ĐẶT VẤN ĐỀ Tỉnh Quảng Ninh có nhiều lợi thế trong phát triển kinh tế xã hội và trở thành một trong những địa phương có sự phát triển năng động nhất ở phía Bắc đất nước trong thời kỳ đổi mới. Đặc biệt, tỉnh Quảng Ninh rất có tiềm năng phát triển kinh tế, do có nhiều thế mạnh mà các khu vực khác không có được, đó là tài nguyên khoáng sản, cảnh quan và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc khai thác và giao thương. Vùng biển tỉnh Quảng Ninh là nơi sinh sống của nhiều loài thủy sản có giá trị kinh tế cao như tôm hùm, cá song, ngọc trai. Và là nơi có nhiều hệ sinh thái cửa sông, ven biển quan trọng như những cánh rừng ngập mặn rộng lớn, san hô và bãi cá.
Ngoài ra, cảng biển nước sâu và du lịch cũng một thuận lợn rất lớn của tỉnh Quảng Ninh. Đi cùng với những tiềm năng kinh tế và thuận lợi phát triển cùng với những thành tựu kinh tế đạt được trong những năm qua, Quảng Ninh cũng phải đối mặt với không ít những vấn đề về tài nguyên và môi trường. Chất lượng môi trường các khu vực trọng điểm đã bị tác động mạnh, đa dạng sinh học suy giảm trong vòng 20 năm trở lại đây, nhiều nguồn tài nguyên đã bị tác động và cạn kiệt. Điển hình là hoạt động khai thác than trên địa bàn đã làm mất đi những cánh rừng là nơi cư trú của rất nhiều những loài động vật, gây xói lở đất, bồi lấp các dòng sông, suối, các hoạt động vận chuyển, sang tuyển khoáng sản gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng và gây sức ép rất lớn đến các vùng sinh thái nhạy cảm, môi trường sống của người dân,… Hoạt động này đang là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng lớn đến tiềm năng phát triển cũng như ảnh hưởng lớn đến người dân nhiều nơi trên địa bàn tỉnh.
Cùng với đà phát triển và liên tục khai thác than, khoáng sản như hiện nay thì trong tương lai những vẫn đề môi trường sẽ cần được quan tâm, giải quyết và khắc phục một cách thật tốt, thật triệt để. Trước thực trạng nêu trên, nhận thấy việc nghiên cứu, phân tích nước thải khai thác than và quản lý công tác kiểm soát chất thải rắn từ các mỏ than trên địa bàn 1 tỉnh Quảng Ninh. Phân tích và đánh giá hiện trạng môi trường, làm rõ các tác động của hoạt động khai thác than tới môi là yêu cầu cấp thiết. Trên cơ sở đó nhằm đề xuất giải pháp xử lý, góp phần hạn chế và khắc phục ô nhiễm môi trường tiến tới góp phần phát triển bền vững của hoạt động sản xuất khoáng sản tại Quảng Ninh và triệt tiêu các mối nguy hại ảnh hưởng đến cuộc sống của con người, chất lượng môi trường được đảm bảo hơn cũng như góp phần phát triển ngành khác như du lịch, thủy sản, cảng biển,… tại Quảng Ninh.
Xuất phát từ thực trạng nêu trên, dưới sự hướng dẫn của Ths. Bùi Văn Năng, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả công tác bảo vệ môi trường tại một số mỏ than trên địa bàn thành phố Hạ Long”. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan ngành công nghiệp khai thác than 1.
Tổng quan ngành công nghiệp khai thác than trên thế giới Trong cơ cấu sử dụng năng lượng, than được coi là nguồn năng lượng truyền thống và cơ bản. Than được sử dụng rộng rãi trong sản xuất và đời sống. Trước đây, than được dùng trong các đầu máy kéo xe lửa. Sau đó than được sử dụng trong các nhà máy nhiệt điện, than được cốc hóa làm nhiên liệu luyện kim.
Trữ lượng than trên thế giới cao hơn rất nhiều lần trữ lượng dầu mỏ và khí đốt. Người ta ước tính có trên 10 nghìn tỷ tấn, trong đó trữ lượng có thể khai thác là 3. Than tập trung chủ yếu ở Bắc bán cầu, trong đó đến 4/5 thuộc Trung Quốc (tập trung ở phí Bắc và Đông Bắc), phía Tây của Hoa Kỳ, Liên Bang Nga (vùng Ekibat và Xiberi), Ucraina, CHLB Đức, Ấn Độ, Autralia (Ở hai bang Queenlan và Niu Xaoen), Ba Lan,… Công nghiệp khai thác than xuất hiện tương đối sớm và được phát triển nửa sau thế kỷ XIX. Sản lượng than khai thác rất khác nhau giữa các thời kỳ, giữa các khu vực và quốc gia.
Trong vòng 50 năm qua, tốc độ tăng trung bình là 5,4% /năm, cao nhất vào thời kỳ 1950-1980 đạt 7%/năm. Mặc dù việc khai thác và sử dụng than có thể gây hậu quả xấu đến môi trường (đất, nước, không khí, …). Song nhu cầu cần sử dụng than không vì thế mà giảm đi. Lượng than tiêu thụ năm 1991-2002 ổn định ở khoảng 4,4 tỷ tấn/năm và tăng vọt trong giai đoạn năm 2003-2011 trung bình toàn thế giới vào khoảng 6,2 tỷ tấn/ năm (gấp 1,5 lần giai đoạn trước).
Giai đoạn năm 2012-2014, có xu hướng tiếp tục tăng lên 7,34 tỷ tấn (tăng 18,4% so với giai đoạn 2003-2011), trong đó tăng chủ yếu ở khu vục châu Á-Thái Bình Dương- đặc biệt tại Trung Quốc. Than chủ yếu được sử dụng trong sản xuất điện. Hiện nay, nhiệt điện vẫn là nguồn điện năng chủ yếu của thế giới, chiếm khoảng 41,2% tổng sản lượng điện, tiếp theo là dầu khí 22,7%; thủy năng 16,8%; năng lượng hạt nhân 10,7%; dầu 4,8% và các nguồn năng lượng tái tạo khác 6,7%. 3 Vì những ưu điểm của nguồn khoáng sản than như nguồn tiềm năng dồi dào, giá thành rẻ nên than chiếm 29,2%, đứng thứ hai trong tổng lượng tiêu thụ năng lượng sơ cấp cầu toàn thế giới năm 2015 (dầu 33%; khí tự nhiên 23%; thủy điện 6,8%; năng lượng hạt nhân 4,4% và năng lượng tái tạo khác 2,8%).
Nhìn chung, việc sử dụng than chủ yếu tùy thuộc vào tiềm năng của các tài nguyên năng lượng và khả năng tiếp cận nguồn dầu mỏ và khí đốt của từng nước. Các nước có tỷ trọng sử dụng than cao trong tổng sử dụng năng lượng sơ cấp là các nước có nguồn tài nguyên than dồi dào so với các nguồn tài nguyên năng lượng khác. Tổng quan về ngành công nghiệp khai thác than tại Việt Nam Ở Việt Nam, than có trữ lượng tương đối lớn, tập trung chủ yếu ở Quảng Ninh (khoảng 10,5 tỷ tấn, trong đó đã tìm kiếm và than dò 3,5 tỷ tấn, chiếm 67% trữ lượng than của cả nước hiện nay). Than Việt Nam chủ yếu ở hai dạng chính: hầm lò và lộ thiên, phân bố chủ yếu ở Quảng Ninh và các tỉnh phía bắc như Lạng Sơn, Thái Nguyên.
Trong tập đoàn than Vinacomin có khoảng 20 mỏ khai thác hầm lò, trong đó có 7 hầm lò có công suất đạt 1 triệu tấn than trở lên trên một năm bao gồm cấc mỏ: Mạo Khê, Nam Mẫu, Mạo Danh, Hà Lầm, Mông Dương, Khe Tràm và Dương huy. Các mỏ còn lại cũng đang nâng công cuất lên đến 300. Ngành than được định hướng ưu tiên đáp ứng nhu cầu trong nước; giảm dần xuất khẩu và chỉ xuất khẩu các loại than trong nước không có nhu cầu sử dụng… Ngày 31/8/2016, Bộ Công Thương công bố điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 với nội dung: Nhu cầu vốn đầu tư than bình quân khoảng 17,930 tỷ đồng/ năm; trong đó, giai đoạn đến năm 2020 là khoảng hơn 95,000 tỷ đồng; giai đoạn 2021- 2030 hơn 172,000 tỷ đồng. Nguồn vốn này chủ yếu tập trung cho đầu tư mới và cải 4 tạo mở rộng khu mỏ, đầu tư công nghệ thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng than tiên tiến… Về khai thác than, sản lượng than thành phẩm sản xuất toàn ngành than trong các giai đoạn của quy hoạc khoảng 41 - 44 triệu tấn vào năm 2016; 47-50 triệu tấn vào năm 2020; 51-54 triệu tấn vào năm 2050 và 55-57 triệu tấn vào năm 2030.
Ngành than phải giảm tỷ lệ tổn thất khai thác bằng phương pháp hầm lò xuống khoảng 20% vào năm 2020 và xuống dưới 20% sau năm 2020; tỷ lệ than khai thác bằng phương pháp lộ thiên xuống khoảng 5% vào năm 2020 và xuống dưới 5% sau năm 2020…[11] 1. Quy trình khai thác và tiêu thụ than tại các công ty than Việt Nam Bốc xúc đất Thiết Xây Khoan đá ra bãi thải kế khai dựng nổ mìn Sang thác cơ bản Bốc xúc than tuyển nguyên khai tại công ty Thăm dò tài Bán cho công nguyên ty sang tuyển TẬP của tập đoàn ĐOÀN Hình 1.1: Quy trình khai thác và tiêu thụ than tại Việt Nam - Thăm dò tài nguyên: công ty xây dựng phương án thăm dò khai thác than và trình Tập đoàn phê duyệt. Sau khi được tập đoàn phê duyệt và cấp vốn, Công ty sẽ tiến hành khai thác than mới. - Thiết kế khai thác: sau khi thăm dò thành công nguồn than, công ty xây dựng, thiết kế kế hoạch khai thác trình Tập đoàn phê duyệt.
5 Xây dựng cơ bản Đối với khai thác hầm lò: Thi công đào đường mở vỉa, hình thành các gương xúc than. - Đối với khai thác lộ thiên: mở vỉa bằng đường hào để tiếp cận vỉa than, hình thành các gương xúc than. - Khoan nổ mìn: nguồn than nằm sâu trong lòng đất đòi hỏi công ty phải khoan nổ bằng mìn để bóc tách lớp đất đá bao phủ. - Bốc xúc đá, than nguyên khai: sau khi công đoạn khoan nổ, lớp dất đá bóc tách sẽ được bốc xúc để lộ ra nguồn than.
- Vận tải than - đất: than sau đó sẽ được bốc xúc chuyển đến nhà máy sang tuyển để thực hiện sang tuyển, chế biến thành từng loại theo yêu cầu của khách hàng. - Tiêu thụ: thành phẩm sẽ được đem đi lưu kho hoặc vận chuyển tới khách hàng theo hợp đồng ký kế [11]. Hầu hết các công ty than ở Việt Nam chủ yếu theo hai quy trình sản xuất lộ thiên và hầm lò. Dưới đây là quy trình khai thác than lộ thiên: Bốc xúc Khoan Làm tơi đất đá Bốc Vận đất đá nổ mìn xúc đất chuyển đá đến bãi thải Khai thác than với Máy Khai Than Vận độ sâu xúc, gạt thác nguyên chuyển chọn lọc khai 0,5m Cảng Sang tiêu thụ tuyển Hình 1.2: Quy trình khai thác than lộ thiên 6 Quy trình khai thác than hầm lò: - Khai thác than hầm lò là phương pháp được áp dụng chủ yếu tại các mỏ ở Việt Nam, do địa hình chủ yếu tại các mỏ này là núi cao nên phương pháp khai thác này phù hợp là đem lại hiệu quả khai thác cao.