Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam đã thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng, đồng thời làm phát sinh lượng chất thải rắn sinh hoạt ngày càng lớn. Theo số liệu thống kê từ Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2017, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên phạm vi cả nước ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm. Trong đó, khu vực nông thôn chiếm khoảng 65,4% dân số cả nước (Thống kê dân số, 2016), nhưng công tác quản lý chất thải tại nhiều vùng nông thôn và miền núi vẫn còn nhiều bất cập. Tình trạng vứt rác bừa bãi tại các ven đường, bờ sông, ao hồ hình thành các bãi rác tự phát, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng.
Thị xã Nghĩa Lộ nằm ở phía Tây tỉnh Yên Bái, giữ vị trí đầu mối giao thông trọng điểm với Quốc lộ 32 chạy qua. Sự phát triển của các hoạt động kinh tế, thương mại, dịch vụ và gia tăng dân số đô thị khiến áp lực chất thải rắn sinh hoạt tại địa phương ngày một lớn. Tuy nhiên, hệ thống quản lý môi trường tại thị xã còn bộc lộ nhiều hạn chế: phương thức thu gom chủ yếu là thủ công, tỷ lệ thất thoát rác ngoài môi trường còn tồn tại, rác sau thu gom tập trung về bãi rác lộ thiên tại phường Pú Trạng mà chưa qua quy trình xử lý, chôn lấp hợp vệ sinh hay tái chế bài bản. Xuất phát từ thực trạng đó, đề tài "Đánh giá hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Nghĩa Lộ - tỉnh Yên Bái" được thực hiện nhằm cung cấp bức tranh toàn diện về công tác quản lý chất thải rắn tại địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể theo 4 nội dung:
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội trong các năm gần đây của thị xã Nghĩa Lộ.
- Tìm hiểu nguồn phát sinh rác thải của địa phương và các biện pháp để thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ.
- Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ.
- Đề xuất các biện pháp thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với điều kiện thực tế của thị xã Nghĩa Lộ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng phát sinh, thành phần, khối lượng, công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt và nhận thức cộng đồng về quản lý chất thải rắn.
- Phạm vi không gian: Địa bàn thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái (khảo sát chuyên sâu tại 4 phường: Trung Tâm, Tân An, Cầu Thia, Pú Trạng và 1 xã: Nghĩa Lợi).
- Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra, thực tập và thu thập số liệu thực địa diễn ra từ ngày 15/01/2018 đến ngày 15/05/2018 tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Nghĩa Lộ cùng Công ty Môi trường đô thị thị xã Nghĩa Lộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết
Đề tài xây dựng hệ thống cơ sở pháp lý dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương:
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014.
- Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường.
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu.
- Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn.
- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05/09/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
- Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2050.
- Quyết định số 798/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đầu tư xử lý chất thải rắn, chất thải sinh hoạt.
- Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản lý chất thải rắn.
- Quyết định số 1433/QĐ-UBND ngày 18/07/2016 của UBND tỉnh Yên Bái ban hành kế hoạch thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
Hệ thống khái niệm học thuật được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: rác thải, chất thải rắn sinh hoạt, quản lý chất thải rắn sinh hoạt, thu gom rác thải, vận chuyển rác thải, xử lý rác thải, tái chế, tái sử dụng, phế liệu và bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh theo định nghĩa của Luật Bảo vệ Môi trường 2014 và giáo trình chuyên ngành.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả áp dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu môi trường học thực nghiệm và điều tra xã hội học:
- Phương pháp thu thập, kế thừa số liệu: Tiếp cận các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, báo cáo hiện trạng môi trường của UBND thị xã Nghĩa Lộ, Phòng Tài nguyên và Môi trường, số liệu vận hành của Công ty Môi trường đô thị thị xã Nghĩa Lộ.
- Phương pháp điều tra xã hội học (phỏng vấn): Thiết kế phiếu điều tra khảo sát nhanh 50 hộ gia đình phân bố tại 5 đơn vị hành chính (phường Trung Tâm, phường Tân An, phường Cầu Thia, phường Pú Trạng và xã Nghĩa Lợi; mỗi đơn vị 10 hộ). Nội dung khảo sát xoay quanh thông tin hộ, nguồn phát sinh rác, thực trạng phân loại, đánh giá giờ giấc thu gom, mức phí dịch vụ và nhận thức môi trường.
- Phương pháp xác định khối lượng rác thải thực tế: Chọn mẫu 30 hộ gia đình từ 50 hộ khảo sát ban đầu, chia đều theo 3 nhóm ngành nghề/nguồn thu nhập: 10 hộ thuần nông, 10 hộ buôn bán/dịch vụ, 10 hộ công nhân/viên chức. Tiến hành cân rác trực tiếp định kỳ 2 lần/tháng liên tục trong 2 tháng để tính toán lượng phát sinh trung bình (kg/hộ/ngày và kg/người/ngày).
- Phương pháp xác định thành phần vật lý của rác thải: Chọn đại diện 3 hộ gia đình thuộc 3 nhóm thu nhập/ngành nghề khác nhau, cấp phát 3 túi màu riêng biệt để hướng dẫn phân loại rác tại nguồn, sau đó tiến hành phân tách và cân từng hợp phần (chất hữu cơ dễ phân hủy, chất hữu cơ khó phân hủy, giấy, thủy tinh, kim loại, chai nhựa/nilon, chất khác) để xác định tỷ lệ phần trăm khối lượng.
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn sâu, trao đổi chuyên môn với cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Nghĩa Lộ, cán bộ kỹ thuật Công ty Môi trường đô thị và giảng viên hướng dẫn.
- Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Tổng hợp, xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm Microsoft Excel và Microsoft Word; ứng dụng mô hình toán học (mô hình Euler cải tiến) để tính toán và dự báo khối lượng phát sinh rác thải sinh hoạt.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa nhanh và lượng chất thải rắn sinh hoạt gia tăng tại thị xã Nghĩa Lộ. Xác định rõ mục đích nghiên cứu, 4 mục tiêu cụ thể, các yêu cầu kỹ thuật về tính khách quan của số liệu và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học Môi trường.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa toàn diện cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học về chất thải rắn sinh hoạt. Chương này tổng thuật các khái niệm, phân loại nguồn gốc phát sinh (hộ gia đình, công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, cơ quan, y tế, giao thông xây dựng) và tác động tiêu cực của rác thải đến môi trường đất (làm biến đổi cấu trúc hạt, ngộ độc đất qua quá trình yếm khí sinh khí CH4, CO2), môi trường nước (nước rỉ rác gây ô nhiễm nước mặt và nước ngầm), môi trường không khí (mùi hôi, khí độc) và sức khỏe con người (dẫn số liệu WHO về tỷ lệ bệnh tật quanh các bãi rác lộ thiên).
Chương 2 cũng tổng quan kinh nghiệm quốc tế về quản lý chất thải rắn (Nhật Bản với mô hình phân loại 3 túi rác và công nghệ ép gạch xốp; Hoa Kỳ với tỷ lệ rác vô cơ cao, chiếm 38% là giấy; Singapore với cơ chế đấu thầu 9 khu vực thu gom "từ cửa đến cửa"; California với mô hình phân loại đa thùng rác). Đồng thời, tác giả khái quát bức tranh toàn cảnh tại Việt Nam (tỷ lệ gia tăng CTRSH đô thị 10 - 15%/năm, tỷ lệ chôn lấp chiếm 80 - 85% nhưng chỉ 20 - 25% hợp vệ sinh) và thực trạng xử lý rác tại tỉnh Yên Bái (toàn tỉnh phát sinh khoảng 164.000 tấn/năm; giới thiệu dây chuyền xử lý rác không tiếp đất sản xuất phân bón vi sinh của Công ty CP Môi trường và Năng lượng Nam Thành tại xã Văn Tiến, thành phố Yên Bái đưa vào vận hành từ năm 2014).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Quy định rõ ràng đối tượng khảo sát là hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Nghĩa Lộ; địa điểm thực tập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Nghĩa Lộ từ ngày 15/01/2018 đến ngày 15/05/2018. Chương này mô tả chi tiết quy trình tiến hành 5 phương pháp nghiên cứu: thu thập dữ liệu thứ cấp, điều tra bảng hỏi 50 hộ tại 4 phường 1 xã, quy trình cân đo khối lượng thực địa tại 30 hộ, quy trình phân tách thành phần rác tại 3 hộ gia đình mẫu và kỹ thuật xử lý số liệu thống kê.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Đây là chương nội dung thực nghiệm trọng tâm của khóa luận, phản ánh các phát hiện định lượng:
-
Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Thị xã Nghĩa Lộ có diện tích tự nhiên 30,26 km², nằm ở độ cao trung bình 420 m so với mực nước biển, độ dốc 15°. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 22,8°C, lượng mưa trung bình năm 139,04 mm, độ ẩm trung bình 80%. Dân số đạt 27.317 người (khoảng 7.000 hộ gia đình), gồm 17 dân tộc cùng sinh sống (chủ yếu là dân tộc Thái, Kinh, Tày). Tăng trưởng kinh tế bình quân trên 13%/năm; trong đó hộ nông nghiệp chiếm 81,6% và hộ phi nông nghiệp chiếm 18,4%.
-
Khối lượng và nguồn gốc phát sinh CTRSH: Tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên toàn địa bàn thị xã đạt 7.415,16 kg/ngày (tương đương 2.706,5 tấn/năm). Cấu trúc nguồn thải được lượng hóa chi tiết:
| Nguồn phát sinh |
Khối lượng (kg/ngày) |
Khối lượng (tấn/năm) |
Tỷ lệ (%) |
| Hộ gia đình |
5.830,75 |
2.128,2 |
78,7 |
| Chợ |
627,51 |
228,3 |
8,5 |
| Thương mại, dịch vụ |
352,15 |
128,5 |
4,3 |
| Trường học, cơ quan |
265,73 |
96,9 |
3,6 |
| Bệnh viện, trạm y tế |
207,06 |
75,6 |
2,8 |
| Khu công cộng |
152,04 |
55,5 |
2,1 |
| Tổng cộng |
7.415,16 |
2.706,5 |
100,0 |
- Thành phần cơ lý của rác thải: Kết quả phân tích thành phần chất thải rắn sinh hoạt toàn thị xã cho thấy hợp phần hữu cơ dễ phân hủy chiếm ưu thế tuyệt đối:
| Thành phần chất thải |
Tỷ lệ khối lượng (%) |
| Chất hữu cơ dễ phân hủy (rau, củ, quả, thức ăn thừa) |
76,50 |
| Chai nhựa, bao bì nilon |
12,31 |
| Chất hữu cơ khó phân hủy (vải vụn, da, cao su, gỗ, tóc) |
4,21 |
| Giấy các loại |
3,80 |
| Thủy tinh, chai lọ |
2,08 |
| Kim loại, vỏ đồ hộp |
1,10 |
| Tổng cộng |
100,0 |
Đặc tính rác thải có sự phân hóa sâu sắc theo nhóm nghề nghiệp và mức thu nhập của hộ gia đình:
- Hộ làm nông nghiệp: Chất hữu cơ dễ phân hủy chiếm 69,2%; giấy, nilon, chai lọ chiếm 23,1%; chất khác chiếm 7,7%. Khối lượng phát sinh bình quân thấp nhất, đạt 0,94 kg/hộ/ngày.
- Hộ buôn bán, dịch vụ: Chất hữu cơ dễ phân hủy chiếm 38,5%; giấy, nilon, chai lọ chiếm 46,2%; chất khác chiếm 15,3%. Khối lượng phát sinh đạt 1,39 kg/hộ/ngày.
- Hộ công nhân, viên chức: Chất hữu cơ dễ phân hủy chiếm 51,1%; giấy, nilon, chai lọ chiếm 42,6%; chất khác chiếm 6,3%. Khối lượng phát sinh cao nhất, đạt 1,41 kg/hộ/ngày.
- Mức phát sinh bình quân chung toàn thị xã: 1,24 kg/hộ/ngày.
- Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý:
- Tổ chức thực hiện: Công ty Môi trường đô thị thị xã Nghĩa Lộ là đơn vị chủ lực, đảm nhận thu gom khoảng 86% tổng lượng CTRSH phát sinh; 14% rác thải còn lại chưa được thu gom tập trung, chủ yếu nằm ở vùng ven, kênh mương, đồng ruộng. Tại 3 xã (Nghĩa An, Nghĩa Lợi, Nghĩa Phúc) và phường Cầu Thia, tổ vệ sinh phụ trách thu gom đến điểm trung chuyển để công ty vận chuyển tiếp.
- Phương tiện và tần suất: Sử dụng 35 xe đẩy tay thủ công, gom rác từ 5h00 đến 7h30 sáng hàng ngày (tần suất 1 lần/ngày) kết hợp gõ kẻng báo hiệu, sau đó tập kết lên xe ô tô chuyên dùng để vận chuyển về bãi chôn lấp.
- Công nghệ xử lý: Thị xã chưa có nhà máy xử lý rác công nghệ tiên tiến hay tái chế. Toàn bộ rác thải thu gom được đưa về bãi rác phường Pú Trạng để đốt hoặc chôn lấp lộ thiên đơn thuần, không có lót đáy chống thấm hay hệ thống thu gom nước rỉ rác đạt chuẩn.
- Khảo sát xã hội học (50 hộ):
- Về thời gian thu gom: 52% đánh giá hợp lý, 44% bình thường, 4% chưa hợp lý.
- Về mức phí vệ sinh (6.000 đồng/hộ/tháng): 82% đánh giá trung bình (hợp lý), 12% cho rằng cao, 6% cho rằng thấp.
- Về chất lượng dịch vụ: 36% đánh giá tốt, 52% bình thường, 12% chưa tốt.
- Về phân loại rác tại nguồn: 44% hộ có thực hiện, 56% không thực hiện. Nhận thức về sự cần thiết phân loại: 48% cho rằng rất cần thiết, 42% thấy bình thường, 10% cho rằng không cần thiết. Động cơ phân loại chủ yếu là để tận dụng thức ăn chăn nuôi hoặc bán phế liệu (82%), chỉ có 16% phân loại vì mục tiêu giảm rác thải ra môi trường.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt các chỉ số nghiên cứu đạt được về khối lượng phát sinh, thành phần rác thải, hiệu quả thu gom (86%) và phương thức xử lý tại bãi rác Pú Trạng. Tác giả kiến nghị UBND thị xã Nghĩa Lộ và các sở, ngành liên quan cần tăng cường kinh phí đầu tư phương tiện, quy hoạch bãi xử lý rác hợp vệ sinh, ban hành chính sách phân loại rác tại nguồn và đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Xác định chính xác tổng khối lượng CTRSH phát sinh tại thị xã Nghĩa Lộ là 7.415,16 kg/ngày (2.706,5 tấn/năm); trong đó nguồn từ hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn nhất với 78,7% (5.830,75 kg/ngày).
- Xác định hệ số phát thải rác sinh hoạt bình quân là 1,24 kg/hộ/ngày, có sự chênh lệch rõ nét giữa hộ nông nghiệp (0,94 kg/hộ/ngày), hộ buôn bán (1,39 kg/hộ/ngày) và hộ công nhân viên chức (1,41 kg/hộ/ngày).
- Làm rõ cấu trúc thành phần vật lý của rác thải tại thị xã Nghĩa Lộ: chất hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ trọng áp đảo 76,5%, chai nhựa và túi nilon chiếm 12,31%, phần còn lại là chất hữu cơ khó phân hủy (4,21%), giấy (3,8%), thủy tinh (2,08%) và kim loại (1,1%).
- Đánh giá định lượng hiệu quả quản lý: Tỷ lệ thu gom rác đạt 86%, khối lượng rác thất thoát ngoài môi trường còn 14%. Mức phí vệ sinh 6.000 đồng/hộ/tháng nhận được sự đồng thuận của 82% người dân khảo sát.
- Nhận diện các điểm nghẽn kỹ thuật: Khâu thu gom còn nặng tính thủ công (35 xe đẩy tay), quy trình xử lý tại bãi rác phường Pú Trạng là đổ lộ thiên, đốt hoặc chôn lấp thủ công chưa hợp vệ sinh, gây nguy cơ phát tán ô nhiễm thứ cấp.
Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất
- Giải pháp phân loại rác tại nguồn: Ban hành danh mục hướng dẫn người dân phân loại thành 3 nhóm: chất thải hữu cơ dễ phân hủy (làm phân vi sinh hoặc tận dụng chăn nuôi), chất thải tái chế (giấy, vỏ lon, chai nhựa, kim loại) và chất thải còn lại cần đem đi chôn lấp/tiêu hủy.
- Giải pháp tuyên truyền và nâng cao nhận thức: Đa dạng hóa hình thức truyền thông môi trường thông qua các buổi họp tổ dân phố, đoàn thanh niên, hội phụ nữ; đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào trường học.
- Giải pháp thu gom, vận chuyển và trang thiết bị: Bố trí thêm các thùng rác công cộng có nắp đậy tại các ngã ba, ngã tư, khu chợ; nâng cấp đội xe đẩy tay và trang bị đầy đủ bảo hộ lao động đạt chuẩn cho công nhân vệ sinh môi trường; tối ưu hóa khung giờ thu gom phù hợp với sinh hoạt của cư dân.
- Giải pháp kỹ thuật cho bãi rác phường Pú Trạng: Thực hiện quy trình chôn lấp hợp vệ sinh định kỳ (san ủi, đầm nén, phủ đất); phun chế phẩm sinh học khử mùi hôi và diệt trừ ruồi muỗi; xây dựng hệ thống mương gom và xử lý nước rỉ rác trước khi thải ra môi trường.
- Huy động sự tham gia của cộng đồng: Thành lập và nhân rộng các tổ tự quản môi trường tại các thôn bản, tổ dân phố; đưa tiêu chí vệ sinh môi trường vào bình xét danh hiệu gia đình và khu dân cư văn hóa.
Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đã bổ sung bộ dữ liệu thực địa chi tiết về tải lượng và thành phần cơ lý chất thải rắn sinh hoạt tại một đô thị miền núi đặc thù (thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái) năm 2018. Đây là nguồn cứ liệu thực tế hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương trong việc lập quy hoạch môi trường và xây dựng kế hoạch thu gom, xử lý chất thải theo Quyết định số 1433/QĐ-UBND của UBND tỉnh Yên Bái.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về dung lượng mẫu và phạm vi khảo sát: Do giới hạn về thời gian thực tập (4 tháng, từ tháng 1 đến tháng 5/2018) và nguồn lực cá nhân, dung lượng mẫu điều tra xã hội học dừng lại ở 50 hộ gia đình, mẫu cân đo khối lượng thực địa gồm 30 hộ và mẫu phân tích thành phần cơ lý chỉ thực hiện trên 3 hộ đại diện. Số lượng mẫu này chưa bao quát toàn bộ các biến động mùa vụ (mùa mưa và mùa khô) trong năm.
- Hạn chế về chỉ tiêu phân tích: Nghiên cứu mới dừng lại ở việc phân tách thành phần cơ lý bằng phương pháp cân trọng lượng vật lý thô, chưa tiến hành các phân tích hóa lý chuyên sâu trong phòng thí nghiệm như độ ẩm, tỷ lệ tro, nhiệt trị (năng lượng cháy) hay hàm lượng kim loại nặng trong nước rỉ rác tại bãi rác Pú Trạng.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng quy mô điều tra trên toàn bộ các xã, phường của thị xã Nghĩa Lộ; tiến hành quan trắc và phân tích chất lượng môi trường không khí, đất và nước ngầm khu vực xung quanh bãi rác phường Pú Trạng; nghiên cứu tính khả thi kinh tế - kỹ thuật của mô hình sản xuất phân hữu cơ vi sinh quy mô nhỏ từ nguồn rác thải hữu cơ chiếm tới 76,5% tại địa phương.
Giá trị tham khảo
- Đối với sinh viên và học viên: Tài liệu là mẫu tham khảo về cấu trúc, phương pháp luận nghiên cứu thực địa, kỹ thuật thiết kế phiếu điều tra xã hội học và phương pháp cân đo, phân loại thành phần rác thải sinh hoạt trong các khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường.
- Đối với cơ quan quản lý và đơn vị dịch vụ đô thị: Báo cáo cung cấp các số liệu thực tế về khối lượng phát sinh (7.415,16 kg/ngày), tỷ lệ hữu cơ (76,5%) và tỷ lệ thu gom (86%) làm cơ sở để Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Nghĩa Lộ cùng Công ty Môi trường đô thị tính toán định mức lao động, bố trí cung đường vận chuyển, xây dựng kế hoạch đầu tư phương tiện và định hướng phương án cải tạo bãi rác Pú Trạng.
Câu hỏi thường gặp
1. Tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng ngày tại thị xã Nghĩa Lộ theo số liệu khóa luận là bao nhiêu và nguồn nào chiếm tỷ lệ cao nhất?
Theo kết quả điều tra năm 2018, tổng khối lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ là 7.415,16 kg/ngày (tương đương 2.706,5 tấn/năm). Trong đó, nguồn phát sinh từ các hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn nhất với 78,7% (5.830,75 kg/ngày), tiếp theo là từ chợ chiếm 8,5% (627,51 kg/ngày).
2. Thành phần vật lý của chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Nghĩa Lộ có đặc điểm gì nổi bật?
Rác thải sinh hoạt tại thị xã Nghĩa Lộ có thành phần hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ lệ vượt trội với 76,5%. Các thành phần còn lại gồm có: chai nhựa và túi nilon (12,31%), chất hữu cơ khó phân hủy như vải vụn, da, tóc (4,21%), giấy (3,8%), thủy tinh (2,08%) và kim loại chiếm tỷ lệ thấp nhất (1,1%).
3. Khối lượng phát sinh rác thải sinh hoạt bình quân giữa các nhóm hộ gia đình có sự chênh lệch như thế nào?
Mức phát sinh rác trung bình toàn thị xã là 1,24 kg/hộ/ngày. Trong đó, nhóm hộ công nhân/viên chức có lượng xả thải cao nhất (1,41 kg/hộ/ngày), tiếp theo là nhóm hộ buôn bán (1,39 kg/hộ/ngày) và thấp nhất là nhóm hộ làm nông nghiệp (0,94 kg/hộ/ngày).
4. Hiện trạng thu gom và xử lý rác thải của thị xã Nghĩa Lộ đang được tổ chức ra sao?
Công tác thu gom do Công ty Môi trường đô thị thị xã Nghĩa Lộ đảm nhận, đạt tỷ lệ thu gom 86% bằng 35 xe đẩy tay thủ công vào khung giờ 5h00 - 7h30 sáng hàng ngày rồi chuyển lên ô tô chuyên dùng. Về xử lý, địa phương chưa có nhà máy tái chế hay xử lý tiên tiến; toàn bộ rác thu gom được đưa về bãi rác phường Pú Trạng để xử lý bằng hình thức đốt hoặc chôn lấp lộ thiên đơn thuần.
5. Người dân địa phương đánh giá như thế nào về mức phí vệ sinh môi trường và nhận thức về phân loại rác tại nguồn?
Khảo sát 50 hộ dân cho thấy 82% người dân đồng thuận mức phí vệ sinh 6.000 đồng/hộ/tháng là hợp lý (mức trung bình). Về phân loại rác tại nguồn, có 56% số hộ chưa thực hiện phân loại; trong số 44% hộ có phân loại thì 82% xuất phát từ mục đích tận dụng thức ăn chăn nuôi hoặc bán phế liệu thu tiền, chỉ có 16% phân loại nhằm mục đích giảm lượng rác thải bảo vệ môi trường.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Thị Thanh Hà đã phản ánh chi tiết hiện trạng phát sinh, thành phần và công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị xã Nghĩa Lộ năm 2018 bằng hệ thống số liệu định lượng thực tế. Nghiên cứu chỉ ra rằng rác thải tại địa phương mang đặc trưng của đô thị miền núi với hàm lượng hữu cơ cao (76,5%), tỷ lệ thu gom đạt 86% nhưng khâu xử lý cuối nguồn tại bãi rác phường Pú Trạng vẫn còn lạc hậu và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm. Các giải pháp do tác giả đề xuất về phân loại rác tại nguồn, đầu tư hạ tầng thu gom và cải tạo bãi chôn lấp có tính ứng dụng cao, đóng góp thiết thực cho công tác bảo vệ môi trường của địa phương.