Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác thanh tra thu, chi ngân sách. Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra thu, chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Chương 3: Giải pháp về công tác thanh tra thu, chi ngân sách nhà nước. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA THU, CHI NGÂN SÁCH 1.
Cơ sở lý luận về công tác thanh tra 1. Khái niệm về thanh tra Theo từng giai đoạn lịch sử, khái niệm về thanh tra cũng được nhận thức khác nhau. Đó là sự phản ánh về mô hình tổ chức các cơ quan nhà nước; về sự kiểm soát đối với hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Thời kỳ phong kiến, ở các triều đại Lý, Trần, Lê có cơ quan “Ngự sử đài”, người đứng đầu là “Quan ngự sử” với chức năng gần giống như cơ quan thanh tra nhà nước hiện nay.
Ngự sử đài có nhiệm vụ giúp vua trong việc theo dõi, xem xét các công việc hệ trọng của triều đình. Quan ngự sử đời nhà Trần có quyền tiền trảm hậu tấu và là chức quan duy nhất có quyền can gián vua. Thời nhà Lê có hàm “Gián nghị đại phu” phong tặng cho bất cứ bề tôi nào dám nói thẳng, nói đúng sự thật, Gián nghị đại phu có quyền đề xuất ý kiến về những việc nhà vua nên làm và can gián nhà vua những việc không nên làm. Năm 1945, ngay sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập, ngày 23 tháng 11 năm 1945, Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt.
Sắc lệnh nêu rõ: “Chính phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ”, từ đây thuật ngữ “Thanh tra” xuất hiện, được chỉ một cơ quan cụ thể, quyền thanh tra được xác định và chính thức giao cho Chính phủ. Năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta được ban hành. Trong đó quy định quyền “kiểm soát” đối với Chính phủ được giao cho Ban Thường vụ của Nghị viện: “Khi Nghị viện không họp, Ban Thường vụ có quyền kiểm soát, phê bình Chính phủ”, thực chất đây là quyền giám sát của cơ quan dân cử (cũng như quyền giám sát của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với Chính phủ). Hiến pháp năm 1959 đã đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành các quyết định quản lý nhà nước: “Hội đồng Chính phủ ra những thông tư, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các Thông tư và Chỉ thị ấy” và “Ủy ban hành chính các cấp quản lý công tác hành chính.
ra Quyết định, Chỉ thị và kiểm tra việc thi hành Quyết định, Chỉ thị ấy”. 7 Như vậy, thanh tra, kiểm tra ở đây ngoài việc xem xét vi phạm của các cơ quan, nhân viên hành chính hay Chính phủ còn mở rộng ra giám sát, kiểm tra các hoạt động xây dựng, ban hành, thực hiện các văn bản pháp quy. Hiến pháp 1980 sử dụng thuật ngữ “thanh tra” với nội dung là một chức năng của cơ quan quản lý nhà nước. Khoản 15 Điều 107 của Hiến pháp quy định Hội đồng Bộ trưởng có nhiệm vụ: “Tổ chức và lãnh đạo công tác thanh tra và kiểm tra của Nhà nước”, Điều 110 quy định: “Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lãnh đạo công tác của Hội đồng Bộ trưởng, đôn đốc, kiểm tra việc thi hành những quyết định của Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng”.
Về Ủy ban nhân dân, Điều 124 quy định: “Ủy ban nhân dân các cấp chiếu theo quyền hạn do luật định, ra những Quyết định, Chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó”. Đến Hiến pháp 1992, khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện rõ hơn qua các Điều 112, 115, 116 và 124. Khoản 7 Điều 112 quy định Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng, trong bộ máy nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân”. Điều 115 quy định “.Chính phủ ra Nghị quyết, Nghị định, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định, Chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó.
Đối với Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ “ra Quyết định, Chỉ thị, Thông tư và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó. Đối với Ủy ban nhân dân, Điều 124 Hiến pháp 1992 cũng quy định “Ủy ban nhân dân. ra Quyết định, Chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó”. Trong Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, hoạt động thanh tra của các tổ chức thanh tra được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước.
Điều 8 Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 quy định nhiệm vụ của các tổ chức thanh tra nhà nước là: “thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, trừ hoạt động điều tra truy tố, xét xử của các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế của các cơ quan trọng tài kinh tế”. Luật Thanh tra năm 2010, Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật để xử lý theo 8 thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý, phát hiện những sơ hở trong cơ chế, chính sách pháp luật để kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Thanh tra là một chức năng không thể thiếu của hoạt động quản lý, là một khâu của chu trình quản lý của Nhà nước. Mục đích, đối tượng, nguyên tắc của hoạt động thanh tra a.
Mục đích thanh tra Căn cứ, Điều 2, Luật Thanh tra số 56/2010/QH11 ngày 15/11/2010 quy định: Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đối tượng thanh tra Đối tượng thanh tra là thanh tra các cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các đơn vị kinh tế và cá nhân có liên quan trong việc chấp hành chính sách, pháp luật. Ở nước ta, hệ thống quản lý được tổ chức theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ. Vì thế, quyền hạn, phạm vi quản lý theo ngành và địa phương của các cơ quan quản lý là khác nhau nên đối tượng thanh tra cũng khác nhau.
Tổ chức quản lý cấp dưới trực thuộc phải chịu sự thanh tra, kiểm tra của tổ chức quản lý cấp trên và của Nhà nước. Nguyên tắc hoạt động của thanh tra Nguyên tắc hoạt động thanh tra được quy định trong Luật Thanh tra 2010: “Tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời. Không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra.” Nguyên tắc hoạt động thanh tra là cơ sở và tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình 9 thực hiện hoạt động của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra nhà nước. Để thanh tra đúng mục đích, đúng đối tượng và đạt hiệu quả cao, hoạt động thanh tra phải tuân thủ các nguyên tắc sau: - Nguyên tắc tuân thủ pháp luật Thanh tra việc chấp hành pháp luật Nhà nước là nhằm xử lý các trường hợp vi phạm, ngăn chặn các hành vi trái pháp luật, có ý nghĩa giáo dục đối với cán bộ công chức Nhà nước trong việc thực thi pháp luật.
Vì vậy hoạt động thanh tra trước hết phải quán triệt nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tôn trọng những chuẩn mực pháp lý khi xem xét, phân tích, đánh giá, kết luận các vụ việc một cách chính xác; đồng thời ngăn chặn tình trạng can thiệp trái pháp luật. Các cơ quan thanh tra, đoàn thanh tra, người phụ trách công tác thanh tra, cơ quan, đơn vị, cá nhân được thanh tra đều phải chấp hành theo pháp luật. - Nguyên tắc đảm bảo chính xác, khách quan Có chính xác trong công tác thanh tra mới cho phép đánh giá đúng thực trạng chấp hành pháp luật, chính sách, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước giao cho đối tượng thanh tra. Nguyên tắc khách quan đòi hỏi trong hoạt động thanh tra phải tôn trọng sự thật, không suy diễn tuỳ tiện chủ quan, không gán cho đối tượng thanh tra những sự việc mà bản thân không có.
Tính chính xác và khách quan trong thanh tra có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau. Có khách quan, không thiên vị mới bảo đảm tính chính xác trong đánh giá, kết luận vấn đề và ngược lại có chính xác mới thể hiện được việc làm khách quan trong công tác thanh tra. - Nguyên tắc dân chủ, công khai và kịp thời Để thực hiện nguyên tắc dân chủ trong thanh tra cần đạt các yêu cầu sau: + Phải đặt lợi ích của nhân dân trên hết, kiên quyết bảo vệ lợi ích và quyền lợi của nhân dân. + Phải lắng nghe và tôn trọng ý kiến của quần chúng nhân dân, phải tạo điều kiện cho nhân dân trực tiếp tham gia thanh tra.
Thông qua công khai làm cho công tác thanh tra bảo đảm được chính xác, khách quan hơn vì nó cho phép kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện kết quả thanh tra, làm cho 10 các kết luận thanh tra đúng đắn, trung thực. Nguyên tắc công khai phải đạt các yêu cầu sau: Công bố công khai quyết định thanh tra, công khai trong tiếp xúc với đối tượng thanh tra, công khai kết luận thanh tra. Tuy nhiên theo tính chất, vụ việc thanh tra mà có hình thức, phạm vi công khai thích hợp và đúng quy định.