ròng từ 10 đến 30 triệu đồng/vụ.

4. Những giống ngô nào được xác định là giống chủ lực mang lại năng suất cao tại địa phương?

Các giống ngô lai chủ yếu gồm CP 888 (thời gian sinh trưởng 105–115 ngày, định mức giống 12–13 kg/ha) và LVN 885 (thời gian sinh trưởng 95–105 ngày, mật độ 6,5–7 vạn cây/ha), cùng các giống lai phổ biến tại Tủa Chùa như LVN10, 9698, DK888.

5. Những chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp nào đã được triển khai tại xã Xá Nhè trong năm 2019?

Địa phương đã thực hiện các dự án hỗ trợ vốn phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, hỗ trợ máy móc sản xuất và nhân rộng mô hình chăn nuôi trâu bò theo Chương trình 30a (Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP), Dự án 2 Chương trình 135 (Quyết định 03/2019/QĐ-TTg) và Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.


Kết luận

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của tác giả Sùng A Cương đã phân tích toàn diện thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây ngô tại xã Xá Nhè, huyện Tủa Chùa giai đoạn 2015–2019. Nghiên cứu chỉ ra bước phát triển về năng suất và vai trò quan trọng của cây ngô trong cơ cấu cây lương thực và thu nhập nông hộ, đồng thời làm rõ những nút thắt về địa hình, chi phí vật tư và kỹ thuật canh tác đất dốc. Hệ thống giải pháp được đề xuất cung cấp căn cứ thực tiễn cho chính quyền địa phương trong việc định hướng quy hoạch và thực thi chính sách giảm nghèo bền vững.