Đặt vấn đề Hiện nay, kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển theo xu hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, từ đó đời sống người dân ngày càng được nâng cao. Cùng với sự phát triển kinh tế không ngừng thì các vấn đề xã hội như y tế, văn hóa, giáo dục, …. ngày càng được quan tâm và đầu tư, chất lượng cuộc sống của mọi người ngày càng được cải thiện. Chính vì vậy, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách y tế, dịch vụ chăm sóc sức khỏe được hình thành, cùng với đó các bệnh viện, trung tâm y tế được xây dựng mới nhằm phục vụ nhu cầu khám và chữa bệnh ngày càng tăng cao.
Bên cạnh công tác khám chữa bệnh ngày càng được chú trọng, vấn đề sức khỏe con người được quan tâm và đặt lên hàng đầu. Ngành y tế đã có những chuyển biến mạnh mẽ với trang bị máy móc kỹ thuật hiện đại phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh của con người. Nhưng song song với sự phát triển đó có nhiều vấn đề phát sinh và cần được quan tâm. Xu thế sử dụng các sản phẩm chỉ dùng một lần trong y tế càng khiến lượng chất thải rắn y tế phát sinh ngày càng tăng, trong đó có nhiều nhóm chất thải nguy hại đối với con người và môi trường xung quanh.
Theo khảo sát của Bộ y tế vào năm 2009, có khoảng 33% các bệnh viện tuyến huyện và tỉnh không có hệ thống lò đốt chuyên dụng, phải xử lý chất thải y tế nguy hại bằng lò đốt thủ công. Khoảng 27% các cơ sở y tế tiến hành đốt chất thải ngoài trời hoặc chôn lấp tạm thời trong khu đất bệnh viện. Do đó, vấn đề quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện, trung tâm y tế hiện nay là vấn đề được toàn xã hội quan tâm. Chất thải rắn y tế là một trong những chất thải nguy hại vào loại bậc nhất, việc quản lý và xử lý rất phức tạp và khó khăn.
Nếu không có các biện pháp quản lý hợp lý, xử lý không tốt thì đây sẽ là nguồn lây lan các mầm bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, gây ra những vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. n 2 Từ tình hình thực tế và yêu cầu của việc đánh giá quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện. Được sự đồng ý của Khoa Môi trường, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Chí Hiểu, em tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Lâm Thao – Phú Thọ”.
Từ đó làm rõ hơn về hiện trạng quản lý, xử lý chất thải rắn của bệnh viện, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả trong thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn y tế , phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường cho phép và hướng tới nền kinh tế phát triển bền vững về mặt môi trường. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lâm Thao – Phú Thọ. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải y tế, nâng cao chất lượng môi trường.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá công tác quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Lâm Thao. - Phân tích các nguyên nhân còn tồn tại của việc thu gom, phân loại, lưu trữ, vận chuyển, xử lý rác thải. - Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Lâm Thao - Đánh giá hiểu biết của cán bộ nhân viên, bệnh nhân về tình hình quản lý rác thải y tế của bệnh viện. Yêu cầu - Số liệu thu thập phải đảm bảo tính chính xác và khách quan.
- Đánh giá được thực trạng công tác thu gom, xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lâm Thao. - Các giải pháp đưa ra phải có tính thực tiễn cao và phù hợp với điều kiện của Bệnh viện. n 3 - Nắ m chắ c các Nghi ̣đinh ̣ , Thông tư, Quyế t đinh ̣ , Văn bản hướng dẫn hiê ̣n hành về công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế. - Nâng cao kiến thức thực tế của bản thân phục vụ cho công tác sau khi ra trường.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Vận dụng, phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu áp dụng vào thực tế. - Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu, học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế. - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được các mặt tích cực, hạn chế trong công tác quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lâm Thao.
- Có những biện pháp đề xuất hiệu quả, khả thi trong công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện. - Góp phần chung vào công tác bảo vệ môi trường của đất nước. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài.
Một số khái niệm. * Định nghĩa chất thải y tế Theo Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 quy định: - Chất thải y tế (CTYT): Theo qui định về quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành, chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo, chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng, khí. - Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH): Là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ, phóng xạ, dễ cháy nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn. - Rác y tế (RYT): Là phần chất thải y tế ở dạng rắn, không tính chất thải dạng lỏng và khí, được thu gom và xử lý riêng.
- Rác sinh hoạt y tế (RSHYT): Là chất thải không xếp vào chất thải nguy hại, không có khả năng gây độc, không cần lưu giữ, xử lý đặc biệt; là chất thải phát sinh từ các khu vực bệnh viện: giấy, plastic, thực phẩm, chai lọ…. Phân loại chất thải rắn y tế. Chất thải thông thường Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: - Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly). - Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nylon, túi đựng phim… - Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh. Chất thải lây nhiễm Nhóm chất thải lây nhiễm được Bộ Y tế phân thành 4 nhóm loại chất thải thao Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007, trong đó bao gồm: Bảng 2.1 : Phân nhóm chất thải y tế Phân nhóm Tên phân nhóm Thành phần Bơm tiêm, kim tiêm, lưỡi và cán dao, A Chất thải sắc nhọn đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh vỡ thủy tinh. Những vật liệu thấm máu, thấm dịch: Chất thải lây nhiễm không B bông, gạc, bang, dây truyền máu, các sắc nhọn ống dây lưu dẫn. Chất thải có nguy cơ lây Găng tay, lam kính, ống nghiệm, C nhiễm cao bệnh phẩm… Mô, cơ quan người: chân, tay, rau D Chất thải giải phẫu thai, bào thai (Nguồn: Quy định quản lý chất thải y tế - Bộ y tế - 2007) 2.
Chất thải phóng xạ Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trị liệu, và nghiên cứu. Chất thải phóng xạ gồm: dạng rắn, lỏng và khí. - Chất thải phóng xạ rắn bao gồm: Các vật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chuẩn đoán, điều trị như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo hộ, giấy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ… - Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: Dung dịch có chứa chất phóng xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người bệnh, các chất bài tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chất phóng xạ… - Chất thải phóng xạ khí bao gồm: Các chất khí thoát ra từ kho chứa chất phóng xạ… 2. Chất thải hóa học nguy hại Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như đường, axit béo, axit amin, một số loại muối… và hóa chất nguy hại như n 6 Formaldehit, hóa chất quang học, các dung môi, hóa chất dùng để tiệt khuẩn y tế và dung dịch làm sạch, khử khuẩn, các hóa chất dùng trong tẩy uế, thanh trùng… Chất thải hóa học nguy hại gồm: - Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng - Formaldehit: Đây là hóa chất thường được sử dụng trong bệnh viện, nó được sử dụng để làm vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ, bảo quản bệnh phẩm hoặc khử khuẩn các chất thải lỏng nhiễm khuẩn.
Nó được sử dụng trong các khoa giải phẫu bệnh, lọc máu, ướp xác… - Các chất quang hóa: Các dung dịch dùng để cố định phim trong khoa X - Quang. - Các dung môi: Các dung môi gồm các hợp chất của halogen như metyl clorit, chloroform, các thuốc mê bốc hơi như halothane; các hợp chất không chứa halogen như xylene, axeton, etyl axetat… - Các chất hoá học hỗn hợp: Bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh… - Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu. - Chất thải chứa kim loại nặng: Thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ), Cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị). Bình chứa áp xuất Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình gas, bình khí dung.
Các bình này dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu hủy đúng cách. Nguồn gốc phát sinh và khối lượng chất thải rắn y tế.