Đặt vấn đề Rau xanh là một loại thực phâm thiết yếu cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho sự phát triển và sinh trưởng của con người. Hiện nay có rất nhiều loại rau xanh được các gia đình sử dụng trong các bữa ăn hằng ngày, trong đó có một số loại rau sẽ cung cấp một số dưỡng chất nhất định. Cải bẹ xanh hay còn gọi là cải xanh, cải cay, cải xanh với tên gọi khoa học là Brassica juncea. Cai be xanh thuộc ho cai (Brassicaceae).
Rau cải be xanh có màu xanh va vị dang, thường được dùng phổ biến nhất là nấu canh hoặc muối đưa nên trong tiếng Anh nó còn được biết đến với tên gọi mù tat xanh.) trong rau cải có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch, chống oxi hóa, giảm cholesterol trong máu, giảm huyết áp, phòng chống tim mạch và đột quy, hạn chế sự phát triển của một số tế bào ung thư; đồng thời, có tác dụng làm dep cơ thể và kéo dải tuổi xuân. Các muối khoáng (kali, canxi, magié, .) trong rau cải có tính kiềm giúp trung hòa các sản phẩm axit do thức ăn hoặc do quá trình chuyền hóa tạo thành dé chống thiếu máu, tăng thêm sức dẻo dai và chống đỡ với bệnh tật. Ngoài ra rau cải còn cung cấp một lượng lớn chất sơ cho con người làm tăng nhu mô ruột và hệ tiêu hóa, ngăn ngừa ung thư đường tiêu hóa, ngăn ngừa táo bón, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, giảm nguy cơ ung thư trực tràng, làm giảm cholesterol trong máu và hỗ trợ bệnh đái tháo đường (Cooper vả ctv, 2010). Vấn đề rau sạch, rau an toàn vì sức khỏe của người tiêu dùng đang là một trong những van dé thời sự được các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam quan tâm.
Dé phòng chống dịch hại cây trồng, biện pháp chủ lực là sử dụng thuốc hóa học nhưng nếu sử dụng tràn lan không kiểm soát sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường sinh thái (Ikpesu và Ariyo, 2013). Việt Nam hiện nay là một nước có tỉ lệ mắc ung thư cao, trong số các nguyên nhân gây ra thì có 35% đến từ thực phẩm (Cục ATVSTP, 2018). Số lượng và các hoạt chất bảo vệ thực vật sử dụng ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng và phong phú. Đây cũng chính là nguy cơ gây ô nhiễm, phá hủy môi trường, mối nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người và cũng là nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh của nông sản, hàng hóa của Việt Nam ta trên thị trường thế giới.
Đồng thời, gia tăng hiện tượng kháng thuốc, chống chịu thuốc của sâu hại, tiêu điệt các loài có ích và gây mất cân bằng hệ sinh thái. Dé góp phần khắc phục những bat cập, đồng thời khai thác, sử dụng và bảo vệ được sự đa dạng, phong phú của nguồn tài nguyên sinh vật, từng bước thiết lập một nền nông nghiệp sạch, an toàn, én định và bền vững, đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu, chế biến và nội tiêu, các loại thuốc trừ sâu sinh học (thuốc có nguồn gốc từ nam, vi khuẩn, vi rút, hay thuốc thực vật, .) đang ngày càng được chú ý tới. Lợi ích của việc sử dụng thuốc trừ sâu sinh học trong các trương trình nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng rất lớn, với điểm đặc biệt là không dé lại dư lượng trên nông sản, một trong những vấn đề gây lo ngại cho người tiêu dùng. Thuốc trừ sâu sinh học được pha chế từ các hợp chất tự nhiên, được chiết xuất từ nhiều loại cây có khả năng xua đuổi hay tiêu điệt sâu bệnh.
Trong số các loại cây có hoạt tính trừ sâu, cây neem hay còn gọi là xoan An Độ (Azadirachta indica A. Hoạt chất Azadirachtin trên cây neem có tác dụng xua đuôi và gây ngán ăn đối với nhiều loại côn trùng gây bệnh cũng như một số loại tuyến trùng. Hoạt chất azadirachtin còn có tác động ức chế côn trùng phát triển và sinh sản thông qua việc kiểm soát và làm thay đổi sự biến thái bình thường của côn trùng. Ngoài ra, sử dụng chất phụ trợ trong nông nghiệp là các sản pham có nguồn gốc từ thực vật có tác dụng hỗ trợ tăng đáng kể hiệu lực của thuốc bảo vệ thực vật (Bunting va ctv, 2004) từ đó giúp giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng, tăng hiệu quả phòng trừ cũng như giảm dư lượng thuốc trong nông sản.
Tuy nhiên cũng cần thêm các nghiên cứu khoa học dé đánh giá hiệu lực của chế phẩm sinh học chiết suất từ cây neem được nghiên cứu và phát triển trong nước nhằm cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc sử dụng chế phẩm sinh học có khả năng kiểm soát đối với sâu khoang, kết hợp thuốc hóa học với chế phẩm sinh học có tác dụng hỗ trợ tăng hiệu lực thuốc nhằm giảm liều lượng thuốc hóa học đến mức vừa phòng được sâu khoang vừa giảm được dư lượng thuốc tại thời điểm thu hoạch. Nhằm góp phần tìm các giải pháp vừa hạn chế dư lượng trong nông sản, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm vừa phải đáp ứng được yêu cầu canh tác, đề tài “Đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu khoang (Spodoptera litura) trên cây cải be xanh (Brassica juncea) của một số chế phẩm sinh học có nguồn gốc từ thực vật” được thực hiện. Mục tiêu của đề tài Tìm các chế phẩm sinh học phòng trừ được sâu khoang hại cải bẹ xanh và có thể giúp giảm hoặc thay thế một phần sản phẩm thuốc hóa học. Tìm chế phẩm sinh học có tác dụng hỗ trợ nhằm tăng hiệu lực thuốc hóa học khi bắt buộc phải sử dụng, từ đó giảm liều lượng thuốc hóa học so với khuyến cáo dé kiểm soát dư lượng.
Mục tiêu chung của 2 thí nghiệm này nhằm tăng sử dụng thuốc sinh học (Thí nghiệm 1), giảm sử dụng thuốc hóa học (Thí nghiệm 2) nhằm làm giảm dư lượng thuốc hóa học trong nông sản — đây là vấn đề khó khăn hiện nay trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là các loại rau, quả khó áp dụng thời gian cách ly thuốc BVTV hóa học do có đặc điểm giai đoạn thu hoạch xen kẻ, kéo dài. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Đánh giá hiệu lực của chế phẩm sinh học chứa hoạt chất Azadirachtin từ cây neem trong phòng trừ sâu khoang hại cây cải be xanh. Nội dung 2: Đánh giá ảnh hưởng của chất hỗ trợ dầu thực vật este hóa đến hiệu lực phòng trừ sâu khoang trên cải bẹ xanh khi kết hợp thuốc trừ sâu có hoạt chất Novaluron và dư lượng thuốc trong cây cải sau khi thu hoạch. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Sơ lược về sâu khoang (Spodoptera litura F. Phân bố và phạm vi ký chủ Sâu khoang (Spodoptera litura F.) là một trong những côn trùng gây hại quan trọng nhất của cây trồng nông nghiệp tại vùng nhiệt đới Châu Á (Kranz và ctv, 1977). Sâu khoang được phân bố rộng khắp các vùng nhiệt đới và ôn đới của Châu A, Úc và các đảo Thái Bình Dương Châu A: Afghanistan, Bangladesh, Brunei, Campuchia, Lao, Trung Quốc, An D6, Iran, Indonesia, Nhat ban, Han Quốc, Malaysia, Maldives, Myanmar, Nepal, Pakistan, Oman, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Syria, Thái Lan và Việt Nam. Châu Au: Nga.
Châu Phi: Reunion. Bắc Mỹ: Hoa Ky (Hawaii). Châu Đại Duong: American Samoa, Fiji, Guam, Kiribati, Marshall Islands, New Caledonia, New Zealand, Niue, Norfolk Island, Northern Mariana Islands, Papua New Guinea, Quan đảo Pitcairn, Samoa, Quan dao Soloman, Tonga, Tuvalu, Quần dao Midway, Wake Island, Vanuatu, Quan dao Wallis va Futun. Sâu khoang phá hai hơn 120 loài cây trồng khác nhau, bao gồm các cây: cải bông xanh, mù tạt, cải bắp, củ cải đường, cả tím, cả rốt, cả chua, cây bắp, bông vải, khoai môn, kê, thuốc lá, khoai lang, cao su, đậu tương, lạc, thì là, hoa hồng cao su, rau dén, mang tay, cay tao, cay chuối, đậu bắp, đậu xanh, dâm but, cây ca cao,.
Sâu khoang là loại sâu ăn tạp, có thé phá hại trên 500 loài cây khác nhau của 99 cây họ thập tự. Các cây nông nghiệp bị gây hại chủ yếu là họ thập tu Cruciferae (bắp cải, bông cải, cải be, cải củ, su hào, .), cây họ bau bi Cucurbitaceae (dua leo, dua hau, muop, bau, bi, khé qua, dua hau, .), cây ho ca Solanaceae (cà chua, khoai tây, ca bat, Gt, .), cây họ cúc Astaraceae (rau diép, xa lach, tang 6, .), cây ho bông vai Malvaceae (bông vải, đậu bap, .), cây họ lan hué Liliaceae (hành hoa, hành tay, .), cây ho bìm bip Convolvulaceae (rau muống, khoai lang, củ mỡ) (Trần Thị Thiên An, 2003). Đặc điểm hình thái và sinh học Trứng sâu khoang thường có hình cầu, đường kính 0,6 mm, có nhiều lông bao phủ thông thường màu mâu nhạt (Mochida, 1973). Theo Pearson (1958), đường kính của trứng thường từ 0,4 — 0,7 mm, mặt ngoài có khoảng 40 đường gân nổi, màu trang bạc sau đó chuyên sang màu nâu, được bao phủ nhiêu lông.
4 Sâu khoang trải qua 6 tuổi, kéo dai từ 12 — 27 ngày, sâu non mới nở hình trụ có màu xanh nhạt, đầu nâu đen lớn hơn cơ thể, chiều dài sâu non từ 2,16 + 0,14 mm, chiều rộng từ 0,32 + 0,02 mm (Cardona và ctv, 2007). Tại tuổi 1 — 2 sâu thường tập trung gặm lá một chỗ, ăn phần mềm của lá chừa lại lớp biểu bì và gân lá. Ở tuổi 3 sâu bắt đầu phân tán và tàn phá mạnh hơn làm thủng lá thành từng mảng lớn, tuổi này sâu thường phản ứng mạnh với ánh nắng mặt trời, ban ngày sâu thường lẫn trốn chỉ tập trung tàn phá lá vào buôi chiều mát đến sáng sớm hôm sau. Tuổi 4 và 5 sâu khoang tan phá mạnh hơn và phản ứng với ánh sáng nhạy cảm hơn.
Nhiệt độ ưa thích của sâu khoang từ 29 — 30 °C và độ ẩm không khí đạt 90% là điều kiện tốt nhất cho sâu sinh trưởng và phát triển (Nguyễn Đức Khiêm, 2006). Khi sang tuổi 6, sâu bắt dau ăn it, ít hoạt động, cơ thê co lại chui xuống đất tạo thành nôi và hóa nhộng (Nguyễn Thị Chắt, 2006). Nhộng sâu khoang có mau nau đậm, dài 18 — 20 mm, mép trước đốt bụng thứ 4 và vòng quanh các đốt bụng 5, 6, 7 có nhiều chấm lõm, cuối bụng có đôi gai ngắn, phía trên có lỗ thở. Từ 2 — 5 ngày sau khi vũ hóa, trứng đẻ từng 6 khoảng vài trăm quả, thường đẻ mặt dưới của lá, thời gian đẻ giao động từ 6 — 8 ngày.
Một con cái trưởng thành có thé đẻ trung bình từ 1500 — 2500 trứng. Con cái có tính chọn lọc ký chủ để đẻ trứng, nó sẽ ưu tiên đẻ trứng trên những cây thầu dầu và điền thanh hơn những cây khác trong khu vực.