Luận văn: Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHCSXH Đức Thọ, Hà Tĩnh

Chuyên khảo kinh tế phân tích Đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng ở ngân hàng chính sách xã hội huyện đức thọ tỉnh hà tĩnh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Kinh Tế Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2008

69
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn đánh giá hiệu quả tín dụng NHCSXH huyện Đức Thọ Hà Tĩnh

Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Chính sách Xã hội (NHCSXH) huyện Đức Thọ giữ vai trò then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Với sứ mệnh không vì lợi nhuận, phòng giao dịch VBSP Đức Thọ tập trung cung cấp nguồn vốn vay ưu đãi cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Mục tiêu chính là góp phần thực hiện chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo và ổn định xã hội. Việc đánh giá hiệu quả tín dụng chính sách xã hội không chỉ đo lường bằng các chỉ số tài chính thông thường như lợi nhuận, mà quan trọng hơn là phúc lợi xã hội mang lại. Các phân tích tập trung vào khả năng tiếp cận vốn, hiệu quả sử dụng vốn của người vay và tác động lan tỏa đến cộng đồng. Nguồn vốn tín dụng chính sách được xem là đòn bẩy kinh tế, giúp người dân đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và cải thiện đời sống. Theo nghị định 78/2002/NĐ-CP, hoạt động của NHCSXH là sử dụng nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho vay ưu đãi, hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững và đảm bảo an sinh xã hội. Do đó, một phân tích toàn diện cần xem xét cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế thể hiện qua các chỉ số như tăng trưởng dư nợ, vòng quay vốn tín dụng, và khả năng thu hồi nợ. Hiệu quả xã hội được đo lường qua số hộ thoát nghèo, số lao động được tạo việc làm mới, và sự cải thiện các điều kiện sống cơ bản như nước sạch, vệ sinh môi trường. Sự kết hợp giữa hai khía cạnh này cung cấp một cái nhìn đầy đủ về tác động của vốn tín dụng chính sách tại huyện Đức Thọ.

1.1. Vai trò của nguồn vốn vay ưu đãi trong giảm nghèo bền vững

Nguồn vốn vay ưu đãi từ VBSP huyện Đức Thọ là công cụ tài chính quan trọng, trực tiếp hỗ trợ các hộ nghèo và đối tượng chính sách vượt qua rào cản về vốn. Không giống tín dụng thương mại, tín dụng chính sách có lãi suất thấp, thủ tục đơn giản và không yêu cầu tài sản thế chấp đối với một số chương trình, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người dân. Vốn được sử dụng để đầu tư vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, kinh doanh nhỏ lẻ, và giải quyết các nhu cầu thiết yếu như nhà ở, học tập cho con em. Chính sách này không chỉ cung cấp “cần câu” thay vì “xâu cá”, mà còn khuyến khích tinh thần tự lực vươn lên của người nghèo. Qua đó, các hộ gia đình có cơ hội tăng thu nhập, ổn định cuộc sống và từng bước thoát khỏi ngưỡng nghèo một cách bền vững, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu an sinh xã hội tại địa phương.

1.2. Sứ mệnh của Phòng giao dịch VBSP Đức Thọ trong an sinh xã hội

Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Đức Thọ được thành lập theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP, kế thừa mô hình từ Ngân hàng phục vụ người nghèo. Sứ mệnh cốt lõi của đơn vị là chuyển tải nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ đến đúng đối tượng thụ hưởng, đảm bảo công khai, minh bạch và hiệu quả. Hoạt động của phòng giao dịch VBSP Đức Thọ không chỉ dừng lại ở việc cho vay mà còn bao gồm cả công tác giám sát, hướng dẫn người dân sử dụng vốn đúng mục đích. Thông qua mô hình ủy thác cho vay qua các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên, ngân hàng đã xây dựng được một mạng lưới rộng khắp, tiếp cận đến từng thôn xóm. Mô hình này giúp giảm chi phí giao dịch cho người dân, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cộng đồng trong việc quản lý và thu hồi vốn, đảm bảo chất lượng tín dụng và thúc đẩy các mục tiêu giảm nghèo bền vững.

II. Các thách thức chính ảnh hưởng chất lượng tín dụng VBSP Đức Thọ

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, hoạt động tín dụng tại VBSP huyện Đức Thọ vẫn đối mặt với không ít thách thức, tác động trực tiếp đến chất lượng tín dụng. Một trong những khó khăn lớn nhất là tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn huyện còn cao, chiếm tới 30% theo chuẩn giai đoạn 2006-2010. Điều này tạo ra áp lực lớn về nhu cầu vốn, trong khi nguồn lực có hạn. Thêm vào đó, đặc thù kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào nông nghiệp, một lĩnh vực phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Thiên tai, dịch bệnh xảy ra thường xuyên gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất và chăn nuôi của người dân, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ và làm tăng nguy cơ phát sinh tỷ lệ nợ quá hạn. Quy trình xét duyệt cho vay, dù đã được cải tiến, đôi khi vẫn còn qua nhiều cấp phê duyệt, có thể làm chậm tiến độ giải ngân, khiến người dân bỏ lỡ thời cơ sản xuất kinh doanh. Việc cho vay tín chấp đối với hộ nghèo, dù mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, cũng tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng nếu công tác thẩm định, giám sát sau cho vay không được thực hiện chặt chẽ. Việc nâng cao nhận thức và năng lực sử dụng vốn cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách cũng là một thách thức không nhỏ. Nhiều hộ gia đình còn thiếu kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh, dẫn đến việc sử dụng vốn chưa thực sự hiệu quả. Những khó khăn này đòi hỏi cần có các giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng một cách đồng bộ và bền vững.

2.1. Phân tích những khó khăn trong huy động và quản lý nguồn vốn

Nguồn vốn hoạt động của VBSP huyện Đức Thọ chủ yếu đến từ nguồn vốn trung ương chuyển về (chiếm trên 95% tổng nguồn vốn vào năm 2007). Sự phụ thuộc này khiến hoạt động cho vay bị giới hạn bởi kế hoạch phân bổ từ cấp trên. Nguồn vốn huy động tại địa phương và từ ngân sách huyện còn rất khiêm tốn. Theo báo cáo, vốn ngân sách địa phương đóng góp chỉ chiếm 0,4% tổng nguồn vốn năm 2007. Việc huy động tiền gửi tiết kiệm trong dân cư, đặc biệt từ chính người nghèo, gặp nhiều khó khăn do thu nhập của họ còn thấp và không ổn định. Điều này làm giảm tính chủ động của chi nhánh trong việc cân đối nguồn vốn để đáp ứng kịp thời nhuocsododong2so vay ngày càng tăng của người dân trên địa bàn.

2.2. Rủi ro và tỷ lệ nợ quá hạn trong thực trạng hoạt động cho vay

Rủi ro tín dụng là một thách thức cố hữu trong hoạt động cho vay, đặc biệt là cho vay các đối tượng yếu thế. Các nguyên nhân khách quan như thiên tai, dịch bệnh, biến động giá cả thị trường là mối đe dọa thường trực, có thể khiến các phương án sản xuất của người dân thất bại. Bên cạnh đó, các nguyên nhân chủ quan như người vay sử dụng vốn sai mục đích, thiếu kinh nghiệm quản lý, hoặc cố tình chây ỳ không trả nợ cũng góp phần làm tăng rủi ro. Mặc dù tỷ lệ nợ quá hạn được kiểm soát ở mức thấp (dưới 1% theo mục tiêu), việc quản lý và xử lý các khoản nợ đến hạn vẫn là một nhiệm vụ phức tạp. NHCSXH phải phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các tổ chức nhận ủy thác để có biện pháp thu hồi nợ hiệu quả, tránh làm thất thoát vốn ưu đãi của nhà nước, đảm bảo vòng quay vốn tín dụng được duy trì.

III. Phân tích thực trạng hoạt động cho vay tại NHCSXH Đức Thọ

Phân tích thực trạng hoạt động cho vay của VBSP huyện Đức Thọ trong giai đoạn 2005-2007 cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ và tập trung rõ rệt vào các đối tượng mục tiêu. Tổng doanh số cho vay tăng liên tục, đạt tốc độ phát triển bình quân 143,1%/năm. Điều này phản ánh nỗ lực của ngân hàng trong việc mở rộng quy mô tín dụng, đưa nguồn vốn ưu đãi đến với ngày càng nhiều người dân. Hoạt động cho vay được triển khai thông qua nhiều chương trình tín dụng khác nhau, hướng đến các nhóm đối tượng cụ thể. Trong đó, chương trình cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác luôn là trụ cột, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh số. Bên cạnh đó, các chương trình cho vay giải quyết việc làm, cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn cũng ngày càng được chú trọng và mở rộng. Sự đa dạng hóa các chương trình cho vay đã giúp NHCSXH đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của người dân, từ đó tạo ra tác động của vốn tín dụng chính sách một cách toàn diện hơn. Việc phân tích cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế và theo đối tượng giúp nhận diện rõ hơn các lĩnh vực đầu tư trọng điểm cũng như hiệu quả của từng chương trình, làm cơ sở để xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng trong tương lai.

3.1. Cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế Nông nghiệp là trọng tâm

Xét về cơ cấu ngành, nông nghiệp là lĩnh vực nhận được sự đầu tư lớn nhất từ VBSP huyện Đức Thọ. Năm 2007, doanh số cho vay ngành nông nghiệp đạt 17.498 triệu đồng, chiếm 55% tổng doanh số cho vay. Điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm kinh tế của huyện, nơi phần lớn dân cư sinh sống bằng nghề nông. Vốn tín dụng được đầu tư để mua sắm vật tư, giống cây trồng, vật nuôi, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, ngành thương mại và dịch vụ cũng cho thấy tiềm năng phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng cho vay bình quân đạt 163,1%/năm. Sự gia tăng đầu tư vào lĩnh vực này cho thấy các hộ vay đang dần đa dạng hóa hoạt động kinh tế, không chỉ tập trung vào nông nghiệp, qua đó giảm thiểu rủi ro và tăng cơ hội tạo thu nhập.

3.2. Tình hình cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác

Cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách là nhiệm vụ trọng tâm của ngân hàng. Doanh số cho vay hộ nghèo tăng trưởng ổn định, với tốc độ bình quân 132,2%/năm trong giai đoạn 2005-2007. Đặc biệt, chương trình cho vay học sinh, sinh viên (HSSV) có hoàn cảnh khó khăn ghi nhận sự tăng trưởng đột phá, với tốc độ bình quân lên tới 212,9%/năm. Sự tăng vọt này thể hiện tính nhân văn của chính sách, đảm bảo không một HSSV nào phải bỏ học vì lý do tài chính, góp phần đầu tư cho tương lai và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho địa phương. Các chương trình khác như cho vay giải quyết việc làm, cho vay xuất khẩu lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo cơ hội việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.

IV. Đánh giá chi tiết tăng trưởng dư nợ và cơ cấu nguồn vốn tại VBSP

Hiệu quả hoạt động của VBSP huyện Đức Thọ được thể hiện rõ nét qua các chỉ số về nguồn vốn và dư nợ. Tổng nguồn vốn của chi nhánh đã tăng trưởng ấn tượng trong giai đoạn 2005-2007, đạt tốc độ bình quân 139,4%/năm. Sự gia tăng này tạo nền tảng vững chắc để ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động, đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn. Tương ứng với sự tăng trưởng nguồn vốn, tổng dư nợ cũng ghi nhận mức tăng trưởng cao và ổn định. Tăng trưởng dư nợ không chỉ phản ánh việc mở rộng quy mô cho vay mà còn cho thấy mức độ tín nhiệm của người dân đối với các chương trình tín dụng chính sách. Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn và dư nợ theo từng đối tượng cho vay giúp ngân hàng có cái nhìn sâu sắc về dòng chảy của đồng vốn ưu đãi. Từ đó, ngân hàng có thể điều chỉnh chính sách, phân bổ nguồn lực hợp lý hơn, hướng tới việc tối ưu hóa hiệu quả hoạt động và thực hiện tốt hơn sứ mệnh an sinh xã hội. Mô hình ủy thác cho vay qua các tổ chức chính trị - xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý dư nợ và nâng cao chất lượng tín dụng.

4.1. Phân tích tốc độ tăng trưởng dư nợ qua các năm 2005 2007

Tổng dư nợ tại VBSP huyện Đức Thọ đã tăng từ 40.003 triệu đồng năm 2005 lên 78.434 triệu đồng vào cuối năm 2007. Dư nợ cho vay hộ nghèo luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất, tăng từ 27.542 triệu đồng (2005) lên 48.542 triệu đồng (2007). Bên cạnh đó, dư nợ của chương trình cho vay giải quyết việc làm cũng tăng đáng kể, đạt tốc độ tăng bình quân 135,9%/năm. Đặc biệt, dư nợ cho vay HSSV có sự bùng nổ, từ 524 triệu đồng năm 2005 đã vọt lên 12.430 triệu đồng vào năm 2007. Sự tăng trưởng dư nợ đồng đều ở các chương trình cho thấy chính sách tín dụng đã được triển khai hiệu quả và bao phủ rộng rãi đến nhiều đối tượng khác nhau trên địa bàn.

4.2. Cơ cấu nguồn vốn Sự phụ thuộc lớn vào vốn từ trung ương

Phân tích cơ cấu nguồn vốn cho thấy một sự phụ thuộc lớn vào nguồn vốn do trung ương phân bổ. Năm 2007, vốn trung ương chiếm tới 96,3% tổng nguồn vốn của chi nhánh, trong khi vốn huy động tại địa phương chỉ chiếm 3,3%. Mặc dù nguồn vốn này đảm bảo tính ổn định, nhưng sự phụ thuộc cao làm giảm tính tự chủ của phòng giao dịch VBSP Đức Thọ trong việc đáp ứng các nhu cầu vốn phát sinh đột xuất. Việc tăng cường huy động các nguồn vốn tại chỗ, bao gồm cả vốn từ ngân sách địa phương và tiền gửi của các tổ chức, cá nhân, là một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng cần được chú trọng trong thời gian tới để đa dạng hóa nguồn vốn và tăng cường năng lực tài chính cho chi nhánh.

4.3. Mô hình ủy thác cho vay qua các tổ chức chính trị xã hội

Mô hình ủy thác cho vay qua các tổ chức chính trị - xã hội là một đặc thù và là điểm sáng trong hoạt động của NHCSXH. Tại Đức Thọ, ngân hàng đã phối hợp hiệu quả với Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên để quản lý 319 tổ tiết kiệm và vay vốn. Các tổ chức này đóng vai trò là cầu nối, giúp ngân hàng thực hiện các công đoạn như bình xét đối tượng cho vay, đôn đốc trả nợ, thu lãi và giám sát việc sử dụng vốn. Theo số liệu năm 2007, tổng dư nợ ủy thác qua các hội đoàn thể đạt kết quả cao, minh chứng cho hiệu quả của mô hình này. Phương thức này không chỉ giúp giảm tải công việc cho cán bộ ngân hàng mà còn phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị cơ sở, đảm bảo vốn đến đúng đối tượng và nâng cao ý thức trả nợ của người dân.

V. Top 5 giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng NHCSXH Đức Thọ

Để tối ưu hóa tác động của vốn tín dụng chính sách và vượt qua các thách thức hiện hữu, việc triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng một cách đồng bộ là yêu cầu cấp thiết đối với VBSP huyện Đức Thọ. Các giải pháp cần tập trung vào nhiều khía cạnh, từ việc củng cố nguồn vốn, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, nâng cao năng lực cán bộ cho đến hỗ trợ khách hàng sử dụng vốn hiệu quả. Trước hết, cần đa dạng hóa nguồn vốn để giảm sự phụ thuộc vào ngân sách trung ương, tăng cường huy động vốn tại địa phương. Song song đó, công tác thẩm định và giám sát sau cho vay phải được siết chặt hơn nữa để đảm bảo vốn được sử dụng đúng mục đích và giảm thiểu rủi ro, kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ nợ quá hạn. Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn thông qua đào tạo, tập huấn là yếu tố then chốt để củng cố mạng lưới cơ sở. Đồng thời, việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ tín dụng là nền tảng để triển khai hiệu quả mọi chính sách. Cuối cùng, cần tăng cường phối hợp với các cơ quan khuyến nông, khuyến công để hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ cho người vay, giúp họ xây dựng các mô hình sản xuất kinh doanh bền vững, từ đó cải thiện vòng quay vốn tín dụng và thúc đẩy giảm nghèo bền vững.

5.1. Kiến nghị về công tác quản lý và đa dạng hóa nguồn vốn

Để tăng tính chủ động, phòng giao dịch VBSP Đức Thọ cần tích cực tham mưu cho chính quyền địa phương trích một phần từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách để bổ sung vào nguồn vốn cho vay trên địa bàn. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh các chương trình huy động tiền gửi tiết kiệm từ dân cư với các hình thức linh hoạt, hấp dẫn. Việc tăng cường các nguồn vốn tại chỗ không chỉ giúp đáp ứng tốt hơn nhu cầu vay vốn mà còn nâng cao trách nhiệm của cộng đồng địa phương đối với hoạt động tín dụng chính sách, góp phần đảm bảo chất lượng tín dụng và sự phát triển bền vững của ngân hàng.

5.2. Tối ưu hóa công tác kiểm tra giám sát hoạt động cho vay

Công tác kiểm tra, giám sát cần được thực hiện thường xuyên và sâu sát hơn. Cán bộ tín dụng phải tăng cường đi cơ sở, kiểm tra 100% các hộ vay vốn trước, trong và sau khi giải ngân để nắm bắt tình hình sử dụng vốn, kịp thời phát hiện và chấn chỉnh các trường hợp sử dụng sai mục đích. Cần xây dựng một quy chế phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng, chính quyền xã và các tổ chức nhận ủy thác trong việc giám sát. Việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý dữ liệu khách hàng và theo dõi các khoản vay cũng là một giải pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả và tính minh bạch trong công tác quản lý, góp phần kiểm soát tỷ lệ nợ quá hạn.

5.3. Nâng cao năng lực cho khách hàng và cán bộ tín dụng

Hiệu quả cuối cùng của đồng vốn phụ thuộc rất lớn vào năng lực của người sử dụng. Do đó, VBSP huyện Đức Thọ cần phối hợp với các trung tâm khuyến nông, khuyến công tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, kiến thức quản lý kinh doanh cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách. Về phía ngân hàng, cần thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, cập nhật các chính sách mới, trang bị kỹ năng thẩm định, phân tích rủi ro và giao tiếp với khách hàng. Một đội ngũ cán bộ giỏi chuyên môn, am hiểu địa bàn và tận tâm với công việc là nhân tố quyết định đến sự thành công của hoạt động tín dụng chính sách xã hội.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí luận về NHCSXH 1.1: Những vấn đề cơ bản về Ngân hàng chính sách: 1.1: Khái niệm và đặc điểm của NHCSXH: Căn cứ Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04 tháng 10 năm 2002 của thủ tướng chính phủ về thành lập NHCSXH thì: Ngân hàng chính sách xã hội là một tổ chức tín dụng Nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận: là một pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối, có con dấu, được mở tài khoản tại Ngân hàng nhà nước, Kho bạc nhà nước và các tổ chức tín dụng khác tại Việt Nam. NHCSXH là một đơn vị hạch toán tập trung toàn hệ thống, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật; thực hiện bảo tồn và phát triển vốn; bù đắp rủi ro và hoạt động tín dụng theo các điều khoản quy định tại Quy chế này. NHCSXH không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, có tỉ lệ dự trữ bắt buộc 0% (không phần trăm), được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước.2: Cơ cấu tổ chức của NHCSXH: * Cơ cấu tổ chức của NHCSXH gồm: - Hội sở chính đặt tại thủ đô Hà Nội; - Chi nhánh đặt tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; - Phòng giao dịch đặt tại các huyện, quận thuộc tỉnh, những nơi cần thiết thì thành lập chi nhánh NHCSXH cấp huyện và do hội đồng quản trị NHCSXH quyết định Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của hội sở chính, chi nhánh và phòng giao dịch do Hội đồng quản trị NHCSXH quyết định. * Cơ cấu tổ chức của NHCSXH được xây dựng trên cơ sở kế thừa mô hình đã tồn tại 7 năm của Ngân hàng phục vụ người nghèo, bao gồm 2 bộ phận cấu thành là bộ máy quản trị và bộ máy điều hành.

- Hội đồng quản trị của NHCSXH gồm 12 thành viên, gồm 9 thành viên kiêm nhiệm và 3 thành viên chuyên trách. 9 thành viên kiêm nhiệm gồm Thống 4 đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam là chủ tịch hội đồng quản trị, 8 thành viên còn lại là Thứ trưởng hoặc cấp tương đương thứ trưởng của Bộ tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ lao động thương binh và Xã hội, Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, uỷ ban dân tộc, Văn phòng chính phủ và phó chủ tịch Hội nông dân Việt Nam; 3 thành viên chuyên trách bao gồm: 1 uỷ viên giữ chức Phó chủ tịch thường trực, 1 uỷ viên giữ chức Tổng giám đốc, 1 uỷ viên giữ chức Trưởng ban kiểm soát. Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh được thành lập Ban đại diện Hội đồng làm trưởng ban. Chủ tịch uỷ ban nhân dân cùng cấp quyết định nhân sự Ban đại diện Ban đại diện hội đồng quản trị.

- Điều hành hoạt động của NHCSXH là Tổng giám đốc. Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của NHCSXH. Giúp việc cho Tổng giám đốc có một số Phó tổng giám đốc.3: Chức năng của NHCSXH: NHCSXH có các chức năng sau: - Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tổ chức và tầng lớp dân cư bao gồm tiền gửi có kì hạn, không kì hạn, tổ chức huy động tiết kiệm trong người nghèo. - Phát hành trái phiếu được chính phủ bão lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ khác: Vay cho các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước; Vay tiết kiệm bưu điện, bảo hiểm xã hội Việt Nam, vay Ngân hàng nhà nước - Được nhận vốn góp tự nguyện không có lãi hoặc không hoàn trả gốc của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị xã hội, các hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước.

- Mở tài khoản thanh toán tiền gửi cho tất cả các khách hàng trong và ngoài nước. - NHCSXH có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống liên ngân hàng trong và ngoài nước. 5 - NHCSXH thực hiện các dịch vụ ngân hàng về thanh toán và ngân quỹ: + Cung ứng phương tiện thanh toán + Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước + Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ bằng tiền mặt và không tiền mặt + Các dịch vụ khác theo quy định của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam. - Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần phục vụ mục tiêu quốc gia XĐGN, ổn định xã hội.

- Nhận làm dịch vụ uỷ thác cho vay từ các tổ chức quốc tế, quốc gia, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác.2: Nội dung hoạt động của NHCSXH: 1.1: Tạo lập nguồn vốn: Nguồn vốn của NHCSXH ban đầu xuất phát từ nguồn vốn do Ngân sách nhà nước cấp, trong đó có: - Vốn điều lệ 5 nghìn tỉ đồng - Vốn cho vay xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm và thực hiện chính sách xã hội khác. - Vốn trích một phần từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách các cấp để tăng nguồn vốn vay trên địa bàn. - Vốn ODA được chính phủ giao. Trên cơ sở nguồn vốn ngân sách cấp Ngân hàng huy động vốn cho mình từ các nguồn khác như: - Huy động từ tiền gửi có trả lãi của các tổ chức trong và ngoài nước; Tiền gửi tự nguyện không có lãi của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; Phát hành trái phiếu được chính phủ bão lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác; Tiền tiết kiệm của người nghèo.

6 - Vốn đi vay từ các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; vay tiết kiệm bưu điện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam; vay Ngân hàng nhà nước Việt Nam - Vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước. - Vốn nhận uỷ thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội, các hiệp hội, các hội, các cá nhân, tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước. - Vốn huy động từ các nguồn khác.2: Cho vay vốn: a. Mục đích sử dụng vốn vay: - Đối với hộ nghèo, hộ sản xuất kinh doanh thuộc hải đảo, thuộc khu vực II, III miền núi và các xã thuộc chương trình 135 sử dụng vốn vay để: + Mua sắm vật tư, thiết bị, giống cây trồng, vật nuôi, thanh toán các dịch vụ sản xuất kinh doanh.

+ Góp vốn để thực hiện các dự án sản xuất, kinh doanh được cấp có thẩm quyền phê duyệt. + Giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về: nhà ở, điện thắp sáng, nước sạch, học tâp. - Đối với các tổ chức kinh tế thuộc hải đảo, thuộc các khu vực II, III miền núi và các xã thuộc chương trình 135 sử dụng vốn vay để chi phí cho sản xuất, kinh doanh theo chương trình dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. - Đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, sử dụng vốn vay để mua sắm phương tiện học tập và các chi phí khác phục vụ cho học tập tại trường.

- Người vay là đối tượng chính sách đi lao động nước ngoài có thời hạn sử dụng vốn vay để trang trải chi phí đào tạo, phí dịch vụ, tiền đặt cọc, vé máy bay. 7 - Người vay là các đối tượng khác thực hiện theo quyết định của chính phủ. - Vốn nhận uỷ thác cho vay ưu đãi được sử dụng theo hợp đồng uỷ thác. Đối tượng phục vụ của NHCSXH và lãi suất cho vay: Biểu 1.01: Đối tượng phục vụ và lãi suất cho vay của NHCSXH : TT Đối tượng cho vay Lãi trong hạn Lãi quá hạn Hộ nghèo: Hộ nghèo ở vùng III và các xã đặc biệt khó 1 0,6 %/ tháng 130 % khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa Hộ nghèo thuộc các khu vực khác 0,65 %/ tháng 130 % Cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn 0,65 %/ tháng 130 % 2 Từ ngày 01/10/2007 áp dụng lãi suất ưu đãi 0,5%/ tháng 130% Các đối tượng cần vay vốn để GQVL: Các tổ chức sản xuất của thương binh, người 3 0,5 %/ tháng 130 % tàn tật Các đối tượng khác 0,65 %/ tháng 130 % Các đối tượng chính sách đi lao động có thời 4 0,65 %/ tháng 130 % hạn ở nước ngoài Các đối tượng khác theo quy định của chính phủ Cho các doanh nghiệp vay làm nhà ở bán trả 0,65 %/ tháng 200 % chậm cho các hộ dân 5 Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường ở 0,65 %/ tháng 130 % nông thôn Cho vay làm nhà vượt lũ Đồng bằng Sông 3 %/ năm 130 % Cửu Long ( Nguồn: Phòng tín dụng - NHCSXH huyện Đức Thọ) c.

Điều kiện để được vay vốn: - Người vay là hộ nghèo phải có địa chỉ cư trú hợp pháp và phải có trong danh sách hộ nghèo được uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định theo chuẩn nghèo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội công bố, được tổ tiết kiệm và vay vốn bình xét và lập danh sách có xác nhận của uỷ ban nhân dân cấp xã. Hộ nghèo vay vốn không phải thế chấp tài sản, được miễn lệ phí làm thủ tục vay vốn có xác nhận của uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn. Chủ hộ là người được 8 uỷ nhiệm giao dịch là người chịu trách nhiệm trong mọi quan hệ với NHCSXH, là người trực tiếp kí nợ và chịu trách nhiệm trả nợ cho NHCSXH. - Các đối tượng chính sách đi lao động ở nước ngoài có thời hạn để được vay vốn phải có đủ các điều kiện sau: + Người vay phải có đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.

+ Có hộ khẩu thường trú tại nơi vay vốn. + Có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc người vay vốn thuộc đối tượng chính sách. + Được bên tuyển dụng chính thức tiếp nhận đi lao động có thời hạn ở nước ngoài. + Người lao động hoặc hộ gia đình mà người lao động là thành viên phụ thuộc không có nợ khó đòi hoặc nợ quá hạn 6 tháng tại NHCSXH.

- Đối với đối tượng là cơ sở sản xuất kinh doanh: + Phải có dự án khả thi, phù hợp với phương án sản xuất, kinh doanh, tạo thêm lao động mới, thu hút thêm lao động vào làm việc ổn định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ