Luận văn thạc sĩ y học đánh giá kết quả của bột thuốc đắp hv trong điều trị hội chứng cổ vai cánh tay do thoái hóa cột sống cổ

Luận văn thạc sĩ y tế phân tích y học đánh giá kết quả của bột thuốc đắp hv trong điều trị hội chứng cổ vai cánh tay do thoái hóa, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ y học

2022

128
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hội chứng cổ vai cánh tay

Hội chứng cổ vai cánh tay (cervical scapulohumeral syndrome) là một nhóm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến các bệnh lý cột sống cổ, kèm theo rối loạn chức năng rễ, dây thần kinh hoặc tủy cổ. Thoái hóa cột sống cổ là nguyên nhân phổ biến nhất, chiếm 70-80% trường hợp. Biểu hiện lâm sàng bao gồm đau vùng cổ, vai, và một bên tay, kèm theo rối loạn cảm giác và vận động. Hội chứng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và khả năng lao động của người bệnh.

1.1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Nguyên nhân chính của hội chứng cổ vai cánh tay là thoái hóa cột sống cổ, dẫn đến hẹp lỗ tiếp hợp và chèn ép rễ thần kinh. Các yếu tố khác bao gồm thoát vị đĩa đệm, chấn thương, khối u, và bệnh lý viêm. Cơ chế bệnh sinh liên quan đến sự mất cân bằng giữa quá trình thoái hóa và tái tạo của cột sống cổ, dẫn đến tổn thương cấu trúc và chức năng.

1.2. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng bao gồm đau vùng cổ, vai, và cánh tay, kèm theo rối loạn cảm giác và vận động. Cận lâm sàng thường sử dụng X-quang, MRI, và CT scan để đánh giá mức độ thoái hóa và chèn ép thần kinh. Các nghiệm pháp như dấu hiệu chuông bấm giúp xác định vị trí tổn thương.

II. Phương pháp điều trị bằng bột thuốc đắp HV

Bột thuốc đắp HV là một phương pháp điều trị trong Y học cổ truyền, được sử dụng để điều trị hội chứng cổ vai cánh tay do thoái hóa cột sống cổ. Bài thuốc này gồm các vị thuốc có tác dụng khu phong, tán hàn, trừ thấp, và thông kinh hoạt lạc. Phương pháp này được đánh giá cao về tính hiệu quả và an toàn, đặc biệt khi kết hợp với các phương pháp khác như xoa bóp bấm huyệt và chiếu đèn hồng ngoại.

2.1. Thành phần và cơ chế tác dụng

Bột thuốc đắp HV gồm các vị thuốc như Xuyên khung, Đương quy, và Ngải cứu, có tác dụng khu phong, tán hàn, và thông kinh hoạt lạc. Cơ chế tác dụng dựa trên việc thẩm thấu qua da, giúp giảm đau, giảm viêm, và cải thiện tuần hoàn tại chỗ. Phương pháp này được đánh giá là an toàn và ít tác dụng phụ.

2.2. Quy trình thực hiện và kết quả điều trị

Quy trình thực hiện bao gồm việc đắp bột thuốc lên vùng cổ, vai, và cánh tay, kết hợp với xoa bóp bấm huyệt và chiếu đèn hồng ngoại. Kết quả điều trị cho thấy sự cải thiện đáng kể về mức độ đau, tầm vận động, và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Các yếu tố như tuổi, giới, và thời gian bị bệnh cũng được phân tích để đánh giá hiệu quả điều trị.

III. Đánh giá hiệu quả và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả của bột thuốc đắp HV trong điều trị hội chứng cổ vai cánh tay do thoái hóa cột sống cổ. Kết quả cho thấy phương pháp này giúp giảm đau, cải thiện tầm vận động, và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Ứng dụng thực tiễn của phương pháp này rộng rãi trong lâm sàng, đặc biệt là tại các bệnh viện Y học cổ truyền.

3.1. Kết quả nghiên cứu và phân tích

Kết quả nghiên cứu cho thấy bột thuốc đắp HV giúp giảm đau đáng kể theo thang điểm VAS, cải thiện tầm vận động cổ, và giảm hạn chế chức năng sinh hoạt hàng ngày. Phân tích các yếu tố liên quan cho thấy tuổi và thời gian bị bệnh ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị. Phương pháp này được đánh giá là an toàn và ít tác dụng phụ.

3.2. Ứng dụng trong thực tiễn lâm sàng

Bột thuốc đắp HV được ứng dụng rộng rãi trong điều trị hội chứng cổ vai cánh tay tại các bệnh viện Y học cổ truyền. Phương pháp này được kết hợp với các phương pháp khác như xoa bóp bấm huyệt và chiếu đèn hồng ngoại để tăng hiệu quả điều trị. Ứng dụng thực tiễn cho thấy phương pháp này phù hợp với nhiều đối tượng bệnh nhân, đặc biệt là người cao tuổi.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ y học đánh giá kết quả của bột thuốc đắp hv trong điều trị hội chứng cổ vai cánh tay do thoái hóa cột sống cổ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Hội chứng cổ vai cánh tay theo y học hiện đại 1. Đại cương hội chứng cổ cánh tay do thoái hóa cột sống cổ - Hội chứng cổ cánh tay (Cervical scapulohumeral syndrome), còn gọi là hội chứng cánh tay (Scapulohumeral syndrome) hay bệnh lý rễ tủy cổ (Cervical radiculopathy), là một nhóm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến các bệnh lý cột sống cổ có kèm theo các rối loạn chức năng rễ, dây thần kinh cột sống cổ và/hoặc tủy cổ, không liên quan tới bệnh lý viêm [1], [7]. - Biểu hiện lâm sàng thường gặp là đau vùng cổ, vai và một bên tay, kèm theo một số rối loạn cảm giác và/hoặc vận động tại vùng chi phối của rễ, dây thần kinh cột sống cổ bị ảnh hưởng [1], [8].

Nguyên nhân hội chứng cổ vai cánh tay - Nguyên nhân thường gặp nhất (70 – 80%) là do thoái hóa cột sống cổ, thoái hóa các khớp liên đốt và liên mỏm bên làm hẹp lỗ tiếp hợp, hậu quả là gây chèn ép rễ/dây thần kinh cột sống cổ tại các lỗ tiếp hợp. Khoảng 20 – 25% nguyên nhân gây hội chứng cổ vai cánh tay là do thoát vị đĩa đệm cột sống cổ đơn thuần hoặc phối hợp với thoái hóa cột sống cổ [9], [10]. - Một số nguyên nhân ít gặp hơn gồm chấn thương, khối u, nhiễm trùng, loãng xương, bệnh lý viêm cột sống, bệnh lý phần mềm cạnh cột sống [11]. Sơ lược về cấu tạo giải phẫu và chức năng của cột sống cổ 1.

Giải phẫu cột sống cổ - Cột sống cổ là đoạn nối giữa lỗ chẩm tới cột sống lưng, là trụ cột để giữ và vận động đầu. Cột sống cổ bao gồm 7 đốt sống từ C1 đến C 7, C5 đĩa đệm và 1 đĩa đệm chuyển đoạn giữa C7 và D1, giữa đốt sống C1 và C2 không có đĩa đệm [18], [19]. 4 - Cột sống cổ được chia làm 2 vùng: CSC trên bao gồm C 1 – C2 và CSC dưới bao gồm C 3 – C7, hai vùng này có cấu trúc khác nhau do đó khả năng chịu lực và vận động rất khác nhau. Cột sống cổ cong ra trước, di động nhiều nên dễ bị tổn thương, các mỏm khớp hơi nghiêng nên dễ bị tổn thương [18], [19].

Giải phẫu cột sống cổ nhìn thẳng Hình 1. Giải phẫu cột sống cổ nhìn nghiêng Các đốt sống cổ kể từ C2 trở xuống liên kết với nhau bởi ba khớp. - Khớp đĩa đệm gian đốt: Đĩa đệm gian đốt luôn phải chịu áp lực tải trọng lớn. Khi có sự cố định lâu trong một tư thế (do nghề nghiệp) hoặc do áp lực trọng tải, sẽ dẫn đến thoái hóa đĩa đệm và hình thành các gai xương đĩa đệm cổ thấp [18], [19].

5 - Khớp sống – sống (còn gọi là khớp mấu lồi đốt sống, khớp nhỏ): Tạo nên bởi các mấu sống trên và mấu sống dưới của hai thân đốt kế cận và được nhận biết trên phim chụp tư thế nghiêng (Hình 1. - Khớp bán nguyệt (khớp Luschka): Chỉ có duy nhất ở cột sống cổ. Mỗi thân đốt sống có hai mấu bán nguyệt ở góc trên ngoài, hợp với hai góc dưới ngoài của thân đốt trên để tạo nên hai khớp bán nguyệt ở mỗi khe gian đốt. Khi khớp bán nguyệt bị thoái hóa dễ chèn ép động mạch thân nền [18], [19].

Hình ảnh cột sống cổ trên phim Xquang thẳng và nghiêng - Lỗ tiếp hợp (còn gọi là lỗ ghép): Thành trong của lỗ tiếp hợp hình thành bởi phía ngoài là thân đốt sống và khớp Luschka. Khớp mấu lồi đốt sống hình thành bởi diện khớp mấu lồi đốt sống trên và diện khớp mấu lồi đốt sống dưới, khớp được bao bọc bởi bao khớp ở phía ngoài [18], [19]. Lỗ tiếp hợp C3 – C4 Đĩa đệm C4 – C5 Cuống sống Mấu khớp dưới C6 Mấu khớp trên C7 Hình 1. Hình ảnh lỗ tiếp hợp trên phim Xquang tư thế chếch ¾ 6 - Dây thần kinh hỗn hợp: Chạy dọc theo lỗ tiếp hợp và tách ra thành hai phần cảm giác và vận động riêng biệt.

Phần vận động còn gọi là rễ trước tiếp xúc với khớp bán nguyệt, rễ sau nằm ở phía bên trong mỏm khớp và bao khớp. Rễ thần kinh bình thường chỉ chiếm khoảng 20 – 25% lỗ tiếp hợp [19], [20]. - Đĩa đệm: Được cấu tạo bởi nhân nhày, vòng sợi và mâm sụn. - Nhân nhày: Được cấu tạo bởi một màng liên kết.

Bình thường nhân nhày nằm ở trong vòng sợi, khi cột sống vận động về một phía thì nó bị đẩy chuyển động dồn về phía đối diện [18], [19]. - Vòng sợi: Gồm những vòng sợi sụn (fibro – cartilage) rất chắc chắn và đàn hồi đan vào nhau theo kiểu xắn ốc. Ở phía sau và sau bên của vòng sợi tương đối mỏng, nơi dễ xảy ra lồi và thoát vị đĩa đệm [18], [19]. - Mâm sụn: Gắn chặt vào tấm cùng của đốt sống, nên còn có thể coi là một phần của đốt sống.

Chiều cao của đĩa đệm: ở đoạn đốt sống cổ khoảng 3mm. Dây chằng dọc trước bám ở mặt trước các đốt sống và đĩa đệm. Dây chằng dọc sau bám vào mặt sau thân đốt và đĩa đệm. Ngoài ra còn dây chằng vàng, dây chằng liên gai, dây chằng liên ngang [18], [19].

- Mạch máu, thần kinh: Từ đốt C2 đến C6 có động mạch đốt sống thân nền, tĩnh mạch và một số nhánh thần kinh giao cảm cổ chạy trong lỗ động mạch ở giữa mỏm ngang của mỗi đốt và ngay bên cạnh mỏm móc. Thần kinh và vận động: các nhánh của đám rối cổ sâu: nhánh vận động cho cơ ở cột sống, cơ thang, cơ ức đòn chũm. Nhánh C5 chi phối vận động cơ delta, cơ tròn nhỏ, các cơ trên gai, dưới gai. Nhánh C6 chi phối vận động cơ nhị đầu, cơ cánh tay trước.

Nhánh C7 chi phối vận động cơ tam đầu. Nhánh C8 chi phối vận động cơ gấp ngón tay [18], [19]. - Cảm giác: Nhánh C1, C2, C3 cho nửa sau đầu. Nhánh C4 cho vùng vai.

Nhánh C5, C6, C7 cho nửa quay cánh tay, cẳng tay, ngón 1, 2, 3. Nhánh C8, D1 cho nửa trụ cánh tay, cẳng tay, ngón 4, 5 [1], [19]. 7 - Phản xạ gân xương: Nhánh C5 chi phối phản xạ gân xương cơ nhị đầu. Nhánh C6 chi phối phản xạ gân xương cơ nhị đầu và trâm quay.

Nhánh C7 chi phối phản xạ gân xương cơ tam đầu [19]. Chức năng cột sống cổ - Chức năng chịu tải trọng và bảo vệ tủy: Ở cột sống cổ các thân đốt sống nhỏ, đĩa đệm không chiếm toàn bộ bề mặt thân đốt, do đó tải trọng tác động phần lớn lên đĩa đệm dẫn tới sự giảm chiều cao gian đốt. Khoang gian đốt C2 – C3, C5 – C6 là những nơi chịu tải trọng lớn nhất ở cột sống cổ, do đó hay gặp thoái hóa ở những đoạn đốt sống cổ này. Cột sống cũng là nơi bảo vệ tủy và các thành phần khác trong ống sống [1], [19].

- Chức năng vận động: Cột sống cổ có phạm vi vận động rất lớn. Đoạn cổ trên (C1 – C3) đáp ứng cho chuyển động xoay, thường ít gặp thoái hóa ở đoạn này. Các khớp đốt sống cổ cho phép chuyển động trượt giữa các thân đốt sống tạo nên vận động duỗi và gấp cột sống cổ. Trong đó, 3 nhóm chức năng vận động của cổ thường được đề cập bao gồm [10], [19]: + Cử động theo mặt phẳng trước sau: Cúi và ngửa cổ.

Động tác này được thực hiện ở ba phần, đơn thuần chỉ xảy ra ở xương chẩm và đốt đội. Còn lại là vai trò của các khớp đốt sống khác từ C2 đến C7. + Cử động theo mặt phẳng ngang: Nghiêng sang hai bên phải, trái. + Cử động quay cổ: Động tác này chủ yếu do khớp trục đội (C1 – C2) đảm nhiệm còn lại là sự tham gia của các đốt sống từ C2 đến C7 [20].

Nguyên nhân của thoái hóa cột sống cổ Hội chứng cổ cánh tay còn gọi là hội chứng cánh tay là một nhóm các triệu chứng lâm sàng liên quan đến bệnh lý cột sống cổ có kèm theo các rối loạn chức năng rễ, dây thần kinh cột sống cổ và/hoặc tủy cổ, không liên quan tới bệnh lý viêm [1], [19]. Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra trong đó một vài nhóm nguyên nhân gây bệnh phổ biến bao gồm: 8 Sự lão hóa: Lão hóa là quá trình diễn biến tự nhiên của cơ thể trong đó quá trình thoái hóa xương, khớp là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra các bệnh lý cơ xương khớp đặc biệt là hội chứng cổ vai cánh tay. Yếu tố cơ giới: Các dị dạng bẩm sinh, các biến dạng thứ phát sau chấn thương, u, loạn sản, béo phì… Các yếu tố khác: Cơ địa già sớm, phụ nữ trong độ tuổi mãn kinh, đái tháo đường, loãng xương do nội tiết, bệnh goute, bệnh da sạm màu nâu, thợ may, lái xe [21]. Triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng.

Lâm sàng Hội chứng cổ vai cánh tay biểu hiện lâm sàng bằng các hội chứng chính bao gồm: Hội chứng cột sống cổ, hội chứng rễ thần kinh, và hội chứng tủy cổ. - Hội chứng cột sống cổ: Đau vùng cổ gáy, có thể khởi phát cấp tính sau chấn thương, sau động tác vận động cổ quá mức, hoặc tự nhiên như sau khi ngủ dậy. Đau cũng có thể xuất hiện từ từ, âm ỉ, mạn tính. Hạn chế vận động cột sống cổ, có thể kèm theo dấu hiệu vẹo cổ, hay gặp trong đau cột sống cổ cấp tính.

Điểm đau cột sống cổ khi ấn vào các gai sau, cạnh cột sống cổ tương ứng các rễ thần kinh [1]. - Hội chứng rễ thần kinh: Đau vùng gáy lan lên vùng chẩm và xuống vai hoặc cánh tay, bàn tay, biểu hiện lâm sàng là hội chứng vai gáy, hoặc hội chứng vai cánh tay. Đau thường tăng lên khi xoay đầu hoặc gập cổ về phía bên đau. Rối loạn vận động, cảm giác kiểu rễ: Yếu cơ và rối loạn cảm giác như rát bỏng, kiến bò, tê bì ở vùng vai, cánh tay, hoặc ở bàn tay và các ngón tay.

Một số nghiệm pháp đánh giá tổn thương rễ thần kinh cổ: 9 + Dấu hiệu chuông bấm: Ấn điểm cạnh sống tương ứng với lỗ tiếp hợp thấy đau xuất hiện từ cổ lan xuống vai và cánh tay. + Nghiệm pháp Spurling: Bệnh nhân ngồi hoặc nằm nghiêng đầu về bên đau, thầy thuốc dùng tay ép lên đỉnh đầu bệnh nhân, làm cho đau tăng lên. + Nghiệm pháp dạng vai: Bệnh nhân ngồi, cánh tay bên đau đưa lên trên đầu và ra sau, các triệu chứng rễ giảm hoặc mất. + Nghiệm pháp kéo giãn cổ: Bệnh nhân nằm ngửa, thầy thuốc dùng tay giữ chẩm và cằm và kéo từ từ theo trục dọc, làm giảm triệu chứng [21].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh giá hiệu quả bột thuốc đắp HV trong điều trị hội chứng cổ vai cánh tay do thoái hóa cột sống cổ là một nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp điều trị mới, tập trung vào việc sử dụng bột thuốc đắp HV để giảm đau và cải thiện chức năng vận động cho bệnh nhân mắc hội chứng cổ vai cánh tay. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp bằng chứng khoa học về hiệu quả của phương pháp mà còn mở ra hướng điều trị tiềm năng, giúp bệnh nhân tránh được các tác dụng phụ của thuốc Tây y. Đây là tài liệu hữu ích cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và bệnh nhân quan tâm đến các phương pháp điều trị không xâm lấn.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị y học, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu lâm sàng Xquang đánh giá hiệu quả điều trị hẹp chiều ngang xương hàm trên bằng hàm nong nhanh kết hợp với minivis, hoặc tìm hiểu về các vấn đề liên quan đến sức khỏe xương khớp qua Luận án tiến sĩ nghiên cứu mật độ xương, tình trạng vitamin D và một số markers chu chuyển xương ở trẻ từ 6 đến 14 tuổi tại thành phố Cần Thơ. Ngoài ra, Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp ở trung tâm y tế huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang năm 2021 cũng là một tài liệu thú vị để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị trong y học.