Đánh giá hiện trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã thủy xuân tiên huyện chương mỹ thành phố hà nội

Đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt hộ gia đình tại xã Thủy Xuân Tiên, Chương Mỹ, Hà Nội. Phân tích và đề xuất giải pháp cải thiện.

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

67
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số vấn đề chung về chất thải rắn sinh hoạt

1.1.1. Một số khái niệm chung

1.1.2. Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt

1.1.3. Phân loại CTR sinh hoạt

1.2. Hiện trạng quản lý chất thải rắn trên thế giới và Việt Nam

1.2.1. Hiện trạng quản lý chất thải rắn trên thế giới

1.2.2. Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam

1.3. Một số nghiên cứu khoa học về đã được hoàn thành về những vấn đề môi trường tại xã Thủy Xuân Tiên

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu Nghiên Cứu

2.1.1. Mục tiêu chung

2.1.2. Mục tiêu cụ thể

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu

2.4.2. Phương pháp khảo sát thực địa

2.4.3. Phương pháp điều tra phỏng vấn

2.4.4. Phương pháp xác định khối lượng

2.4.5. Phương pháp thống kê, xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Địa hình, địa mạo

3.1.2. Điều kiện khí tượng

3.1.3. Đặc điểm thủy văn

3.1.4. Vị trí địa lý

3.2. Điều kiện kinh tế

3.3. Y tế, vệ sinh môi trường, cơ sở hạ tầng

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Hiện trạng rác chất thải rắn sinh hoạt

4.1.1. Tốc độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt

4.1.2. Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu

4.1.3. Nhận xét chung về hiện trạng chất thải rắn sinh hoạt tại xã Thủy Xuân Tiên, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội

4.2. Hiện trạng công tác quản lý CTRSH tại xã Thủy Xuân Tiên

4.2.1. Cơ cấu tổ chức quản lý về mặt hành chính

4.2.2. Hiện trạng thu gom, xử lý trên địa bàn xã

4.2.3. Đánh giá của các hộ gia đình về hiệu quả của hoạt động thu gom

4.2.4. Ý kiến đánh giá của các hộ gia đình chưa được thu gom chất thải rắn sinh hoạt

4.2.5. Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn xã Thủy Xuân Tiên

4.3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Thủy Xuân Tiên- Chương Mỹ- Hà Nội

4.3.1. Về chính sách và cơ chế quản lý

4.3.2. Công tác giáo dục và tuyên truyền

4.3.3. Giải pháp trong công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý chất thải rắn sinh hoạt xã Thủy Xuân Tiên

Xã Thủy Xuân Tiên, một xã nông nghiệp thuộc huyện Chương Mỹ, đang đối mặt với những thách thức lớn về môi trường do sự gia tăng nhanh chóng của chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH). Sự phát triển kinh tế và cải thiện đời sống người dân kéo theo lượng rác thải ngày càng tăng, trong khi công tác quản lý rác thải sinh hoạt vẫn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn (2018) chỉ ra rằng, tổng khối lượng rác thải phát sinh trên địa bàn xã lên tới 13.507,9 kg mỗi ngày, tương đương hệ số phát sinh bình quân là 0,73 kg/người/ngày. Con số này cho thấy áp lực đáng kể lên hệ thống hạ tầng môi trường vốn chưa hoàn thiện. Nguồn phát sinh rác thải rất đa dạng, bao gồm hộ gia đình (chiếm 64,3%), các cửa hàng dịch vụ (21,5%), chợ (7,3%), và cơ quan, trường học (6,9%). Sự đa dạng này đòi hỏi một quy trình xử lý rác thải linh hoạt và hiệu quả. Việc đánh giá toàn diện hiện trạng môi trường xã Thủy Xuân Tiên là bước đi cấp thiết để xác định các vấn đề cốt lõi, từ đó xây dựng các giải pháp quản lý rác thải bền vững, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương.

1.1. Bối cảnh chung về hiện trạng môi trường xã Thủy Xuân Tiên

Xã Thủy Xuân Tiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với địa hình bán sơn địa phức tạp. Sự phát triển kinh tế trong những năm gần đây đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn nhưng cũng kéo theo nhiều vấn đề môi trường. Lượng rác thải gia tăng không được kiểm soát đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm rác thải sinh hoạt cục bộ tại nhiều khu vực. Các bãi rác tự phát hình thành ven đường, gần sông hồ, gây mất mỹ quan và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, không khí. Công tác vệ sinh môi trường tại các khu vực công cộng còn hạn chế. Mặc dù xã đã có cán bộ phụ trách mảng môi trường, nhưng việc kiêm nhiệm và thiếu chuyên môn sâu đã ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chung. Thực trạng này đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt hơn từ UBND xã Thủy Xuân Tiên và các cơ quan chức năng.

1.2. Nguồn gốc và thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn

Theo kết quả khảo sát, thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại Thủy Xuân Tiên có sự khác biệt rõ rệt giữa các khu vực, phản ánh đặc điểm kinh tế-xã hội của từng vùng. Thành phần rác thải hữu cơ chiếm tỷ lệ cao nhất, trung bình khoảng 76,2%, chủ yếu là thức ăn thừa, rau củ quả. Tại khu vực 1 (dân cư chủ yếu làm nông nghiệp), tỷ lệ rác hữu cơ lên tới 77,8%. Ngược lại, tại khu vực 3 (dân cư kinh doanh, buôn bán), tỷ lệ chất thải có khả năng tái chế như nhựa, giấy, kim loại cao hơn. Sự khác biệt này cho thấy tiềm năng lớn cho việc áp dụng các mô hình xử lý rác thải nông thôn như ủ phân compost từ rác hữu cơ. Việc nắm rõ thành phần rác thải là cơ sở quan trọng để triển khai hiệu quả hoạt động phân loại rác tại nguồn và lựa chọn công nghệ xử lý phù hợp.

II. Những thách thức trong quản lý rác thải sinh hoạt hiện nay

Hoạt động quản lý rác thải sinh hoạt tại xã Thủy Xuân Tiên đang đối mặt với nhiều thách thức và bất cập trong quản lý rác thải. Vấn đề lớn nhất là tỷ lệ thu gom còn rất thấp. Dữ liệu cho thấy chỉ có 1.329 trên tổng số 4.343 hộ dân được tiếp cận dịch vụ thu gom, chủ yếu tập trung tại các thôn có hoạt động thương mại phát triển. Phần lớn các hộ dân ở khu vực nông nghiệp vẫn tự xử lý rác bằng các phương pháp thủ công như đốt hoặc vứt ra môi trường. Điều này không chỉ gây ô nhiễm rác thải sinh hoạt mà còn tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Cơ sở hạ tầng phục vụ thu gom rác thải tại Chương Mỹ nói chung và tại xã nói riêng còn thiếu thốn, trang thiết bị thô sơ, chủ yếu là xe đẩy tay. Bên cạnh đó, ý thức người dân về rác thải chưa cao cũng là một rào cản lớn. Một bộ phận người dân chưa sẵn sàng chi trả chi phí thu gom rác thải và còn giữ thói quen xả rác bừa bãi. Những thách thức này đòi hỏi một chiến lược tổng thể, kết hợp giữa đầu tư hạ tầng, hoàn thiện chính sách và nâng cao nhận thức cộng đồng.

2.1. Thực trạng thu gom rác và các bãi chôn lấp chất thải tự phát

Thực trạng thu gom rác tại Thủy Xuân Tiên cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các khu vực. Trong khi các thôn Xuân Sen, Xuân Trung, Xuân Long và Xuân Thủy được thu gom bởi đội vệ sinh và Công ty Môi trường Đô thị Xuân Mai, các thôn còn lại gần như bị bỏ ngỏ. Hệ quả là sự hình thành của nhiều bãi chôn lấp chất thải tự phát, điển hình như bãi rác ở ngã ba dốc J hay khu vực cầu Trí Thủy. Những bãi rác này không chỉ gây ô nhiễm mùi, thu hút ruồi muỗi, mà còn là nguồn phát sinh mầm bệnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đất và nước ngầm. Toàn bộ rác thải được thu gom trên địa bàn xã hiện được vận chuyển đến bãi chôn lấp Xuân Sơn (Sơn Tây), cho thấy xã hoàn toàn phụ thuộc vào hạ tầng xử lý của khu vực khác và chưa có giải pháp tại chỗ.

2.2. Bất cập trong quản lý rác thải từ hạ tầng đến chính sách

Hệ thống quản lý còn nhiều bất cập. Về mặt tổ chức, xã có cán bộ địa chính kiêm nhiệm công tác môi trường, thiếu cán bộ chuyên trách được đào tạo bài bản. Chính sách quản lý chất thải chưa được cụ thể hóa thành các quy định rõ ràng về phân loại, xử lý rác tại địa phương. Về hạ tầng, nhân lực và trang thiết bị cho các tổ thu gom còn rất hạn chế. Mức lương cho công nhân thu gom thấp, không đủ sức hấp dẫn và đảm bảo chất lượng công việc. Hơn nữa, chi phí thu gom rác thải tuy đã được quy định nhưng việc áp dụng và thu phí còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở những hộ chưa tham gia dịch vụ. Những bất cập trong quản lý rác thải này tạo thành một vòng luẩn quẩn, khiến hiệu quả công tác bảo vệ môi trường không đạt như kỳ vọng.

2.3. Tác động của rác thải đến sức khỏe và chất lượng môi trường

Việc quản lý rác thải không hiệu quả gây ra những tác động của rác thải đến sức khỏe và môi trường sống của người dân. Các bãi rác tự phát là môi trường lý tưởng cho các vi sinh vật gây bệnh phát triển, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp, tiêu hóa và da liễu. Hoạt động đốt rác tự phát tạo ra khói bụi và các khí độc hại như dioxin, furan. Nước rỉ rác từ các bãi rác không được xử lý ngấm xuống đất, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt. Tình trạng xả rác xuống sông Bùi, sông Tích không chỉ làm ô nhiễm nguồn nước mặt mà còn gây tắc nghẽn dòng chảy, gia tăng nguy cơ ngập úng vào mùa mưa. Đây là những hậu quả nhãn tiền, đòi hỏi phải có hành động ngay lập tức.

III. Phân tích hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn ở xã

Hoạt động thu gom và xử lý chất thải rắn tại xã Thủy Xuân Tiên được thực hiện chủ yếu bởi các tổ thu gom của thôn và Công ty Môi trường Đô thị Xuân Mai. Quy trình chung bao gồm việc các hộ gia đình tập kết rác tại điểm quy định, sau đó công nhân dùng xe đẩy tay thu gom về điểm hẹn. Từ đây, xe ép chuyên dụng của công ty sẽ vận chuyển rác đến bãi chôn lấp chất thải Xuân Sơn. Tuy nhiên, mô hình này chỉ đang vận hành hiệu quả ở một vài thôn trung tâm. Tần suất thu gom cũng khác nhau, từ 1 lần/ngày ở khu vực chợ và các thôn trung tâm, đến 2 ngày/lần ở các khu vực khác. Về cơ sở vật chất, toàn xã có 6 tổ thu gom với 14 người và một số xe đẩy rác, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Nghiên cứu cho thấy, mặc dù 53% hộ được thu gom đánh giá thời gian thu gom là hợp lý và 89% cho rằng mức phí phù hợp, nhưng tỷ lệ hộ dân chưa tham gia dịch vụ vẫn chiếm đa số (3.014/4.343 hộ). Đây là một con số đáng báo động về hiệu quả của công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại địa phương.

3.1. Quy trình xử lý rác thải của Công ty Môi trường Đô thị

Quy trình xử lý rác thải hiện tại khá đơn giản. Rác từ các nguồn phát sinh như hộ gia đình, chợ, trường học được thu gom thủ công bằng xe đẩy tay. Sau đó, rác được tập kết tại các điểm hẹn cố định. Xe ép rác chuyên dụng của công ty sẽ đến thu gom theo lịch và vận chuyển thẳng đến bãi chôn lấp hợp vệ sinh Xuân Sơn. Quy trình này không bao gồm các công đoạn xử lý trung gian như phân loại hay tái chế tại địa phương. Điều này có nghĩa là một lượng lớn rác thải có khả năng tái chế hoặc làm phân compost vẫn bị đem đi chôn lấp, gây lãng phí tài nguyên và làm tăng gánh nặng cho bãi chôn lấp.

3.2. Đánh giá cơ sở vật chất và chi phí thu gom rác thải hiện tại

Cơ sở vật chất cho công tác thu gom còn rất sơ sài. Các tổ thu gom chủ yếu được trang bị xe đẩy tay và các dụng cụ bảo hộ lao động cơ bản. Nguồn nhân lực mỏng và mức lương thấp (khoảng 1-2 triệu đồng/người/tháng) không khuyến khích người lao động gắn bó lâu dài. Về chi phí thu gom rác thải, mức phí áp dụng dao động từ 15.000 đồng/tháng/hộ gia đình và cao hơn đối với các hộ kinh doanh. Dù đa số hộ tham gia cho rằng mức phí này hợp lý, nhưng đây lại là rào cản với các hộ chưa tham gia. Theo khảo sát, 59,3% số hộ chưa tham gia không đồng ý nộp phí với nhiều lý do như cho rằng đây là trách nhiệm của chính quyền, phí cao, hoặc có thể tự thải ra môi trường.

IV. Đánh giá ý thức cộng đồng về việc phân loại rác tại nguồn

Nhận thức cộng đồng đóng vai trò then chốt trong hiệu quả quản lý rác thải sinh hoạt. Tuy nhiên, tại Thủy Xuân Tiên, ý thức người dân về rác thải và các hoạt động bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế. Kết quả khảo sát cho thấy, kênh tiếp cận thông tin về môi trường chủ yếu là qua truyền thông đại chúng (55%), trong khi các kênh thông tin trực tiếp từ địa phương như loa phát thanh thôn, xã chỉ chiếm 12%. Đáng chú ý, có tới 34% người dân cho biết không được tiếp cận thông tin. Sự chủ động tham gia các hoạt động môi trường của người dân rất thấp. 79% người được hỏi không bao giờ chủ động tìm hiểu kiến thức môi trường. Về hoạt động phân loại rác tại nguồn, dù nhiều hộ có thực hiện nhưng mục đích chính là để tận dụng, bán phế liệu (tiêu chí “bán được - không bán được”) chứ chưa xuất phát từ ý thức bảo vệ môi trường hay giảm thiểu rác thải. Thực trạng này cho thấy công tác tuyên truyền, giáo dục cần được đẩy mạnh hơn nữa để thay đổi hành vi và nhận thức của cộng đồng, tạo nền tảng cho các giải pháp quản lý rác thải bền vững.

4.1. Mức độ tiếp cận thông tin và nhận thức của người dân về rác

Mức độ tiếp cận thông tin chính thống về môi trường của người dân còn yếu. Các chương trình từ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chương Mỹ hay UBND xã Thủy Xuân Tiên chưa đến được với số đông. Thông tin chủ yếu mang tính đại chúng, thiếu tính đặc thù và hướng dẫn cụ thể cho địa phương. Sự thiếu hụt thông tin dẫn đến nhận thức hạn chế. Nhiều người dân vẫn coi việc xử lý rác là trách nhiệm của nhà nước và chưa thấy được vai trò, trách nhiệm của cá nhân mình. Điều này thể hiện qua tỷ lệ tham gia các hoạt động vệ sinh môi trường chung còn thấp và thái độ thờ ơ với việc xả rác không đúng nơi quy định.

4.2. Thực trạng phân loại rác tại nguồn và mục tiêu chính

Hoạt động phân loại rác tại nguồn diễn ra một cách tự phát và chưa đồng bộ. Hầu hết các hộ gia đình phân loại rác thành hai nhóm: có thể bán được (giấy, nhựa, kim loại) và không bán được. Một số hộ chăn nuôi thì phân loại thêm nhóm rác hữu cơ để làm thức ăn cho gia súc. Việc phân loại theo tiêu chí “dễ phân hủy - khó phân hủy” hay “vô cơ - hữu cơ” vì mục đích môi trường còn rất hiếm. Điều này cho thấy người dân chưa hiểu hết lợi ích của việc phân loại rác đúng cách trong việc giảm lượng rác phải chôn lấp và tận dụng tài nguyên. Để việc phân loại rác tại nguồn thực sự hiệu quả, cần có sự hướng dẫn đồng bộ và cơ chế thu gom riêng cho từng loại rác đã được phân loại.

V. Top 3 giải pháp quản lý rác thải hiệu quả cho Thủy Xuân Tiên

Để cải thiện công tác quản lý rác thải sinh hoạt, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Dựa trên phân tích thực trạng, có ba nhóm giải pháp quản lý rác thải chính được đề xuất. Thứ nhất, về chính sách và cơ chế quản lý, cần xây dựng các quy định cụ thể cấp xã về quản lý CTRSH, phân công rõ trách nhiệm cho từng đơn vị, cá nhân và có cơ chế giám sát, xử phạt nghiêm minh. UBND xã Thủy Xuân Tiên cần bố trí cán bộ chuyên trách về môi trường. Thứ hai, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao ý thức người dân về rác thải. Các chương trình cần được thiết kế phù hợp với từng đối tượng, tập trung vào lợi ích của việc phân loại rác tại nguồn và tác hại của ô nhiễm. Thứ ba, về kỹ thuật, cần cải thiện phương thức thu gom, mở rộng mạng lưới đến 100% hộ dân và nghiên cứu áp dụng các mô hình xử lý rác thải nông thôn phù hợp như ủ phân compost quy mô hộ gia đình hoặc cụm dân cư. Việc kết hợp hài hòa ba nhóm giải pháp này sẽ tạo ra sự chuyển biến tích cực và bền vững.

5.1. Cải thiện chính sách quản lý chất thải và cơ chế giám sát

Cần hoàn thiện khung chính sách quản lý chất thải ở cấp cơ sở. Xã nên ban hành quy chế riêng về bảo vệ môi trường, trong đó quy định rõ ràng về nghĩa vụ phân loại, đổ rác đúng giờ, đúng nơi quy định và mức phí vệ sinh. Cần có cơ chế khuyến khích các hộ gia đình thực hiện tốt việc phân loại và giảm thiểu rác thải. Đồng thời, tăng cường vai trò giám sát của cộng đồng, của các tổ trưởng dân phố và các đoàn thể trong việc phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chương Mỹ cần hỗ trợ xã trong việc xây dựng chính sách và tập huấn chuyên môn cho cán bộ.

5.2. Xây dựng mô hình xử lý rác thải nông thôn phù hợp thực tế

Với tỷ lệ rác hữu cơ cao, việc áp dụng mô hình xử lý rác thải nông thôn như ủ phân compost là rất tiềm năng. Có thể triển khai mô hình ủ phân tại hộ gia đình hoặc theo cụm dân cư. Phân compost tạo ra có thể phục vụ lại cho sản xuất nông nghiệp, giúp giảm chi phí phân bón hóa học và cải tạo đất. Đối với rác tái chế, cần hình thành các điểm thu gom, liên kết với các đơn vị tái chế để tạo đầu ra ổn định, tăng thêm thu nhập cho người dân. Các mô hình này không chỉ giúp giảm lượng rác phải vận chuyển đi chôn lấp mà còn tạo ra một chu trình kinh tế tuần hoàn tại địa phương.

5.3. Đẩy mạnh công tác giáo dục và tuyên truyền trong cộng đồng

Công tác tuyên truyền cần được thực hiện thường xuyên và đa dạng hóa hình thức. Sử dụng hệ thống loa phát thanh của xã, tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề tại các thôn, lồng ghép nội dung giáo dục môi trường vào chương trình học của các trường trên địa bàn. Nội dung tuyên truyền cần đơn giản, dễ hiểu, tập trung vào các hành động cụ thể như cách phân loại rác tại nguồn, lợi ích của việc giữ gìn vệ sinh chung, và tác động của rác thải đến sức khỏe. Việc xây dựng các mô hình điểm, khen thưởng các cá nhân, gia đình làm tốt cũng là cách hiệu quả để lan tỏa ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Chất thải rắn (CTR) và quản lý hiệu quả chất thải rắn là hai trong những vấn đề về môi trƣờng đang đƣợc quan tâm hàng đầu trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Hàng năm hàng triệu tấn chất thải không đƣợc xử lý hiệu quả mà thải trực tiếp ra môi trƣờng gây ô nhiễm nghiêm trọng. Trong khi CTR công nghiệp đƣợc đặc trƣng với một số thành phần nhất định, chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) gồm rất nhiều thành phần khác nhau nên việc xử lý khó khăn và phức tạp hơn. Ở Việt Nam, với nền kinh tế đang trên đà tăng trƣởng nhanh và có nhiều bƣớc phát triển vƣợt bậc, đời sống của nhân dân đang ngày càng đƣợc nâng cao.

Tuy nhiên, đi đôi với sự nâng cao về đời sống là sự gia tăng lƣợng chất thải rắn sinh hoạt đƣợc thải ra hàng năm. Trong số các nguồn phát sinh CTR, khu vực nông thôn tạo ra một lƣợng chất thải rắn sinh hoạt với khối lƣợng lớn do dân số khu vực nông thôn chiếm khoảng 66,9% dân số cả nƣớc (Tổng cục thống kê, 2014). Nếu nhƣ ở các thành phố hay các khu đô thị lớn nhƣ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Đà Nẵng. CTRSH đƣợc thu gom vận chuyển và xử lý theo những quy trình đảm bảo kỹ thuật của các tổ chức vệ sinh môi trƣờng, tạo cảnh quan đô thị xanh - sạch - đẹp, thì ở nông thôn chỉ có một số ít mô hình thu gom vận chuyển và xử lý CTRSH có hiệu quả và đảm bảo kỹ thuật, còn lại phần lớn thì vẫn chƣa có một giải pháp cụ thể về công tác thu gom, xử lý các nguồn CTRSH một cách hiệu quả và đảm bảo quy trình kỹ thuật.

Bên cạnh đó, các địa phƣơng vẫn chƣa dành nguồn vốn ngân sách đúng mức cho việc thu gom, xử lý CTRSH; chƣa phân công nhiệm vụ giữa các cấp trong quản lý môi trƣờng và chƣa làm hết trách nhiệm của mình. Do đó việc thu gom, xử lý CTRSH của các tổ chức vệ sinh môi trƣờng còn gặp rất nhiều khó khăn. Xã Thủy Xuân Tiên là một xã nông nghiệp cách trung tâm thành Phố Hà Nội 33km, cùng với sự đi lên của đất nƣớc bộ mặt nông thôn của xã ngày càng thay đổi, đời sống nhân đân ngày càng đƣợc nâng cao dẫn đến lƣợng chất thải rắn sinh hoạt cũng tăng lên nhiều mà trong khi đó công tác quản lý CTRSH trên địa bàn vẫn chƣa có một phƣơng án cụ thể để thực hiện đƣợc một cách hiệu quả. Từ thực tiễn đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá hiện trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Thủy Xuân Tiên,huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội ” 1 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.

Một số vấn đề chung về chất thải rắn sinh hoạt 1. Một số khái niệm chung  Chất thải rắn Theo Khoản 1, Điều 3 nghị định 38/2015/NĐ-CP: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”.  Chất thải rắn sinh hoạt Theo Khoản 3, Điều 3 nghị định 38/2015/NĐ-CP, chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thƣờng ngày của con ngƣời. CTR sinh hoạt thành phần bao gồm: Kim loại, sành sứ, thực phẩm dƣ thừa hay quá hạn sử dụng, túi ni lông, gạch ngói vỡ, vải, giấy…  Hoạt động quản lý chất thải rắn Theo Khoản 1, Điều 3 nghị định 59/2007/NĐ-CP, hoạt động quản lý CTRSH bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tƣ xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lƣu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trƣờng và sức khoẻ con ngƣời.

Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt Khác với CTR công nghiệp, CTR sinh hoạt là một tập hợp không đồng nhất. Tính không đồng nhất biểu hiện ở sự không kiểm soát đƣợc của các nguyên liệu ban đầu dùng cho sinh hoạt và thƣơng mại. Sự không đồng nhất này tạo ra một số đặc tính khác biệt trong thành phần của CTR sinh hoạt. Ở các nƣớc phát triển, do mức sống của ngƣời dân cao nên tỷ lệ thành phần hữu cơ trong CTR sinh hoạt thƣờng chỉ chiếm 35 - 40%, còn ở Việt Nam tỷ lệ hữu cơ cao hơn rất nhiều từ 55 - 65%.

Trong thành phần CTR sinh hoạt còn có các cấu tử phi hữu cơ (kim loại, thủy tinh, CTR xây dựng…) chiếm khoảng 12- 15% (Nguyễn Xuân Thành, 2011).1: Thành phần CTR từ hộ gia đình của một số thành phố Đơn vị: % Thành phần TP. Hồ STT Hà Nội Hải Phòng Huế CTR Chí Minh 1 CTR hữu cơ 53,81 55,18 77,1 64,5 2 Giấy 6,53 4,54 1,92 8,17 3 Vải 5,82 4,57 2,89 3,88 4 Gỗ 2,51 4,93 0,59 4,59 5 Nhựa 13,57 14,34 12,47 12,42 6 Da và cao su 0,15 1,05 0,28 0,44 7 Kim loại 0,87 0,47 0,40 0,36 8 Thủy tinh 1,87 1,69 0,39 0,4 9 Sành sứ 0,39 1,27 0,739 0,24 10 Đất, cát 6,29 3,08 1,70 1,39 11 Xỉ than 3,10 5,70 – 0,44 12 Nguy hại 0,17 0,05 – – 13 Bùn 4,34 2,29 1,56 2,92 14 Các loại khác 0,58 1,46 – 0,14 (Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011 – Chất thải rắn) 1. Phân loại CTR sinh hoạt CTR sinh hoạt đƣợc phân loại theo những cách sau: a. Theo nguồn phát sinh - Chất thải hộ gia đình: Phát sinh từ hoạt động sinh hoạt của các hộ gia đình.

- Chất thải nhà hàng, dịch vụ: Phát sinh từ hoạt độngkinh doanh buôn bán. - Chất thải các cơ quan hành chính trƣờng học: Phát sinh trong các cơ quan hành trính và trƣờng học - Chất thải chợ: Là các phế thải thải phát sinh từ hoạt buôn bán trong chợ dân sinh. - Chất thải phát sinh ở khu công cộng nhƣ đƣờng phố, công viên. Theo mức độ nguy hại Chất thải rắn nguy hại: Là chất thải chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính sau: phóng xạ, dễ cháy,dễ nổ,dễ ãn mòn, dễ lây nhiễm, gây 3 ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác.

Ví dụ: các acqui, pin hỏng, đèn huỳnh quang thải,chất thải có thành phần sơn - vecni - chất kết dính- chất bịt kín - mực in, thuốc diệt trừ các loài gây hại. Chất thải rắn không nguy hại: là những loại chất thải không có chứa các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại tới môi truờng và sức khỏe con nguời. Phân loại theo thành phần Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ nhƣ tro, bụi, xỉ, vật liệu xây dựng nhƣ gạch, vữa, thủy tinh, gốm sứ, đồ dùng thải bỏ gia đình. Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc hữu cơ nhƣ thực phẩm thừa, chất thải từ lò giết mổ, chăn nuôi cho đến các dung môi, nhựa, dầu mỡ và các loại thuốc bảo vệ thực vật.

Phân loại theo khả năng phân hủy Chất thải dễ phân hủy sinh học: Gồm các loại chất thải hữu cơ dễ phân hủy nhƣ thức ăn thừa các loại giấy bìa catton,. Chất thải khó phân hủy sinh học: Gồm các loại chất thải hữu cơ khó phân hủy nhƣ nhựa, nilon, ca su, kim loại, thủy tinh, gốm sứ,. Phân loại theo khả năng tái chế - CTR tái chế mang lại lợi ích cao: Là các loại chất thải có thể tái chế sử dụng lại với chi phí thấp, sản phẩm tái chế có giá trị cao nhƣ nhựa, kim loại, giấy, bìa catton,. - CTR có thể tái chế mang lại lợi ích thấp: Là nhƣng loại chất thải vẫn có thể tái nhƣng chi phí cho tái chế lớn hơn lợi ích cuả việc tái chế nhƣ thủy tinh, xà bần,.

- CTR không thể tái chế là những loại rác không có biện pháp tái chế đƣợc nhƣ thức ăn thừa, vỏ hoa quả, cọng rau. Hiện trạng quản lý chất thải rắn trên thế giới và Việt Nam 1. Hiện trạng quản lý chất thải rắn trên thế giới a. Hiện trạng chất thải rắn trên thế giới 4 Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, tại Châu Á khu vực đô thị mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn.

Đến năm 2025, con số này dự kiến sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày. Đô thị hóa và phát triển kinh tế thƣờng đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ phát sinh CTR tăng lên tính theo đầu ngƣời. Nói chung mức sống càng cao thì lƣợng chất thải phát sinh càng nhiều. Báo cáo cũng cho thấy tại các thành phố lớn nhƣ New York tỷ lệ phát sinh CTR là 1,8 kg/ngƣời/ngày, Singapore, Hongkong là 0,8 – 1,0 kg/ngƣời/ngày, Jakarta, Manila, Calcuta, Karhi là 0,5 – 0,6 kg/ngƣời/ngày.2: Lƣợng chất thải rắn phát sinh tại một số nƣớc Dân số đô thị Lƣợng CTR phát GDP/ngƣời STT Tên nƣớc hiện nay sinh hiện nay ( USD) (% tổng số) (kg/ngƣời/ngày) Nƣớc thu nhập thấp 490 27,8 0,64 1 Nepal 200 13,7 0,5 2 Bangladesh 240 18,3 0,49 3 Việt Nam 240 20,8 0,55 4 Ấn Độ 340 26,8 0,46 Nƣớc có thu nhập 1410 37,6 0,33 trung bình 5 Indonesia 980 35,4 0,736 6 Philippines 1050 54,2 0,52 7 Thái Lan 2740 20 1,1 8 Malaysia 3890 53,7 0,81 Nƣớc có thu nhập cao 30990 79,5 1,64 9 Hàn Quốc 9700 81,3 1,59 10 Hồng Kông 22990 95,0 5,07 11 Singapore 26730 100 1,1 12 Nhật Bản 39640 77,6 1,47 (Nguồn: Tạp chí Khoa học, 2011) b.

Hiện trạng quản lý chất thải rắn trên thế giới Tình hình phát sinh và khả năng xử lý CTR ở các nƣớc khác nhau cũng rất khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống quản lý của mỗi 5 nƣớc. Ở các nƣớc phát triển, mặc dù lƣợng phát thải là rất lớn nhƣng hệ thống quản lý môi trƣờng của họ rất tốt, còn ở các nƣớc kém phát triển dù lƣợng phát thải nhỏ hơn rất nhiều nhƣng do hệ thống quản lý môi trƣờng kém phát triển nên môi trƣờng ở nhiều nƣớc có xu hƣớng suy thoái nghiêm trọng. Đối với các nƣớc Châu Á, chôn lấp CTR vẫn là phƣơng pháp phổ biến để tiêu hủy vì chi phí rẻ. Trung Quốc và Ấn Độ có tỷ lệ chôn lấp là 90%.

Tỷ lệ thiêu đốt chất thải của Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc) vào loại cao nhất, khoảng 60 – 80%. Hàn Quốc chiếm tỷ lệ tái chế chất thải cao nhất khoảng, chiếm trên 40%. Đối với chất thải hữu cơ, ủ phân compost là phƣơng pháp tiêu hủy chủ yếu. Ấn Độ và Philippines ủ phân compost tới 10% lƣợng chất thải phát sinh.

Tại hầu hết các nƣớc, tái chế chất thải đang ngày đƣợc coi trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ