ĐẶT VẤN ĐỀ Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho GDP của đất nƣớc nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng. Nhiều làng nghề truyền thống hiện nay đã đƣợc khôi phục, đầu tƣ phát triển với quy mô và kỹ thuật cao hơn, hàng hóa không những phục vụ nhu cầu trong nƣớc mà còn cho xuất khẩu với giá trị lớn. Việc phát triển làng nghề là một phần quan trọng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn trong những năm đầu của thế kỷ XXI. Phát triển mạnh những ngành nghề, đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm truyền thống có giá trị kinh tế cao, sử dụng đƣợc nhiều lao động là lợi thế của làng nghề địa phƣơng.
Đời sống ngƣời dân ở nhiều vùng nông thôn trong cả nƣớc đã khấm khá lên do sản xuất nông nghiệp phát triển đồng thời với việc khôi phục và phát triển các làng nghề. Tuy nhiên, một trong những thách thức đang đặt ra đối với các làng nghề là vấn đề môi trƣờng và sức khỏe của ngƣời lao động, của cộng đồng dân cƣ đang bị ảnh hƣởng nghiêm trọng từ hoạt động sản xuất của các làng nghề. Những năm gần đây, vấn đề này đang thu hút sự quan tâm của Nhà nƣớc cũng nhƣ các nhà khoa học nhằm tìm ra các giải pháp hữu hiệu cho sự phát triển bền vững các làng nghề. Đã có nhiều làng nghề thay đổi phƣơng thức sản xuất cũng nhƣ quản lý môi trƣờng và thu đƣợc hiệu quả đáng kể.
Song, đối với không ít làng nghề, sản xuất vẫn đang tăng về quy mô, còn môi trƣờng ngày càng ô nhiễm trầm trọng. Thêu ren là một nghề thủ công truyền thống đang phát triển mạnh ở Thanh Liêm, Hà Nam. Công nghệ nấu, tẩy, giặt sợi đã sử dụng nhiều hoá chất gây tác động xấu đến môi trƣờng đất, nƣớc, không khí. Để tìm hiểu hiện trạng môi trƣờng của làng nghề thêu ren huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Tôi đã lựa chọn đề tài: “ Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp cải thiện chất lượng môi trường tại làng nghề thêu ren An Hòa, xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam”. 1 Đề tài thực hiện sẽ cung cấp thông tin cụ thể về hiện trạng môi trƣờng của khu vực làng nghề và đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ô nhiễm môi trƣờng phục vụ cho sự phát triển làng nghề bền vững. 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm về làng nghề Khái niệm làng nghề đƣợc hiểu theo nhiều cách thức khác nhau.
Các nhà nghiên cứu đã đƣa ra nhiều quan niệm về làng nghề, dƣới đây là một số quan niệm. - Làng nghề là hình thức phân công giữa công nghiệp và nông nghiệp sớm nhất trong nông thôn. Từ đó phát huy nội lực, huy động tiềm năng các hộ trong nông thôn để phát triển ƣu thế của làng nghề, là một giải pháp cơ bản nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. (Đặng Kim Chi và cộng sự, 2006) - Làng nghề là các làng nông thôn Việt Nam đang tồn tại hoạt động của các nghề tiểu thủ công, phi nông nghiệp có ít nhất 30% so với tổng số hộ và lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động, đóng góp ít nhất 50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng, doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất 300 triệu đồng.
(Đặng Kim Chi và cộng sự, 2006) - Làng nghề đƣợc phân thành làng một nghề, làng nhiều nghề, làng nghề truyền thống và làng nghề mới. + Làng một nghề là những làng ngoài nghề làm nông nghiệp ra thì chỉ có thêm duy nhất một nghề tiểu thủ công nghiệp chiếm ƣu thế tuyệt đối nhƣ: làng lụa Vạn Phúc, làng gốm Bát Tràng. + Làng nhiều nghề giống nhƣ tên gọi của nó, ngoài nghề nông nghiệp ra thì làng còn có thêm một số nghề tiểu thủ công nghiệp khác nhằm tăng thêm thu nhập cho ngƣời dân sống trong làng nhƣ: Ninh Hiệp, Đồng Văn. + Làng nghề truyền thống là làng nghề xuất hiện từ rất lâu đời trong lịch sử, vẫn còn duy trì và phát triển tới ngày nay, gìn giữ nét đẹp văn hóa qua từng thời kỳ, có thể tồn tại hàng trăm năm thậm chí là hàng nghìn năm.
+ Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện phát triển, lan tỏa của các làng nghề truyền thống trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ chuyển dịch sang kinh tế thị trƣờng. Tiêu chí làng nghề Theo thông tƣ số 116/2006/TT – BNN ngày 18/12/2006 của BNN&PTNT hƣớng dẫn một số nội dung của Nghị Định số 66/2006/NĐ -CP ngày 07/07/2006 của chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, một số tiêu chí công nhận nghề truyền, làng nghề và làng nghề truyền thống nhƣ sau: - Tiêu chí công nhận làng nghề: Làng nghề đƣợc công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau: + Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. + Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. + Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc.
- Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống: + Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tƣ này. + Đối với những làng chƣa đạt tiêu chuẩn của tiêu chí công nhận làng nghề nhƣng có ít nhất một nghề truyền thống đƣợc công nhận theo quy định của Thông tƣ này thì cũng đƣợc công nhận là làng nghề truyền thống. Đặc điểm chung của làng nghề Ở mỗi làng nghề đều có sự khác nhau về quy mô sản xuất, quy trình công nghệ, tính chất sản phẩm nhƣng đều có chung một số đặc điểm sau: - Lực lƣợng lao động trong làng nghề đa số là ngƣời dân sống trong làng. Các ngành nghề phi nông nghiệp trong làng sẽ tạo ra sản phẩm giúp cho ngƣời dân tăng thu nhập trong lúc nông nhàn.
- Hộ gia đình là đơn vị cơ bản của sản xuất với nguồn nhân lực từ thành viên trong gia đình và cơ sở hạ tầng tự có. Nhờ vào nhân lực gia đình đã tạo cho các hộ gia đình khả năng thu nhập không phân biệt lứa tuổi và giới tính vì nó đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên trong gia đình. Do đó, nó có thể huy động 4 mọi ngƣời trong gia đình tham gia tích cực vào việc tăng sản phẩm sản xuất của gia đình. - Cơ sở sản xuất dịch vụ tại làng xã là nơi có nhiểu hộ gia đình cùng tham gia.
Điều này tạo nên tính chất riêng biệt của làng nghề, dẫn đến xu thế độc quyền những nghề nghiệp, sản phẩm. - Tính chuyên môn hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau trong các làng nghề rất rõ rệt. Một số trƣờng hợp, sự phân chia lao động trong làng nghề phụ thuộc vào từng khâu trong quy trình sản xuất. Nghề càng phức tạp, càng có nhiều công đoạn sản xuất thì tính chuyên môn hóa càng cao.
Sự phân chia này không chỉ trong một làng mà còn có thể mở rộng trong nhiều làng. - Phần lớn kỹ thuật - công nghệ của làng nghề còn lạc hậu, chủ yếu vẫn sử dụng các thiết bị thủ công, bán cơ khí hoặc đã đã đƣợc cải tiến một phần, đa số mua lại từ các cơ sở công nghiệp quốc doanh, các thiết bị này đã cũ, không đồng bộ, không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật và điều kiện làm việc cho ngƣời lao động. Công nghệ sản xuất đơn giản (đôi khi còn lạc hậu), cần nhiều sức lao động (với kỹ thuật cũ mang lại lợi nhuận thấp so với sức lao động đã bỏ ra). - Biết tận dụng nguyên vật liệu và nhân lực thông qua kỹ năng lao động và sự khéo léo để tạo thu nhập trong điều kiện thiếu vốn.
Phân loại làng nghề Trên cả nƣớc, làng nghề phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng Sông Hồng (chiếm khoảng 60%), còn lại là ở Miền Trung (chiếm khoảng 30%) và Miền Nam (khoảng 10%). (Tổng cục Môi trường tổng hợp, 2008) Theo Báo cáo môi trƣờng quốc gia năm 2008, dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo một số dạng nhƣ sau: - Làng nghề truyền thống và làng nghề mới. - Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm - Theo quy mô sản xuất, theo quy trình công nghệ - Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm - Theo mức độ sử dụng nguyên nhiên liệu 5 - Theo thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển. Mỗi cách phân loại nêu trên có những đặc thù riêng và tùy theo mục đích mà có thể lựa chọn cách phân loại phù hợp.
Trên cơ sở tiếp cận vấn đề môi trƣờng làng nghề, cách phân loại theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm là phù hợp hơn cả, gồm 6 nhóm ngành nghề chính (hình 1.1), mỗi ngành chính lại bao gồm nhiều ngành nhỏ. Mỗi nhóm ngành làng nghề có các đặc điểm khác nhau về hoạt động sản xuất sẽ gây ảnh hƣởng khác nhau tới môi trƣờng. Thủ công mỹ nghệ Tái chế phế liệu 15% 5% Chế biến lương thực, 39% thực phẩm, chăn nuôi 17% giết mổ Dệt nhuộm, ươm tơ 20% 4% thuộc da Vật liệu xây dựng, khai thác đá Các nghề khác Hình 1. Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất ( Nguồn: Tổng cục môi trường tổng hợp, 2008) * Làng nghề chế biến lƣơng thực phẩm, đi kèm với chăn nuôi có số lƣợng làng nghề lớn (chiếm 20% số lƣợng làng nghề) phân bố đều trên cả nƣớc, phần nhiều sử dụng lao động nông nghiệp, không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công, ít có thay đổi về quy trình sản xuất.
Nƣớc ta có nhiều làng nghề thủ công truyền thống nhƣ nấu rƣợu, làm bánh đa nem, đậu phụ. với các nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai, sắn, đậu. các nghề này thƣờng gắn với hoạt động chăn nuôi ở quy mô gia đình. 6 * Làng nghề thêu, dệt nhuộm, ƣơm tơ, thuộc da đã có từ lâu đời, nhiều sản phẩm đã gắn liền với truyền thống lịch sử, văn hoá đậm nét địa phƣơng.
Những sản phẩm nhƣ lụa, tơ tằm, thổ cẩm, thêu ren, dệt may. không chỉ là những sản phẩm hàng hoá có giá trị mà còn là những tác phẩm nghệ thuật đƣợc đánh giá cao. Tại các làng nghề nhóm này, lao động nghề thƣờng là lao động chính (chiếm tỷ lệ cao hơn lao động nông nghiệp). * Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá có từ lâu đời, tập trung ở các vùng có sẵn nguyên liệu xây dựng.