Mở đầu Tổng quan cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và tổng quan về cấu trúc luận văn. Chương 2: Tổng quan Chương này giới thiệu sơ lược tổng quan lịch sử hình thành, phát triển và một số thành tựu nổi bật của 09 Ngân hàng thương mại cổ phần. Trình bày các nghiên cứu đã có trước đó. Chương 3: Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu Những khái niệm định nghĩa liên quan làm nền tảng cho vấn đề cần nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại.
Nêu ra các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài, cụ thể là: Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp; phân tích số liệu sử dụng phần mềm DEAP để phân tích số liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Tìm hiểu về tình hình hoạt động kinh doanh của 09 ngân hàng. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của một số ngân hàng này. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại các ngân hàng.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Rút ra kết luận từ kết quả thu được trong quá trình khảo sát và thảo luận, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong hoạt dộng kinh doanh của các ngân hàng. 3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã tổng hợp được một số tài liệu nghiên cứu như sau: Theo Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2015). Đánh giá hiệu quả sản xuất khóm của nông hộ ở huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ. Nghiên cứu ứng dụng phương pháp phân tích màng bao dữ liệu (DEA- Data Envelopment Analysis) để đánh giá hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả chi phí, hiệu quả phân phối nguồn lực và hiệu quả quy mô của nông hộ sản xuất khóm trên địa bàn huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Số liệu nghiên cứu được thu thập từ 226 nông hộ trồng khóm ở huyện Tân Phước. Kết quả chỉ ra rằng, nông hộ sản xuất khóm ở huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang có hiệu quả kỹ thuật tương đối cao, hiệu quả phân phối nguồn lực và hiệu quả sử dụng chi phí ở mức trung bình.
Hiệu quả quy mô của hộ sản xuất khóm đạt kết quả khá cao. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, có sự chênh lệch về hiệu quả sản xuất giữa hộ nghèo và hộ không nghèo. Các chỉ tiêu về hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả chi phí và hiệu quả quy mô của hộ nghèo đều thấp hơn hộ không nghèo. Theo Nguyễn Quang Khải (2014).
Xây dựng mô hình DEA đánh giá hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Tài chính. Thông qua dữ liệu từ 20 ngân hàng thương mại Việt Nam năm 2014, tác giả đề xuất phương pháp lựa chọn các biến đầu ra và đầu vào dựa trên phương pháp thiết kế nhân tố phân đoạn 3 mức độ và hoảng cách Mahanalobis. Với mục đích tìm ra những yếu tố đầu vào và đầu ra phù hợp cho mô hình DEA tác giả đã liệt kê ra 13 biến đầu vào và đầu ra tiềm năng, sau đó tiến hành 27 lần chạy mô hình để tính khoảng cách Mahalanobis cho 2 nhóm hiệu quả cao nhất và thấp nhất; tiến hành phân tích phương sai, xem xét mức ý nghĩa… đã tìm ra được 2 biến đầu vào là tổng lượng tiền gửi và số lượng nhân viên, 3 biến đầu ra là doanh thu, lợi nhuận ròng và tỷ lệ đòn bẩy.
Sau đó dựa trên kết quả đầu vào và đầu ra được lựa chọn tiến hành đánh giá hiệu quả của mô hình thông qua cấu trúc phân tầng bao gồm nhiều đường biên hiệu quả. Phân tầng thứ 1 là đường biên hiệu quả ban đầu với đầy đủ các DMU. Phân tầng thứ 2 được tạo ra khi loại bỏ các DMU hiệu quả ở phân tầng thứ 1 và chạy lại DEA. Kết quả cho thấy các ngân hàng trong top 10 hiệu quả cao được phân thành các tầng cao hơn và hoạt động hiệu quả hơn so với những ngân hàng ở các tầng thấp.
Theo Quan Minh Nhựt và Lý Thị Phương Thảo (2014). Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp bất động sản đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ. Tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến dựa vào phương pháp bình phương bé nhất (OLS) để ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 58 doanh nghiệp bất động sản đang giao dịch trên hai sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội thông qua hai chỉ tiêu là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA).
Kết quả từ mô hình cho thấy bốn biến tổng vốn vay/tổng nợ (X2), tài sản cố định/tổng tài sản (X3), tỷ lệ cổ phiếu quỹ/tổng vốn cổ phần (X4), và thời gian hoạt động của doanh nghiệp (X9) đều có tác động đến hiệu quả doanh nghiệp ở cả hai chỉ tiêu là ROE và ROA. Trong đó, tỷ lệ cổ phiếu quỹ và thời gian hoạt động của doanh nghiệp có tác động tích cực còn tỷ lệ vốn vay/tổng nợ và tỷ lệ tài sản cố định có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Hai biến còn lại có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp là tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu (X1) và tỷ lệ chi phí bán hàng, chi phí quản lý (X6) theo chiều hướng tích cực. Theo Nguyễn Thanh Tùng và Đinh Thị Ngân (2013).
Ứng dụng phương pháp DEA trong đánh giá hiệu quả - rủi ro của các NHTM Việt Nam 2008-2011. Seminar 5 Nghiên cứu Kinh tế và chính sách số 10. Số liệu sử dụng được thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán hợp nhất của 29 NHTM trong 4 năm giai đoạn 2008-2011. Các biến đầu vào bao gồm: Tổng tài sản (TA), chi phí lãi vay (IN), vốn chủ sở hữu (EQ); các biến đầu ra gồm: lợi nhuận chưa phân phối (RE), thu nhập trước thuế (EB), thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), tổng nợ trên vốn chủ sở hữu (TL/EQ), nợ xấu (NPL).
Kết quả của mô hình DEA cho thấy, hệ thống NHTM Việt Nam có mức độ rủi ro cao hơn tương đối so với hiệu quả hoạt động. Hiệu quả hoạt động trong giai đoạn 2008-2011 ở mức thấp, duy chỉ có năm 2009 hiệu quả hoạt động tăng cao hơn so với những năm còn lại. Những NHTM có quy mô vốn CSH nhỏ thường là những ngân hàng có mức độ rủi ro cao. Ngược lại, những NHTM có quy mô vốn CSH lớn lại chỉ chấp nhận mức độ rủi ro thấp.
Theo Ngô Đăng Thành (2010). Đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực của một số NHTMCP ở Việt Nam ứng dụng phương pháp bao dữ liệu (DEA). Khoa Kinh tế chính trị, Trường ĐH Kinh tế, ĐHQGHN. Bài viết nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào khá cơ bản của một số ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) ở Việt Nam trong vài năm gần đây như chi phí tiền lương (w), chi phí trả lãi và các khoản tương tự (i), và các khoản chi phí khác (c) tới các kết quả đầu ra như tổng tài sản (A), thu nhập từ lãi và các khoản tương tự (Ri), và các khoản thu nhập khác (Rf).
Kết quả nghiên cứu tại 22 NHTMCP Việt Nam cho thấy tuy hiệu quả sử dụng nguồn lực là tương đối tốt (trung bình đạt 91,7%) nhưng vẫn còn khả năng rất lớn để các ngân hàng này nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào của mình. Qua tổng quan tài liệu tác giả thu thập được, mô hình DEA được ứng dụng khá rộng rãi trong nhiều lĩnh vực để đánh giá hiệu quả sản xuất của nông hộ, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng nguồn lực hay hiệu quả- rủi ro của các NHTM… 2. Tổng quan về những ngân hàng nghiên cứu 2. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) Tên giao dịch viết tắt: BIDV 6 Tên Giao Dịch Quốc Tế/Bank Name: Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Vietnam – BIDV Địa chỉ: Tháp BIDV 35 Hàng Vôi, Hoàn Kiếm, Hà Nội Điện thoại: (042) 220 0588 Website: www.vn Swift code: BIDVVNVX Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam được thành lập vào ngày 26/4/1957 với tên gọi là Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam.
Trải qua rất nhiều năm hình thành và phát triển ngân hàng BIDV đứng một trong top 5 ngân hàng nhà nước lớn nhất Việt Nam. Đứng trong top 30 các ngân hàng có quy mô tài sản lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Và đứng trong danh sách 1.000 ngân hàng tốt nhất thế giới của tạp chí The Banker bình chọn. Đây là ngân hàng được cộng đồng trong nước và quốc tế đánh giá là một trong những thương hiệu ngân hàng lớn nhất Việt Nam hiện nay.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam( Vietcombank) Tên giao dịch viết tắt: Vietcombank Tên Giao Dịch Quốc Tế/Bank Name: Joint Stock Commercial Bank for Foreign Trade of Vietnam-VCB Địa chỉ: 198 Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội Số điện thoại: (0243) 8243 524 Website: www.vn Swift code: BFTVVNVX Ngân hàng Vietcombank được chính thức đi vào hoạt động ngày 01/04/1963 với tổ chức tiền thân là Cục Ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đây là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thí điểm cổ phần hóa. 7 Trải qua hơn nửa thế kỷ hoạt động và phát triển trên thị trường, Vietcombank xứng đáng là một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất nước ta hiện nay. Đây cũng là một trong 5 ngân hàng nhà nước lớn nhất Việt Nam hiện nay.000 cán bộ nhân viên và hơn 500 Chi nhánh/Phòng Giao dịch/Đơn vị thành viên/Văn phòng đại diện/ trong và ngoài nước.
Với Trụ sở chính tại Hà Nội và 101 chi nhánh và 395 phòng giao dịch trên toàn quốc,… Bên cạnh đó, ngân hàng Vietcombank còn phát triển một hệ thống Autobank với hơn 2.407 máy rút tiền ATM và trên 43.000 đơn vị chấp nhận Thẻ trên cả nước. Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã có những đóng góp quan trọng cho sự ổn định và phát triển kinh tế nước nhà. Không hổ danh khi Vietcombank đứng trong top những ngân hàng lớn nhất Việt Nam.