Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật đánh giá hiện trạng và khả năng phòng trừ bệnh đen xơ trên cây mít thái artocarpus heterophyllus lam bằng một số loại thuốc bảo vệ thực vật và vật liệu nano agsio2 tại thành phố hồ chí minh

Khóa luận đánh giá hiện trạng và biện pháp phòng trừ bệnh đen xơ trên cây mít Thái bằng thuốc bảo vệ thực vật và vật liệu nano tại TP.HCM.

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Chuyên ngành

Bảo Vệ Thực Vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

63
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sơ lược về cây mít

1.2. Đặc điểm thực vật học của cây mít

1.3. Tình hình sản xuất mít tại Việt Nam

1.3.1. Diện tích trồng mít

1.3.2. Thị trường xuất khẩu

1.3.3. Tổng quan về giống mít Thái siêu sớm

1.4. Bệnh đen xơ và tác nhân gây bệnh đen xơ trên cây mít Thái

1.4.1. Thời điểm xuất hiện và triệu chứng bệnh

1.4.2. Tác nhân gây bệnh đen xơ

1.5. Biện pháp phòng trừ bệnh đen xơ

1.6. Các hoạt chất của thuốc bảo vệ thực vật

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Các loại thuốc bảo vệ thực vật và vật liệu dạng nano sử dụng trong thí nghiệm

2.2. Điều kiện thí nghiệm

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Điều tra hiện trạng canh tác và bệnh đen xơ trên cây mít tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh

2.3.2. Đánh giá khả năng kiểm soát bệnh đen xơ trên mít Thái của một số thuốc bảo vệ thực vật hóa học và vật liệu nano

2.3.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.3.2.2. Quy mô thí nghiệm
2.3.2.3. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Hiện trạng canh tác mít tại huyện Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh

3.1.1. Tỷ lệ bệnh đen xơ tại huyện

3.1.2. Tình hình canh tác mít tại huyện Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh

3.2. Đánh giá hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật và vật liệu dạng nano trong quản lý bệnh đen xơ ở điều kiện đồng ruộng tại xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi

3.2.1. Hiệu quả của một số hoạt chất trong quản lý bệnh đen xơ ở điều kiện ngoài đồng ruộng

3.2.2. Chỉ số bệnh trên múi và xơ

3.2.3. Hiệu lực phun thuốc

4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

PHỤ LỤC

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH CÁC HÌNH

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bệnh Đen Xơ Trên Cây Mít Thái Tại TP

Bệnh đen xơ trên cây mít Thái (Artocarpus heterophyllus Lam.) đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong sản xuất nông nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh. Bệnh này không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn làm giảm giá trị thương phẩm của trái mít. Theo nghiên cứu, bệnh đen xơ thường xuất hiện ở giai đoạn kinh doanh, gây thiệt hại lớn cho nông dân. Vi khuẩn Pantoea stewartii subsp. stewartii được xác định là tác nhân chính gây ra bệnh này. Việc đánh giá hiện trạng và khả năng phòng trừ bệnh đen xơ là cần thiết để bảo vệ cây mít và nâng cao hiệu quả sản xuất.

1.1. Đặc Điểm Của Bệnh Đen Xơ Trên Cây Mít

Bệnh đen xơ thường xuất hiện với các triệu chứng như trái mít bị méo mó, phần xơ bên trong bị đen, múi lép và hạt không phát triển. Những trái mít bị bệnh chỉ có thể bán được với giá trị thấp hơn 50% so với trái không bị bệnh.

1.2. Tình Hình Xuất Hiện Bệnh Đen Xơ Tại TP. Hồ Chí Minh

Bệnh đen xơ đã được ghi nhận tại nhiều tỉnh, trong đó có TP. Hồ Chí Minh. Tỷ lệ mắc bệnh ở các vườn mít có thể lên đến 65%, gây thiệt hại lớn cho nông dân.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Phòng Trừ Bệnh Đen Xơ

Việc phòng trừ bệnh đen xơ trên cây mít Thái gặp nhiều thách thức do thiếu thông tin và kinh nghiệm từ nông dân. Nhiều hộ nông dân chưa có kiến thức đầy đủ về các biện pháp phòng ngừa và điều trị bệnh. Hơn nữa, hiện tại chưa có thuốc đặc trị hiệu quả cho bệnh này, khiến cho việc kiểm soát bệnh trở nên khó khăn.

2.1. Thiếu Kiến Thức Về Bệnh Đen Xơ

Nhiều nông dân không nhận biết được triệu chứng của bệnh đen xơ, dẫn đến việc không áp dụng biện pháp phòng ngừa kịp thời.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Kiểm Soát Bệnh

Sự thiếu hụt thuốc đặc trị và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả đã làm cho bệnh đen xơ trở thành một thách thức lớn trong sản xuất mít.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Hiệu Quả Để Phòng Trừ Bệnh Đen Xơ

Nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá khả năng phòng trừ bệnh đen xơ trên cây mít Thái. Các thí nghiệm được thực hiện với sự tham gia của nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật và vật liệu nano AgSiO2. Kết quả cho thấy một số loại thuốc có hiệu quả cao trong việc kiểm soát bệnh.

3.1. Thí Nghiệm Với Các Loại Thuốc Bảo Vệ Thực Vật

Các thí nghiệm đã sử dụng nhiều loại thuốc như Oxolinic acid, Bronopol và Acid phosphonic để đánh giá hiệu quả phòng trừ bệnh đen xơ.

3.2. Sử Dụng Vật Liệu Nano AgSiO2

Vật liệu nano AgSiO2 đã được thử nghiệm và cho thấy khả năng phòng trừ bệnh đen xơ hiệu quả, mở ra hướng đi mới trong quản lý bệnh.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Khả Năng Phòng Trừ Bệnh Đen Xơ

Kết quả nghiên cứu cho thấy một số loại thuốc bảo vệ thực vật và vật liệu nano AgSiO2 có khả năng phòng trừ bệnh đen xơ lên đến 100%. Điều này cho thấy tiềm năng lớn trong việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả cho cây mít Thái tại TP. Hồ Chí Minh.

4.1. Hiệu Quả Của Các Loại Thuốc

Các loại thuốc như Staner 20WP và Xantocin 40WP đã chứng minh hiệu quả cao trong việc kiểm soát bệnh đen xơ trên cây mít.

4.2. Đánh Giá Tác Động Của Vật Liệu Nano

Vật liệu nano AgSiO2 đã cho thấy khả năng phòng trừ bệnh đen xơ vượt trội, giúp nâng cao năng suất và chất lượng trái mít.

V. Kết Luận Và Hướng Đi Tương Lai Trong Phòng Trừ Bệnh Đen Xơ

Việc đánh giá hiện trạng và khả năng phòng trừ bệnh đen xơ trên cây mít Thái tại TP. Hồ Chí Minh là rất cần thiết. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa hiệu quả có thể giúp giảm thiểu thiệt hại do bệnh gây ra. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao kiến thức cho nông dân và phát triển các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật mới.

5.1. Tăng Cường Đào Tạo Cho Nông Dân

Cần tổ chức các khóa đào tạo để nâng cao nhận thức và kiến thức cho nông dân về bệnh đen xơ và các biện pháp phòng ngừa.

5.2. Nghiên Cứu Phát Triển Thuốc Mới

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các loại thuốc bảo vệ thực vật mới có hiệu quả cao trong việc phòng trừ bệnh đen xơ.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật đánh giá hiện trạng và khả năng phòng trừ bệnh đen xơ trên cây mít thái artocarpus heterophyllus lam bằng một số loại thuốc bảo vệ thực vật và vật liệu nano agsio2 tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây mit 1.1 Phân loại, nguồn gốc Mit (Artocarpus heterophyllus Lam.), là một loại trái cây nhiệt đới, thuộc ho Moraceae, có nguồn gốc từ Tay Ghats của An Độ và phô biến ở Châu A, Châu Phi và một sô vùng ở Nam Mỹ. Nó được biết đến là lớn nhất trái cây ăn được trên thé giới (Ranasinghe va ctv, 2019). Theo Zielenski (1955), cây mít được phân loại như sau: Bộ: Urticales Họ: Moraceae Chi: Artocarpus Loài: Artocarpus heterophyllus Mit được trồng ở An Độ từ thoi cô đại, sau đó được các thương gia A Rap đưa đến bờ biển Đông Phi và ngày nay mít đã lan rộng ra khắp các vùng nhiệt đới. Một số ý kiến cho rằng có các vật liệu hoang đã có quan hệ với mít ở quần đảo Andaman, một số khác lại cho rằng mít có nguồn gốc từ Malaysia (Phạm Hùng Cương và Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2019).

Hiện nay, cây mít được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới như: Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Sri Lanka, Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines. Cây mít cũng được tìm thấy trên khắp Châu Phi cũng như ở nhiều nước nhiệt đới Nam và Trung Mỹ (Phạm Hùng Cương và Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2019). Tại Việt Nam, mít được trồng từ Bắc vào Nam. trừ những vùng cao ở miền Bắc.

Cả nước có khoảng 10.300 ha trồng mít với sản lượng 109. Miền Đông Nam Bộ có khoảng 4.620 ha diện tích trồng mít nhưng còn nhỏ lẻ. Thời gian gần đây, giống mít Thái siêu sớm, du nhập từ Thái Lan đang được phát triển mạnh tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (Lê Trí Nhân và ctv, 2016).2 Đặc điểm thực vật học của cây mít Cây mít thuộc loại cây thân gỗ cao từ 10 - 20 m đôi khi đạt tới 30 m, có rễ cọc dai và rễ bao xung quanh dày đặc, thân cây thường có đường kính khoảng 80 - 100 - 120 cm nhưng cũng có thê lớn hơn ở những cây già. Hoa thuộc loại đơn tính cùng cây hay khác cây, hoa mít Thái mọc thành chùm trên thân chính hay cành thứ cấp.

Mỗi chùm hoa có thé xuất hiện các kiểu phát hoa như phát hoa chỉ có cụm hoa đực, phát hoa có cả cụm hoa đực và cái (đực - cái), và phát hoa chỉ có hoa cái (Lê Trí Nhân và ctv,2016). Mít có một hoặc nhiều trái, với lớp vỏ bên ngoài màu xanh lá cây đến vàng nâu bao gồm các đỉnh lá hình nón tù, hình lục giác được bao phủ bởi một lớp vỏ dày và dẻo như cao su, có màu trắng đến hơi vàng. Quả mít thường nặng từ 4,5 - 30 kg. Quả nặng chủ yếu được mọc ở thân và phần bên trong của cành chính.

Mít là một trong những loại trái cây hiện được trồng ở hầu hết các tỉnh thành từ Bắc tới Nam ở Việt Nam và có tiềm năng phát triển rất lớn trong tương lai. Mit có tinh đa dạng cao, có sự khác biệt lớn về năng suất, kích thước quả, màu sắc vỏ, màu cùi, tỷ lệ phần ăn được. Một số dòng chọn lọc cho quả trung bình từ 10 - 12 kg, cùi màu vàng, chắc, giòn và ngọt. Ở các tỉnh phía Bắc, mít được chia thành 2 nhóm chính là mít dai có cùi chắc, giòn, ngọt và mít mật có cùi mềm, mọng nước khi chín.

Ở các tỉnh phía Nam, mít được chia làm 2 nhóm chính là mít ta và mít tô nữ. Do mang lại lợi nhuận cao nên diện tích trồng mít những năm gần đây được mở rộng nhanh chóng và tông diện tích mít năm 2009 ước đạt 50.000 ha trên cả nước (Nguyen, 2011).2 Tình hình sản xuất mít tại Việt Nam 1.1 Diện tích trồng mít Cây mít đã được trồng ở tất cả các vùng sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam. Tuy nhiên, vùng trồng chủ yếu phục vụ thị trường trong nước và xuất khâu được phân bố ở khu vực Bắc Trung Bộ (Ha N61), miền núi phía Bắc (tỉnh Bắc Giang và Sơn La), Tây Nguyên (tỉnh Đăk Lăk) và khu vực phía Nam (Đồng Nai, Tây Ninh, Tiền Giang). Diện tích canh tác mít tai Thành phố Hồ Chí Minh hiện có là 254,81 ha, trong đó diện tích đất trồng mới chiếm 10%, năng suất trung bình 14 tấn/ha và sản lượng thu hoạch năm 2020 tại Thành phố Hồ Chí Minh dat gần 3000 tan (Cục trồng trọt, 2020).

Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2021, diện tích mít tại Việt Nam đạt 72.244,4 ha với sản lượng ước đạt 706. Trong đó, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long chiếm hơn 50% diện tích cả nước (38. Trên thế giới, Ấn Độ là quốc gia đứng đầu thế giới nước sản xuất mít hàng đầu với sản lượng 1,4 triệu tan, tiếp theo là Bangladesh tuyên bố mit là trái cây quốc gia với san lượng 926 tan. Thái Lan và Indonesia là hai nhà sản xuất mít hàng đầu khác, với sản lượng lần lượt là 392 và 340 tan.

Giá mít dường như đã hội tụ (dưới 1 USD/kg), ngoại trừ ở các khu vực của thé giới khó tiếp cận như Uc (2,91 USD) và Bắc Mỹ (1,86 USD). Mit được liệt kê trong vùng kinh tế trọng điểm quốc gia (NKEA) là một trong những cây ăn quả mang tính kinh tế của Malaysia, nơi việc trồng trọt đã được nâng cấp lên quy mô lớn quy mô. Giá trị sản xuất trên mỗi tấn là 1,25 RM vào năm 2013, tang đáng kê lên 1,60 RM, 1,81 RM và 1,92 RM trong những năm liên tiếp tiếp theo. Năm 2017 và năm 2018, giá trị sản xuất không tăng và giữ ở mức 2,09 RM.

Diện tích thu hoạch giảm vào thời điểm đó từ 3107 ha xuống còn 2979 ha. Đó là thời điểm bùng phát hiện tượng tạo màu nâu cho mít lần đầu tiên được báo cáo ở trong nước.000 ha mít các đồn điền bị ảnh hưởng bởi các triệu chứng bệnh, với tỷ lệ mắc bệnh là 50 - 80%. Các giá trị sản xuất mít sau đó giảm xuống còn 1,95 RM va 1,88 RM vào năm 2019 và 2020, tương ứng. Trong khi điều này đang diễn ra, sản xuất mít ở Philippines giảm, từ 47,09 tan năm 2012 xuống còn 40,2 tan năm 2020 (Ibrahim và ctv, 2022).2 Thị trường xuất khẩu Mit Thái là loại trái cây được người tiêu dùng ưa chuộng, xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Trung Quốc (chiếm khoảng 90%).

Ngoài ra, các doanh nghiệp chế biến cũng thu mua mít dé làm sản phẩm sấy khô. Trong 7 tháng đầu năm 2020, theo sé liệu từ Bộ NN&PTNT, Việt Nam đã xuất khẩu 1.354 lô mít với tổng khối lượng 182.211,81 tan sang Trung Quốc (Đào Ngọc Tiến và ctv, 2020). Việt Nam đang xuất khẩu mít say khô, qua mít đông lạnh và quả mít tươi sang nhiều nước trên thế giới. Các thị trường chính của quả tươi bao gồm Trung Quốc, Dubai, Philippin, Italya, Han Quốc (Cục bảo vệ thực vat, 2021).3 Tong quan về giống mít Thái siêu sớm Giống mit Thái siêu sớm có nguồn gốc từ Thái Lan, trong đó giống Changai là chủ yếu đang được phát triển mạnh tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.

Mít Thái khi chín, ngoại trừ lớp vỏ, phần còn lại của múi mít đều có thể ăn được. Thịt mít màu vàng tươi, cùi dày, khô, giòn ngọt thơm, hạt nhỏ, ít xơ. Về khía cạnh dinh dưỡng, phần thit mít đã được báo cáo có chứa hàm lượng cao protein, tinh bột, canxi va thiamine. Ngoài ra, mít cũng chứa các loại đường tự do (sucrose), axit béo, axit amin, axit ellagic, vitamin C và carotenoid.

Mit còn chứa các chất có đặc tính khang oxi hóa: lignans, lavones va saponin có nhiều lợi ích cho sức khỏe như đặc tính chống ung thư, hạ huyết áp và chống lão hóa (Ung Minh Anh Thư và ctv, 2022).3 Giá trị của cây mít Thái 1.1 Giá trị dinh dưỡng Một nghiên cứu đã khám phá ra rằng mít chứa hàm lượng vitamin và khoáng chất cao. Loại quả này rất giàu carotene và carbohydrate và giàu axit ascorbic vừa phải. Bên cạnh đó, mít còn chứa các khoáng chất như canxi, kali và nhóm phức hop Vitamin B. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp Hoa Ky (2016) mít có giá tri dinh dưỡng độc đáo, các chất dinh dưỡng thực vật có thể ngăn ngừa sự hình thành các tế bào ung thư trong cơ thê, hạ huyết áp, chống lại chứng loét dạ dày và có thể làm chậm quá trình thoái hóa của các tế bào (Rajneesh Srivastaval và Anu Singh, 2020).

Theo Ranasinghe và ctv (2019), mít rất giàu chất dinh dưỡng bao gồm carbohydrate, protein, vitamin, khoáng chất và chất phytochemical. Cả hạt và thịt quả mít đều được dùng làm món ca ri và luộc, trong khi quả mít ở giai đoạn chín hoàn toàn có thể ăn được trực tiếp như một loại trái cây. Một số quốc gia đã phát triển các sản phẩm thực phẩm khác nhau như mứt, thạch, mứt cam và kem bang cách sử dung mit xay nhuyễn. Một số bộ phận của cây mít bao gồm quả, lá và vỏ cây đã được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền do tác dụng chống ung thư, kháng khuẩn, khang nam, chống viêm, chữa lành vết thương và hạ đường huyết.2 Giá trị được liệu Theo Swami và ctv (2012), mít có khả năng kháng khuẩn, kháng nam, trị đái tháo đường, chống viêm và chống oxy hóa.

Mít chứa các hợp chất chức năng có khả năng làm giảm các bệnh khác nhau như huyết áp cao, bệnh tim, đột quy và loãng xương. Mít cũng có khả năng cải thiện chức năng co và thần kinh, làm giảm mức homocysteine trong máu. Mít rất giàu kali giúp giảm huyết áp và đảo ngược tác dụng của natri gây tăng huyết áp ảnh hưởng đến tim và mạch máu; giúp ngăn ngừa bệnh tim, đột quy và mat xương, đồng thời cải thiện chức năng cơ và thần kinh. Theo Baliga và ctv (2011), mít là nguồn cung cấp vitamin C déi dao, giúp bảo vệ da khỏi những tổn thương xảy ra do quá trình lão hóa tự nhiên và tiếp xúc kéo dai với ánh nang mặt trời.

Các chất dinh dưỡng thực vật như lignan, isoflavone va saponin trong mít góp phần vào đặc tính chống ung thư, hạ huyết áp, chống loét và chống lão hóa. Chúng ngăn ngừa sự hình thành các tế bào ung thư trong cơ thê và chống lại chứng loét da dày. Theo Prakash và ctv (2009), mít sở hữu các hợp chất như morin, dihydromorin, cynomacurin, artocarpin, isoartocarpin, cyloartocarpin, artocarpesin, oxydihydroartocarpesin, artocarpetin, noartocarpetin, cycloartinone, betulinic acid, artocarpanone va Heterophylol rat hữu ich trong điều trị sốt, mụn nhọt, vết thương, bệnh ngoài da, co giật, lợi tiêu, tao bón, rôi loạn nhãn khoa, ran căn.4 Bệnh hại trên cay mit Theo Fatmi và ctv (2019), bệnh nắm hồng do nam Corticium salmonicolor gây ra. Corticium salmonicolor là một loại nam gây bệnh hoặc gây chết cành, chúng thường tân công vào cây hai lá mầm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá Hiện Trạng và Khả Năng Phòng Trừ Bệnh Đen Xơ Trên Cây Mít Thái Tại TP. Hồ Chí Minh" cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình và các biện pháp phòng trừ bệnh đen xơ trên cây mít Thái, một loại cây trồng quan trọng tại khu vực này. Tài liệu nêu rõ các phương pháp hiện có để kiểm soát bệnh, đồng thời đánh giá hiệu quả của các loại thuốc bảo vệ thực vật trong việc phòng trừ bệnh. Điều này không chỉ giúp nông dân nâng cao năng suất cây trồng mà còn góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Để mở rộng kiến thức về các biện pháp phòng trừ bệnh hại cây trồng, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Khóa luận tốt nghiệp bảo vệ thực vật đánh giá hiện trạng và khả năng phòng trừ bệnh đen xơ trên cây mít thái artocarpus heterophyllus lam của một số thuốc bảo vệ thực vật tại huyện cái bè tỉnh tiền giang, nơi cung cấp thông tin chi tiết về tình hình bệnh đen xơ tại Tiền Giang.

Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh vật học một số loài bệnh hại trên cây thầu dầu cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp phòng trừ bệnh hại theo nguyên tắc quản lý tổng hợp.

Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu hiệu lực của một số loại thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ rầy lưng trắng sogatella furcifera horvath hại lúa sẽ cung cấp thêm thông tin về hiệu quả của các loại thuốc bảo vệ thực vật trong việc kiểm soát sâu bệnh, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về lĩnh vực này.

Mỗi tài liệu đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các vấn đề liên quan đến phòng trừ bệnh hại cây trồng, mở rộng kiến thức và ứng dụng trong thực tiễn.