Chương 1: Tổng quan về đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo. - Chương 2: Đánh giá thực trạng về định mức sử dụng đất đối với công trình giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. - Chương 3: Đề xuất định mức sử dụng đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẤT XÂY DỰNG CƠ SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1.
Khái niệm và phân loại công trình giáo dục và đào tạo 1. Khái niệm đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo a) Khái niệm Đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo là đất sử dụng vào mục đích xây dựng các công trình phục vụ giáo dục và đào tạo bao gồm: nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường phổ thông, trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học, học viện, cơ sở dạy nghề và các cơ sở giáo dục và đào tạo khác; kể cả phần diện tích làm văn phòng, ký túc xá cho học sinh, sinh viên, làm nơi bán đồ dùng học tập, nhà hàng, bãi đỗ xe và các khu chức năng khác thuộc phạm vi cơ sở giáo dục và đào tạo “trừ cơ sở giáo dục và đào tạo do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý” (Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất). b) Mức sử dụng đất Mức sử dụng đất là giá trị diện tích đất bình quân mà một đối tượng sử dụng cho một mục đích cụ thể trong một thời điểm nhất định. Mức sử dụng đất phản ánh tình hình sử dụng đất rộng hay hẹp của một đối tượng sử dụng đất thông qua kết quả điều tra số lượng đối tượng và diện tích đất đối tượng đó sử dụng đúng mục đích hiện tại hay trong quá khứ.
Mức sử dụng đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo là giá trị diện tích đất sử dụng cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo bình quân một học sinh (hoặc một trường hoặc một đơn vị hành chính) đang sử dụng đúng mục đích trong một thời điểm nhất định. c) Định mức sử dụng đất Định mức sử dụng đất là giá trị diện tích đất bình quân cần thiết mà một đối tượng cần phải đạt được để đối tượng phát huy khả năng và sử dụng đất có hiệu quả cho một mục đích cụ thể. Định mức sử dụng đất là một trong những cơ sở để tính 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com toán đầy đủ nhu cầu sử dụng đất cho một mục đích nhất định; là căn cứ để lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; là căn cứ để giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất. Định mức sử dụng đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo là giá trị diện tích đất bình quân cần thiết mà một học sinh (hoặc một trường hoặc một đơn vị hành chính) cần phải đạt được để học sinh (hoặc trường hoặc đơn vị hành chính) phát huy khả năng và sử dụng đất có hiệu quả cho mục đích giáo dục và đào tạo.
Phân loại đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo Kết quả nghiên cứu tư liệu, tài liệu và điều tra thực tế phân loại đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo như sau: Phân loại theo cấp quản lý đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo gồm: - Các công trình thuộc cấp xã quản lý gồm trường mầm non (mẫu giáo và nhà trẻ), trường tiểu học, trường trung học cơ sở. - Các công trình cấp huyện quản lý gồm trường trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên. - Các công trình cấp tỉnh quản lý có trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường dạy nghề. Vai trò, ý nghĩa của đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo Đất đai tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế, xã hội.
Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công trình công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi và các công trình cơ sở giáo dục và đào tạo,. Đất đai cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp, xây dựng như gạch ngói, xi măng, gốm sứ… Tuy nhiên, vai trò của đất đai đối với từng ngành rất khác nhau: Trong các ngành phi nông nghiệp: đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản). Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất. Trong các ngành nông - lâm nghiệp: đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo.) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi.
Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu của quá trình sinh học tự nhiên của đất. Đối với đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo cũng có vai trò, ý nghĩa tương tự như đất đai nói chung, là nền tảng để xây dựng các cơ sở giáo dục và đào tạo nhằm đáp ứng mục tiêu về quốc gia cho phát triển giáo dục và đào tạo trong phát triển kinh tế - xã hội; đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo được sử dụng đúng mục đích, tích kiệm, hiệu quả nhằm tránh lãng phí cho nền kinh tế nói chung và ngành giáo dục nói riêng. Quỹ đất sử dụng vào xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo được phân bố hợp lý theo đă ̣c thù của từng vùng , miền và khu vực sẽ thúc đẩy phát triển sự nghiê ̣p giáo du ̣c đào ta ̣o nói riêng và phát triể n kinh t ế - xã hội nói chung. Đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo có vai trò và ý nghĩa đặt nền móng cho công cuộc giáo dục và đào tạo, trên cơ sở đó , có vai trò thúc đẩ y sự phát tri ển các ngành, lĩnh vực trong nề n kinh tế - xã hội.
Đánh giá thực trạng về sử dụng đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo 1. Giai đoạn trước Luật đất đai năm 2013 Thời kỳ trước khi Luật đất đai 2003 ra đời, đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo không được thống kê thành loại đất riêng mà được thống kê trong loại đất chuyên dùng khác hoă ̣c đ ất xây dựng. Tuy nhiên, theo Tạp chí Thống kê năm 1991, khối trường học quản lý trên 6 triệu m2 phòng học, bình quân mỗi học sinh có 0,43 m2 phòng học, trong đó: - Đại học, cao đẳng 13,10 m2/học sinh. - Trung cấp và dạy nghề 10,80 m2/học sinh.
- Phổ thông trung học 2,47 m2/học sinh. - Phổ thông cơ sở 0,15 m2/học sinh. Như vâ ̣y, năm 1991 diê ̣n tić h phòng h ọc bin ̀ h quân cho mỗi h ọc sinh hệ ph ổ thông cơ sở rấ t thấp, do đó học sinh phổ thông cơ sở phải học 2 đến 3 ca một ngày. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luật đất đai năm 2003 đươ ̣c Quố c hô ̣i thông qua và có hiê ̣u lực từ ngày 01/7/2004, theo đó đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo được thống kê thành từng loại đất riêng.
Theo số liệu kiểm kê , thống kê đất đai giai đoạn 2005 - 2012, hiện trạng và biến động sử dụng đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo của cả nước giai đoa ̣n này được thể hiện như sau: Bảng 1: Hiện trạng và biến động sử dụng đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo giai đoạn 2005 - 2012 của cả nƣớc Đơn vị tính: ha Biến động Tăng, giảm Năm Năm Năm Năm tăng (+), giảm (-) (%) giai STT Các vùng kinh tế 2005 2010 2011 2012 giai đoạn 2005- đoạn 2005- 2012 2012 1 Trung du và miền núi phía Bắc 7.423 -541 -6,80 2 Đồng bằng sông Hồng 7.138 27,32 3 Bắc Trung Bộ 5.465 685 11,85 4 Duyên hải Nam Trung Bộ 3.985 964 31,91 6 Đông Nam Bộ 3.173 30,99 7 Đồng bằng sông Cửu Long 4.423 17,77 Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường: Kiểm kê, Thống kê đất đai cả nước năm 2005, 2010, 2011, 2012. Theo số liệu thống kê đất đai năm 2012, tổng diện tích đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo của cả nước là 42.572 ha, trong đó: vùng đồng bằng sông Hồng có diện tích lớn nhất là 9.964 ha, chiếm 23,41% tổng diện tích của cả nước; vùng Tây Nguyên có diện tích nhỏ nhất là 3.985 ha, chiếm 9,36% tổng diện tích của cả nước. Qua tổng hợp số liệu thống kê, kiểm kê đất đai các năm 2005, 2010, 2011 và 2012 cho thấy, tổng diện tích đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo của cả nước tăng theo quy luật năm sau cao hơn năm trước. Trong giai đoa ̣n 2005 - 2012, diện tích đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo của cả nước tăng 6.423 ha (tăng 17,77% so với năm 2005), bình quân mỗi năm tăng 2,96%; vùng có diện tích tăng nhiều là 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vùng đồng bằng sông Hồng tăng 2.138 ha (tăng 27,32% so với năm 2005), tiếp đến là vùng đồng bằng sông Cửu Long tăng 1.474 ha (tăng 33,27% so với năm 2005), vùng Đông Nam Bộ tăng 1.
Riêng vùng trung du và miền núi phía Bắc giảm 541 ha (giảm 6,80% so với năm 2005); nguyên nhân giảm một phần là do tích nước cho hồ thủy điện Sơn La, hồ thủy điện Huội Quảng, thuỷ điện Lai Châu, thuỷ điện Bản Chát,… làm ngập diện tích đất xây dựng cơ sở giáo dục và đào tạo, trong khi đó tại nơi đất tái định cư do quỹ đất có hạn nên phần lớn các trường xây dựng lại có quy mô diện tích đất nhỏ hơn so với trước đây và do xác định diện tích trên bản đồ có độ chính xác cao hơn.