CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ học Theo GLOBOCAN năm 2018, UTV là loại ung thư có tỷ lệ mắc cao nhấtcó tỷ lệ mắc cao thứ 2 sau ung thư phổi và là nguyên nhân gây tử vong thứ hai5 sau ung thư phổi, đại trực tràng, dạ dầy, gan. Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi theo vùng miền khác nhau trên thế giới với tỷ lệ mắc cao ở các nước phát triển nhưnhất ở: Bắc Mỹ (262.347 ca), Bắc Âu (119.577 ca), Tây Âu (169.509 ca)Australia (trên 80/100.000 dân), trong khi đó Châu Á, Africa có tỷ lệ mắc thấp nhất (dưới 40/100.000 dân)tỷ lệ này lại thấp hơn ở các nước chậm và đang phát triển như: Nam Phi (14.820 ca), Tây Phi (40. Phân bố tỷ lệ mắc ung thư vú trên thế giới [1] 5 Hình 1.
Phân bố tỷ lệ tử vong do ung thư vú trên thế giới [1] Tại Việt Nam, Bùi Diệu (2011) báo cáo ghi nhận UTV ở Hà Nội giai đoạn 2005-2008 với tỷ lệ mắc UTV chuẩn theo tuổi là 40,3/100.000 dân, đứng đầu trong các loại ung thư ở nữ [6].Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê năm 2018 có 15.229 phụ nữ mới mắc ung thư vú đứng hàng thứ tư ở cả hai giới sau UT gan, phổi và dạ dầy (chiếm 9,2% tổng số bệnh nhân bị ung thư ở cả hai giới) và đứng hàng đầu về số ca mới mắc ung thư ở nữ giới (chiếm 20,6%).103 người tử vong do UTV, đứng hàng thứ 4 về 6 nguyên nhân gây tử vong sau ung thư gan, phổi, dạ dầy ở cả 2 giới và là nguyên nhân hàng đầu chết do UT ở nữ giới [1]. Tại Việt Nam, Biểu đồ 1. Số ca mới mắc ung thư ở nữ giới năm 2018 tại Việt Nam [1] Bảng 1. Các bệnh ung thư thường gặp ở cả hai giới năm 2018 tại Việt Nam[1] (The Global Cancer Observatory - All Rights Reserved - May, 2019.) Bùi Diệu (2011) báo cáo ghi nhận UTV ở Hà Nội giai đoạn 2005-2008 với tỷ lệ mắc UTV chuẩn theo tuổi là 40,3/100.000 dân, đứng đầu trong các loại ung thư ở nữ [6].
Sinh bệnh học ung thư vú Tế bào ung thư nguyên phát từ tiểu thùy tiếp tục phát triển lan sang mô lân cận, phá vỡ tổ chức tuyến vú bình thường. Khi tế bào ung thư theo mạch bạch huyết nông sẽ di căn đến các chặng hạch, theo đường máu sẽ di căn đến các cơ quan khác nhau như: gan, não, phổi. đây là cơ sở của việc điều trị toàn thân [7]. Những tiến bộ về sinh học phân tử trong những năm gần đây đã chỉ rõ được một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ung thư vú như: thụ thể nội tiết Estrogen (ER) và Progesterone (PR), thụ thể yếu tố phát triển biểu mô HER2er2/neu, chỉ số tăng sinh mạch Ki67, gen ung thư (BRCA1, BRCA2) và nhiều yếu tố khác [8], [9].
Khoảng 15-20% BN có khuyếch đại thụ thể yếu tố phát triển biểu mô HER2er-2/neu, những bệnh nhân này có tiên lượng xấu nếu không được điều trị thuốc kháng thể đơn dòng (KTDD) và hóa chất toàn thân, đặc biệt trên nhóm có TTNT âm tính [8]. Chẩn đoán ung thư vú 1. Chẩn đoán xác định Chẩn đoán UTV dựa trên ba phương pháp kinh điển bao gồm: thăm khám lâm sàng, kết quả xét nghiệm tế bào và chụp X quang tuyến vú. Nếu cả 3 phương pháp này cùng cho kết quả ung thư thì đủ bằng chứng để chẩn đoán xác định UTV.
Nếu một trong 3 phương pháp trên nghi ngờ phải sinh thiết tức thì để chẩn đoán xác định hoặc sinh thiết 48 giờ (sinh thiết kim, sinh thiết mở) [410], [410]. Sinh thiết u vú làm giải phẫu bệnh là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định ung thư vú, đánh giá tình trạng TTNT (ER, PR) và HER2er-2/neu, Ki67, 8 P53 nhằm lập kế hoạch điều trị và tiên lượng [7]. Chẩn đoán giai đoạn: theo hội liên hiệp ung thư Hoa Kỳ AJCC năm 2010 [5811]. Đánh giá giai đoạn bệnh giúp cho việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, hiệu quả đối vớiơi từng bệnh nhân, so sánh được kết quả trước và sau điều trị cũng như cung cấp thông tin để tiên lượng bệnh.
Chẩn đoán mô bệnh học, độ mô học, hóa mô miễn dịch. Mô bệnh học: Theo phân loại của tổ chức y tế thế giới 1982 [8]. - Ung thư biểu mô không xâm nhập - Ung thư biểu mô xâm nhập: Trong đó thể MBH hay gặp nhất là UTBM xâm nhập chiếm >80% và chủ yếu là UTBM thể ống xâm nhập [78], [78]. Phân loại theo Elston Ellis [12].
G1: Biệt hóa cao G2: Biệt hóa vừa G3: Kém biệt hóa Gx: Không rõ độ biệt hóa 1. Hóa mô miễn dịch Bên cạnh việc đánh giá tình trạng thụ thể nội tiết ER, PR, còn đánh giá các yếu tố có giá trị khác như HER2er-2/neu, P53, Ki67 bằng nhuộm HMMD để có một phác đồ điều trị cũng như tiên lượng bệnh chuẩn [13]. Hiện nay trên thế giới có 2 phương pháp đánh giá mức độ bộc lộ của HER2er-2/neu một cách rộng rãi đó là : phương pháp nhuộm hóa mô niễn 9 dịch (IHC) đánh giá mức độ biểu hiện protein, là phương pháp bán định lượng đánh giá mức độ bộc lộ yếu tố phát triển HER2er-2/neu qua thang điểm (0, 1+, 2+, 3+) và phương pháp lai huỳnh quang tại chỗ FISH là phương pháp định lượng, đo được số lượng bản sao chép gen HER2er-2/neu trên mỗi ối tế bào ung thư. Một số phương pháp có thể thay thế là nhuộm huỳnh quang tại chỗ chất nhiễm sắc (CISH) và phương pháp xác định thời gian thực phản ứng chuỗi polymerase (RT-PCR).
Theo hướng dẫn của ASCO, tình trạng HER2er-2/neu cần phải được khẳng định rõ ràng là dương tính, nghi ngờ hay âm tính dựa vào các dấu hiệu sau : - HER2er-2/neu dương tính : IHC 3+ ; kết quả FISH >6,0 bản sao gen HER2er-2/neu trên một nhân hoặc FISH ratio >2,2. - HER2er-2/neu âm tính : IHC 0, 1+ ; kết quả FISH<4,0 bản sao gen HER2 er-2/neu trên 1 nhân hoặc FISH ratio <1,8. - HER2er-2/neu nghi ngờ : IHC 3+ hoặc 2++ ; 4,0 bản sao gen HER2 er- 2/neu< kết quả FISH <6,0 bản sao gen HER2 trêner-2/neu trên 1 nhân hoặc 1,8< FISH ratio <2,2. Quan điểm hiện đại về phân nhóm của UTV 1.
Hệ thống phân nhóm mới của UTV Các phân nhóm của UTV và ứng dụng trong thực hành lâm sàng cụ thể như sau: 10 Bảng 1.12: Phân nhóm UTV theo St Gallen năm 2013 Phân loại Tiêu chuẩn Đáp ứng tất cả các tiêu chuẩn sau: ER (+) và PR (+) ≥20% HER2 (-) Nhóm Luminal A Ki67 ≤ 20% Yếu tố nguy cơ thấp dựa trên xét nghiệm bộc lộ gen (nếu làm được) ER (+) HER2 (-) Và có ít nhất 1 trong các tiêu chuẩn sau: HER2 (-) Ki67 cao >20% PR (-) hoặc PR (+)<20% Nhóm Luminal B Yếu tố nguy cơ cao dựa trên xét nghiệm sự bộc lộ gen ER (+) HER2 bộc lộ quá mức (dương tính) HER2 (+) Ki67 bất kỳ PR bất kỳ HER2 bộc lộ quá mức Nhóm HER2 (+) ER và PR (-) Nhóm Basal-like ER và PR (-) (Triple negative) HER2 (-) 1. Ứng dụng phân loại mới trong điều trị hệ thống 11 Nhóm Luminal A: điều trị nội tiết đơn thuần được chỉ định cho hầu hết tất cả các bệnh nhân thuộc nhóm này. Tuy nhiên, hóa chất bổ trợ cũng có thể được chỉ định trong các trường hợp xuất hiện yếu tố nguy cơ cao, độ mô học khối u cao (độ III), các trường hợp hạch nách dương tính, kích thước u > 2cm, bệnh nhân dưới 35 tuổi [14],, [15]. Nhóm Luminal B – HER2 (-): Chỉ định điều trị hệ thống cho nhóm này là nội tiết kết hợp hóa chất [16], [15], [17], [18], [19].
Nhóm Luminal B – HER2 (+): Chỉ định điều trị hệ thống cho nhóm này là hóa chất kết hợp với kháng thể đơn dòng và nội tiết [16], [15], [17], [18], [19]. Nhóm Basal-like (Triple negative): chỉ định điều trị hệ thống là hóa chất. Nhóm này có tiên lượng xấu [16], [15], [17], [18], [19]. Chẩn đoán UTV giai đoạn muộn, TPDC 1.
Đặc điểm lâm sàng [10], [7], [20]. - Triệu chứng lâm sàng của UTV TPDC rất đa dạng, một số bệnh nhân có triệu chứng mơ hồ, không rõ ràng dễ nhầm với các bệnh lành tính hoặc không có triệu chứng, cũng có thể là các triệu chứng biểu hiện ở cơ quan hay vùng di căn tới [10],[7],[20]. Đặc điểm cận lâm sàng. - Chẩn đoán tế bào học được làm từ những tổn thương tại chỗ, tại vùng có thể khám thấy trên lâm sàng hay nhờ sự trợ giúp của chẩn đoán hình ảnh với các tổn thương không sờ thấy trên lâm sàng [7],[10],[21].
- Các xét nghiệm đánh giá toàn thân: + Chụp phổi: phát hiện tổn thương di căn ở phổi. Hình ảnh di căn phổi trên X quang phổi bao gồm: di căn thể thả bóng, di căn dạng hạt kê, di căn thể nốt, di căn thể lưới ít gặp hơn. X quang phổi có thể cho hình ảnh về tràn dịch 12 màng phổi thể tự do hay khu trú. + Siêu âm ổ bụng: là phương pháp tốt, ít xâm nhập, quan sát tạng trong ổ bụng, đặc biệt là khảo sát tạng đặc, hạch ổ bụng.
Tuy nhiên, siêu âm bị hạn chế khi bệnh nhân có chứa nhiều hơi trong các quai ruột, đồng thời phương pháp này phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của người đọc. + Chụp cắt lớp vi tính (CLVT): Cho phép đánh giá chính xác hơn các tổn thương nguyên phát, thứ phát và theo dõi đáp ứng điều trị. Hình ảnh di căn phổi, màng phổi biểu hiện ở các nốt tổn thương hai phổi, mức độ tràn dịch màng phổi, hạch trung thất nếu có. + Chụp cộng hưởng từ (MRI): Chụp MRI có thể có độ nhạy cao hơn chụp CLVT trong chẩn đoán di căn gan.
Các khối di căn biểu hiện bằng khối u giảm tín hiệu trên T1 và tăng tín hiệu trên T2. + Xạ hình xương: Sau khi tiêm Tc-99m-diphosphonaste vào cơ thể 2-6 giờ thì 50% liều sẽ hấp thu ở xương, sau đó sẽ thải trừ qua thận, thời gian bán hủy ngắn 6 giờ. Tỷ số hấp thu chất đánh dấu của mô xương mềm sẽ tăng theo thời gian, do đó người ta chọn thời điểm 2-3 giờ sau tiêm để khảo sát xạ hình xương. Xạ hình xương có độ nhạy cao, tuy nhiên độ đặc hiệu thấp nên cần phối hợp với lâm sàng, X quang, CLVT và MRI để có kết quả chính xác hơn.
+ PET/CT: là phương pháp mới có độ nhạy cao, cho phép đánh giá ung thư nguyên phát và ung thư thứ phát trên tất cả các cơ quan. Do đó, PET/CT cho phép đánh giá chính xác giai đoạn bệnh, các vị trí di căn. Tuy nhiên phương pháp này chưa được áp dụng rộng rãi do giá thành cao.