CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM VÀ MÔ HÌNH CAMEL 1.1 Cơ sở lý luận về NHTM 1.1Khái niệm NHTM NHTM là một loại hình TCTD được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010 nhằm mục tiêu lợi nhuận.2Một số hoạt động chính của NHTM[7] a. Hoạt động huy động vốn NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau: - Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác. - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. - Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của các TCTD nước ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của NHNN. Hoạt động cấp tín dụng NHTM được cáp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bão lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN như bao thanh toán, tài trợ nhập khẩu, tài trợ xuất khẩu, cho vay thấu chi cho vay theo hạn mức tín dụng và hạn mức tín dụng dự phòng, … Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ 5 [Type here] Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước. Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua NHNN, NHTM phải mở tài khoản tiền gửi tại NHNN nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định.
Ngoài ra, chi nhánh NHTM được mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của NHTM bao gồm các hoạt động sau: - Cung cấp các phương tiện thanh toán - Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng - Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ - Thực hiện các dịch vụ thanh toán theo quy định của NHNN - Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép - Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng - Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước - Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép d. Các hoạt động khác Các hoạt động khác của NHTM bao gồm: góp vốn, mua Cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ và bảo hiểm, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ liên quan đến hoạt động ngân hàng.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM a. Khái niệm hiệu quả Hiệu quả là vấn đề được chú trọng trong nhiều lĩnh vực đời sống và được xem là tiêu chí đánh giá chất lượng của mọi hoạt động.
Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Theo Peter S. Rose, bản chất của NHTM cũng có thể được xem là một tập đoàn kinh doanh, hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho 6 [Type here] phép. Đạt được hiệu quả kinh doanh cao là mục tiêu mà các ngân hàng quan tâm vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời có thể giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động của mình. [9] Theo ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB – European Central Bank), hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững.
Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, rồi cải thiện lợi nhuận thu được trong tương lại thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại. [11] Như vậy, một ngân hàng được đánh giá là có hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt thì bên cạnh việc đáp ứng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với chi phí tối thiểu, ngân hàng còn phải thường xuyên đáp ứng các yêu cầu về an toàn hoạt động và giảm thiểu rủi ro.3 Cơ sở lý luận về mô hình CAMEL 1.1Giới thiệu mô hình CAMEL Mô hình CAMEL là là một phương pháp đánh giá sức khỏe của các TCTD được Cục quản lý TCTD Hoa kỳ (National Credit Union Administration – NCUA) thông qua năm 1987 [18]. Mô hình dùng để xếp hạng cho các tổ chức tín dụng dựa trên việc đánh giá 5 tiêu chí: - C (Capital adequacy): Mức độ an toàn vốn - A (Asset quality): Chất lượng tài sản - M (Management ability): Năng lực quản lý - E (Earning): Khả năng sinh lời - L (Liquidity): Khả năng thanh khoản CAMEL được coi là chuẩn mực đối với hầu hết các tổ chức trên toàn thế giới khi đánh giá hiệu quả, rủi ro của các ngân hàng nói riêng và các TCTD nói chung. Tại Việt Nam, NHNN đã áp dụng hệ thống đánh giá theo tiêu chuẩn CAMEL 7 [Type here] đối với các NHTM trong thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa.
Các quy định đánh giá giám sát NHTM được ban hành kèm theo Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN. Việc xếp hạng sẽ được sử dụng để đánh giá thực trạng của hệ thống ngân hàng và phần nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh tra tại chỗ: quá trình thanh tra sẽ được rút ngắn đáng kể về thời gian; nội dung thanh tra sẽ chỉ tập trung vào những chỉ tiêu cần chú ý trong hệ thống xếp hạng theo tiêu chuẩn CAMEL.2 Các mức xếp hạng của mô hình CAMEL [17] Mô hình này dựa trên báo cáo tài chính, nghĩa là thông qua thanh tra tại chỗ để đánh gia xếp hạng theo bậc từ 1 (tốt nhất) đến 5 (kém nhất) và được tổng hợp lại để đưa ra xếp hạng cuối cùng. Hạng 1: Tổ chức tài chính hoạt động tốt với mức cao hơn trung bình chung Hạng 2: Tổ chức tài chính hoạt động ở mức trung bình hoặc trên trung bình không nhiều, vừa đủ mức an toàn Hạng 3: Tổ chức tài chính hoạt động ở dưới mức trung bình Hạng 4: Tổ chức tài chính hoạt động không đảm bảo, thấp hơn mức trung bình rất nhiều, cần phải giám sát để tránh nguy cơ mất năng lực hoạt động Hạng 5: Tổ chức tài chính hoạt động rất kém và nguy cơ mất năng lực hoạt động, cần phải được chú ý giám sát ngay. Việc đánh giá các yếu tố của CAMEL và mối liên hệ giữa chúng là cơ sở để đưa ra đánh giá tổng hợp.
Mặc dù các yếu tố của CAMEL thường có liên hệ rất gần với đánh giá chỉ số tổng hợp nhưng không có nghĩa là chỉ số tổng hợp được tính toán bằng cách lấy giá trị trung bình của các yếu tố CAMEL. Ví dụ, có thể một ngân hàng vẫn hoạt động với một đội ngũ quản lý, mức thu nhập và thanh khoản có thể chấp nhận được nhưng chất lượng tài sản không tốt. Như vậy, chỉ số tổng hợp ở mức 3 có thể là thích hợp. 8 [Type here] Kết quả phân loại không được công bố cho công chúng biết mà chỉ phục vụ riêng cho cơ quan quản lý, giám sát tổ chức tài chính nhằm đánh giá tình trạng yếu kém và đưa ra biện pháp phòng ngừa tài sản.3 Nội dung mô hình CAMEL 1.Mức độ an toàn vốn (Capital adequacy) Trên thị trường tài chính luôn tồn tại nhiều rủi ro ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức tín dụng nói dung và các ngân hàng nói riêng.
Bên cạnh việc đánh giá đúng những rủi ro phải đối mặt như: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành, các ngân hàng cần phải duy trì một lượng vốn đủ để trang trải cho các hoạt động của mình để bù đắp cho những tổn thất không mong đợi, đảm bảo sự an toàn cho người gửi tiền cũng như các chủ sở hữu. [12] Đáp ứng yêu cầu vốn tối thiểu theo luật định là nhân tố then chốt trong việc quyết định một ngân hàng có an toàn vốn hay không và duy trì một mức vốn đầy đủ là nhân tố quan trọng. [12] Mức độ an toàn vốn được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: Tỷ lệ an toàn vốn Tỷ lệ an toàn vốn là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh mức độ an toàn của vốn của ngân hàng, được xác định trên cơ sở vốn tự có so với tài sản có quy đổi theo tỷ trọng rủi ro của từng loại tài sản. Theo quy định của Thông tư 36, các NHTM Việt Nam đang áp dụng công thức tính tỷ lệ an toàn vốn như sau: [3] Vốn tự có CAR = X 100% Tài sản có điều chỉnh rủi ro Trong đó: Vốn tự có bao gồm: vốn cấp 1, vốn cấp 2 và các khoản giảm trừ + Vốn cấp 1 (Vốn cơ bản): bao gồm lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố, như là Cổ phần thường, Cổ phần ưu đãi dài hạn, thặng dư vốn, lợi nhuận không chia, dự phòng chung các khoản dự trữ vốn khác.
9 [Type here] + Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung): Bao gồm tất cả các vốn khác như vốn từ phát hành trái phiếu, giấy nợ và các khoản dự phòng ẩn (như trợ cấp cho các khoản vay và trợ cấp cho các khoản cho thuê) Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định của Basel và của BIS (Bank for International Settlement) là 8%, theo quy định hiện hành của NHNN Việt Nam là 9%. Hệ số tự tài trợ Hệ số tự tài trợ là tỷ lệ VCSH trên tổng nguồn vốn. Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập về mặt tài chính của ngân hàng. Chỉ tiêu này cho biết, trong tổng số nguồn vốn của ngân hàng, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần.
Trị số của chỉ tiêu càng lớn chứng tỏ khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính cao, mức độ độc lập về mặt tài chính của ngân hàng càng tăng và ngược lại, khi trị số của chỉ tiêu càng nhỏ, khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính của ngân hàng càng thấp, mức độ độc lập về tài chính của ngân hàng càng giảm.