ĐẶT VẤN ĐỀ Chất thải rắn (CTR) và quản lý hiệu quả chất thải rắn là hai trong những vấn đề về môi trƣờng đang đƣợc quan tâm hàng đầu trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Hàng năm hàng triệu tấn chất thải không đƣợc xử lý hiệu quả mà thải trực tiếp ra môi trƣờng gây ô nhiễm nghiêm trọng. Trong khi CTR công nghiệp đƣợc đặc trƣng với một số thành phần nhất định, chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) gồm rất nhiều thành phần khác nhau nên việc xử lý khó khăn và phức tạp hơn. Ở Việt Nam, với nền kinh tế đang trên đà tăng trƣởng nhanh và có nhiều bƣớc phát triển vƣợt bậc, đời sống của nhân dân đang ngày càng đƣợc nâng cao.
Tuy nhiên, đi đôi với sự nâng cao về đời sống là sự gia tăng lƣợng chất thải rắn sinh hoạt đƣợc thải ra hàng năm. Trong số các nguồn phát sinh CTR, khu vực nông thôn tạo ra một lƣợng chất thải rắn sinh hoạt với khối lƣợng lớn do dân số khu vực nông thôn chiếm khoảng 66,9% dân số cả nƣớc (Tổng cục thống kê, 2014). Nếu nhƣ ở các thành phố hay các khu đô thị lớn nhƣ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Đà Nẵng. CTRSH đƣợc thu gom vận chuyển và xử lý theo những quy trình đảm bảo kỹ thuật của các tổ chức vệ sinh môi trƣờng, tạo cảnh quan đô thị xanh - sạch - đẹp, thì ở nông thôn chỉ có một số ít mô hình thu gom vận chuyển và xử lý CTRSH có hiệu quả và đảm bảo kỹ thuật, còn lại phần lớn thì vẫn chƣa có một giải pháp cụ thể về công tác thu gom, xử lý các nguồn CTRSH một cách hiệu quả và đảm bảo quy trình kỹ thuật.
Bên cạnh đó, các địa phƣơng vẫn chƣa dành nguồn vốn ngân sách đúng mức cho việc thu gom, xử lý CTRSH; chƣa phân công nhiệm vụ giữa các cấp trong quản lý môi trƣờng và chƣa làm hết trách nhiệm của mình. Do đó việc thu gom, xử lý CTRSH của các tổ chức vệ sinh môi trƣờng còn gặp rất nhiều khó khăn. Xã Thủy Xuân Tiên là một xã nông nghiệp cách trung tâm thành Phố Hà Nội 33km, cùng với sự đi lên của đất nƣớc bộ mặt nông thôn của xã ngày càng thay đổi, đời sống nhân đân ngày càng đƣợc nâng cao dẫn đến lƣợng chất thải rắn sinh hoạt cũng tăng lên nhiều mà trong khi đó công tác quản lý CTRSH trên địa bàn vẫn chƣa có một phƣơng án cụ thể để thực hiện đƣợc một cách hiệu quả. Từ thực tiễn đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá hiện trạng hoạt động quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại xã Thủy Xuân Tiên,huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội ” 1 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Một số vấn đề chung về chất thải rắn sinh hoạt 1. Một số khái niệm chung Chất thải rắn Theo Khoản 1, Điều 3 nghị định 38/2015/NĐ-CP: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) đƣợc thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Chất thải rắn sinh hoạt Theo Khoản 3, Điều 3 nghị định 38/2015/NĐ-CP, chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thƣờng ngày của con ngƣời. CTR sinh hoạt thành phần bao gồm: Kim loại, sành sứ, thực phẩm dƣ thừa hay quá hạn sử dụng, túi ni lông, gạch ngói vỡ, vải, giấy… Hoạt động quản lý chất thải rắn Theo Khoản 1, Điều 3 nghị định 59/2007/NĐ-CP, hoạt động quản lý CTRSH bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tƣ xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lƣu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trƣờng và sức khoẻ con ngƣời.
Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt Khác với CTR công nghiệp, CTR sinh hoạt là một tập hợp không đồng nhất. Tính không đồng nhất biểu hiện ở sự không kiểm soát đƣợc của các nguyên liệu ban đầu dùng cho sinh hoạt và thƣơng mại. Sự không đồng nhất này tạo ra một số đặc tính khác biệt trong thành phần của CTR sinh hoạt. Ở các nƣớc phát triển, do mức sống của ngƣời dân cao nên tỷ lệ thành phần hữu cơ trong CTR sinh hoạt thƣờng chỉ chiếm 35 - 40%, còn ở Việt Nam tỷ lệ hữu cơ cao hơn rất nhiều từ 55 - 65%.
Trong thành phần CTR sinh hoạt còn có các cấu tử phi hữu cơ (kim loại, thủy tinh, CTR xây dựng…) chiếm khoảng 12- 15% (Nguyễn Xuân Thành, 2011).1: Thành phần CTR từ hộ gia đình của một số thành phố Đơn vị: % Thành phần TP. Hồ STT Hà Nội Hải Phòng Huế CTR Chí Minh 1 CTR hữu cơ 53,81 55,18 77,1 64,5 2 Giấy 6,53 4,54 1,92 8,17 3 Vải 5,82 4,57 2,89 3,88 4 Gỗ 2,51 4,93 0,59 4,59 5 Nhựa 13,57 14,34 12,47 12,42 6 Da và cao su 0,15 1,05 0,28 0,44 7 Kim loại 0,87 0,47 0,40 0,36 8 Thủy tinh 1,87 1,69 0,39 0,4 9 Sành sứ 0,39 1,27 0,739 0,24 10 Đất, cát 6,29 3,08 1,70 1,39 11 Xỉ than 3,10 5,70 – 0,44 12 Nguy hại 0,17 0,05 – – 13 Bùn 4,34 2,29 1,56 2,92 14 Các loại khác 0,58 1,46 – 0,14 (Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011 – Chất thải rắn) 1. Phân loại CTR sinh hoạt CTR sinh hoạt đƣợc phân loại theo những cách sau: a. Theo nguồn phát sinh - Chất thải hộ gia đình: Phát sinh từ hoạt động sinh hoạt của các hộ gia đình.
- Chất thải nhà hàng, dịch vụ: Phát sinh từ hoạt độngkinh doanh buôn bán. - Chất thải các cơ quan hành chính trƣờng học: Phát sinh trong các cơ quan hành trính và trƣờng học - Chất thải chợ: Là các phế thải thải phát sinh từ hoạt buôn bán trong chợ dân sinh. - Chất thải phát sinh ở khu công cộng nhƣ đƣờng phố, công viên. Theo mức độ nguy hại Chất thải rắn nguy hại: Là chất thải chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính sau: phóng xạ, dễ cháy,dễ nổ,dễ ãn mòn, dễ lây nhiễm, gây 3 ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác.
Ví dụ: các acqui, pin hỏng, đèn huỳnh quang thải,chất thải có thành phần sơn - vecni - chất kết dính- chất bịt kín - mực in, thuốc diệt trừ các loài gây hại. Chất thải rắn không nguy hại: là những loại chất thải không có chứa các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại tới môi truờng và sức khỏe con nguời. Phân loại theo thành phần Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ nhƣ tro, bụi, xỉ, vật liệu xây dựng nhƣ gạch, vữa, thủy tinh, gốm sứ, đồ dùng thải bỏ gia đình. Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc hữu cơ nhƣ thực phẩm thừa, chất thải từ lò giết mổ, chăn nuôi cho đến các dung môi, nhựa, dầu mỡ và các loại thuốc bảo vệ thực vật.
Phân loại theo khả năng phân hủy Chất thải dễ phân hủy sinh học: Gồm các loại chất thải hữu cơ dễ phân hủy nhƣ thức ăn thừa các loại giấy bìa catton,. Chất thải khó phân hủy sinh học: Gồm các loại chất thải hữu cơ khó phân hủy nhƣ nhựa, nilon, ca su, kim loại, thủy tinh, gốm sứ,. Phân loại theo khả năng tái chế - CTR tái chế mang lại lợi ích cao: Là các loại chất thải có thể tái chế sử dụng lại với chi phí thấp, sản phẩm tái chế có giá trị cao nhƣ nhựa, kim loại, giấy, bìa catton,. - CTR có thể tái chế mang lại lợi ích thấp: Là nhƣng loại chất thải vẫn có thể tái nhƣng chi phí cho tái chế lớn hơn lợi ích cuả việc tái chế nhƣ thủy tinh, xà bần,.
- CTR không thể tái chế là những loại rác không có biện pháp tái chế đƣợc nhƣ thức ăn thừa, vỏ hoa quả, cọng rau. Hiện trạng quản lý chất thải rắn trên thế giới và Việt Nam 1. Hiện trạng quản lý chất thải rắn trên thế giới a. Hiện trạng chất thải rắn trên thế giới 4 Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, tại Châu Á khu vực đô thị mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn.
Đến năm 2025, con số này dự kiến sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày. Đô thị hóa và phát triển kinh tế thƣờng đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ phát sinh CTR tăng lên tính theo đầu ngƣời. Nói chung mức sống càng cao thì lƣợng chất thải phát sinh càng nhiều. Báo cáo cũng cho thấy tại các thành phố lớn nhƣ New York tỷ lệ phát sinh CTR là 1,8 kg/ngƣời/ngày, Singapore, Hongkong là 0,8 – 1,0 kg/ngƣời/ngày, Jakarta, Manila, Calcuta, Karhi là 0,5 – 0,6 kg/ngƣời/ngày.2: Lƣợng chất thải rắn phát sinh tại một số nƣớc Dân số đô thị Lƣợng CTR phát GDP/ngƣời STT Tên nƣớc hiện nay sinh hiện nay ( USD) (% tổng số) (kg/ngƣời/ngày) Nƣớc thu nhập thấp 490 27,8 0,64 1 Nepal 200 13,7 0,5 2 Bangladesh 240 18,3 0,49 3 Việt Nam 240 20,8 0,55 4 Ấn Độ 340 26,8 0,46 Nƣớc có thu nhập 1410 37,6 0,33 trung bình 5 Indonesia 980 35,4 0,736 6 Philippines 1050 54,2 0,52 7 Thái Lan 2740 20 1,1 8 Malaysia 3890 53,7 0,81 Nƣớc có thu nhập cao 30990 79,5 1,64 9 Hàn Quốc 9700 81,3 1,59 10 Hồng Kông 22990 95,0 5,07 11 Singapore 26730 100 1,1 12 Nhật Bản 39640 77,6 1,47 (Nguồn: Tạp chí Khoa học, 2011) b.
Hiện trạng quản lý chất thải rắn trên thế giới Tình hình phát sinh và khả năng xử lý CTR ở các nƣớc khác nhau cũng rất khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống quản lý của mỗi 5 nƣớc. Ở các nƣớc phát triển, mặc dù lƣợng phát thải là rất lớn nhƣng hệ thống quản lý môi trƣờng của họ rất tốt, còn ở các nƣớc kém phát triển dù lƣợng phát thải nhỏ hơn rất nhiều nhƣng do hệ thống quản lý môi trƣờng kém phát triển nên môi trƣờng ở nhiều nƣớc có xu hƣớng suy thoái nghiêm trọng. Đối với các nƣớc Châu Á, chôn lấp CTR vẫn là phƣơng pháp phổ biến để tiêu hủy vì chi phí rẻ. Trung Quốc và Ấn Độ có tỷ lệ chôn lấp là 90%.
Tỷ lệ thiêu đốt chất thải của Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc) vào loại cao nhất, khoảng 60 – 80%. Hàn Quốc chiếm tỷ lệ tái chế chất thải cao nhất khoảng, chiếm trên 40%. Đối với chất thải hữu cơ, ủ phân compost là phƣơng pháp tiêu hủy chủ yếu. Ấn Độ và Philippines ủ phân compost tới 10% lƣợng chất thải phát sinh.
Tại hầu hết các nƣớc, tái chế chất thải đang ngày đƣợc coi trọng.